HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
-------------***-------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA VIỆT LAI 50
VỤ XUÂN TRÊN ĐẤT GIA LÂM - HÀ NỘI
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. HÀ THỊ THANH BÌNH
Bộ môn
: CANH TÁC HỌC
Sinh viên thực hiện
: PHAN THỊ CẨM NGỌC
Lớp
: K57-KHCTD
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân
tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo và các cán bộ
công tác tại bộ môn Canh tác học-Khoa Nông học- Học viện Nông nghiệp Việt
Nam.
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo PGS.TS.
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2013.Error:
Reference source not found
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam một số năm gần đây..............Error:
Reference source not found
Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu gạo của việt nam từ năm 1990 – 2014........Error:
Reference source not found
Bảng 3.1. Quy chuẩn QCVN 01-38-2010 của BNNPTNT về sâu bệnh hại..Error:
Reference source not found
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến tăng trưởng chiều cao cây của giống
VL50 vụ xuân 2016 trên đất Gia Lâm- Hà Nội Error: Reference source not found
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến sự thái ra lá của giống lúa VL50 vụ
xuân 2016 trên đất Gia Lâm- Hà Nội...............Error: Reference source not found
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh của giống lúa
VL50.................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ đẻ nhánh giống lúa VL50.......Error:
Reference source not found
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá (LAI).............Error:
Reference source not found
Bảng 4.6: ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng tích lũy chât khô DM của
giống lúa VL50.................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống
lúa VL50...........................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất của
giống lúa VL50.................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến đến năng suất và hệ số kinh tế của
iii
giống lúa VL50.................................................Error: Reference source not found
: Hiệu suất
HSKT
: Hệ số kinh tế
IRRI
: Viện nghiên cứu lúa quốc tế
LAI
: Chỉ số diện tích lá
NHH
: Nhánh hữu hiệu
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSSVH
: Năng suất sinh vật học
NSTT
: Năng suất thực thu
Lúa/gạo được xác định là cây lương thực thứ hai sau lúa mì, cung cấp
lương thực cho hơn 3,1 tỉ người trên thế giới và là cây lương thực đứng đầu ở
các nước Châu Á. Lúa là cây trồng quan trọng.. Sản phẩm lúa gạo là nguồn
lương thực nuôi sống phần đông dân số thế giới và có vai trò quan trọng trong
ngành công nghiệp chế biến cũng như ngành chăn nuôi.
Ở Việt Nam lúa là cây trồng chính cung cấp lương thực và là ngành sản
xuất truyền thống trong nông nghiệp. Với đặc điểm dân số Việt Nam thì lúa gạo
còn là sản phẩm đóng góp lớn trong quá trình xóa đói giảm nghèo
Ngày nay , khi dân số ngày càng tăng cao diện tích đất canh tác thu hẹp
dần cùng với sự phát triển của đất nước. Áp lực của dân số cùng với áp lực thu
hẹp diện tích đất trộng trọt vào sản xuất lương thực ngày càng cao.Vì thế việc
con người ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
nhằm lai tạo ra các giống lúa mới năng suất, chất lượng tốt có ý nghĩa rất lớn
trong giải quyết vấn đề này.
Có rất nhiều con đường chọn tạo giống lúa khác nhau có năng suất cao.
Song việc nghiên cứu và sử dụng ưu thế lai ở lúa tỏ ra là phương pháp hữu hiệu
nhất để nâng cao năng suất lúa hơn nữa trong thời gian tới.. Trong những năm
qua diện tích trồng lúa lai ở Việt Nam cũng như trên thế giới ngày một tăng. Ở
Việt Nam, việc áp dụng thành tựu lúa lai, lúa chất lượng cao đã có kết quả to
lớn. Lúa lai là một thành tựu lớn của ngành nông nghiệp cuối thế kỉ XX, năng
suất bình quân của lúa lai tăng khoảng 20% so với lúa thuần. Chính vì thế diện
tích trồng lúa lai tăng lên nhanh chóng, đến nay diện tích lúa lai đã chiếm
khoảng 75% đất trồng lúa.
Việt Lai là một thương hiệu lúa lai hai dòng của Viện Nghiên cứu Lúa Đại học Nông nghiệp Hà Nội, cũng là giống lúa lai đầu tiên sang nhượng bản
quyền sản xuất. PGS - TS Nguyễn Văn Hoan cùng cộng sự đã nghiên cứu thành
1
công giống lúa lai hai dòng thế hệ mới: Việt lai 50 (VL50) nhằm khắc phục
vùng trồng lúa có thể kéo dài từ 530 vĩ Bắc đến 100 vĩ Nam song phân bố chủ
yếu ở châu Á từ 300 vĩ Bắc đến 100 vĩ Nam. Hiện nay thế giới có 114 quốc gia
trồng lúa nhưng tập trung chủ yếu ở châu Á (chiếm 90%) với nhiều nước sản
xuất lớn như Trung Quốc Ấn độ Indonesia Bangladesh Việt Nam Thái Lan…
(Nguyễn Hữu Tề 1997).
Trong những thập kỷ qua loài người đang đứng trước nguy cơ bùng nổ về
dân số và theo FAO để đảm bảo mức tiêu dùng lương thực ổn định, mức tăng
sản lượng hằng năm tăng gấp 2 lần so với mức tăng dân số. Đến năm 2030 toàn
thế giới phải sản xuất lượng lúa gạo nhiều hơn khoảng 60% so với những năm
gần đây để đáp ứng nhu cầu tăng dân số trong tình trạng diện tích đất dành cho
nông nghiệp canh tác lúa gạo ngày càng bị thu hẹp. Trước tình hình đó, việc
đảm bảo an ninh lương thực trở thành vấn đề cấp thiết của xã hội nói chung và
các nhà tạo giống nói riêng.
3
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm
Năm
1965
1980
1995
1999
2000
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2,03
254,08
2,74
396,87
3,66
547,43
3,89
610,95
3,89
598,40
4,12
629,30
4,12
641,08
4,23
656,50
4,36
689,14
4,32
685,24
4,42
561,74
4,38
726,12
4,54
738,19
4,52
745,71
4,57
744,7
giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống
mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần
làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể. Năm 2014 năng suất lúa giảm 0,1% so với
năm 2013.
Tình hình sản xuất lúa gạo ở một số nước trên thế giới:
Năm 2014, Thái Lan xuất khẩu đến 10,5 triệu tấn gạo, phục hồi vị trí hàng
đầu thế giới. Thái còn tồn trữ nhiều hạng lúa trong các kho vựa độ 18 triệu tấn,
đã được thu mua với giá trợ cấp từ Chính phủ trước. Để làm giảm bớt gạo tồn
kho, Thái Lan liên tiếp hạ giá gạo xuất khẩu. Trong tháng 11, gạo 100%B còn
424 đô la/tấn Fob so với 435 đô la trong tháng 10. Trong tháng 12, giá gạo
xuống 423 đô la. Trong khi giá gạo hấp từ 425 xuống 407 đô la.
Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù năng suất và sản
lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng đến việc chọn tạo giống
có chất lượng gạo cao. Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập
5
ở nhiều tỉnh và các khu vực. Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới
của Thái Lan là: Khaodomali, Jasmin (Hương nhài)
Ấn Độ: Sản xuất lúa 2014 giảm 3% so với 2013, với 155,5 triệu tấn lúa
trên 38 triệu ha do mưa muộn, sau đó gặp lũ lụt và giông bão; nên xuất khẩu
không quá 9,5 triệu tấn gạo so với 10,5 triệu tấn 2013. Trong tháng 12, giá gạo
5% tấm là 395 đô la/tấn, gạo 25% tấm còn 354 đô la. Trong tháng giêng 2015,
giá gạo còn tiếp tục hạ xuống. Ấn Độ là một nước có diện tích trồng lúa đứng đầu
thế giới đồng thời Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” về
đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất, làm nâng cao
năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ.
Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm
1946 tại Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới
Philippin: Vào đầu những năm 1960, Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế
International Rice Research Institute (IRRI) đã được thành lập ở Philippin. Viện
này đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống
lúa các loại, tiêu biểu như các dòng IR, Jasmin. Đặc biệt vào thập niên 80 giống
IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể.
Châu Phi: Sản xuất lúa ở miền nam Sahara chỉ tăng từ 13,7 triệu tấn trong
2013 lên 14 triệu tấn trong 2014, hay tăng 1,5%. Tại Madagascar là nước sản
xuất gạo lớn ở châu lục này, chỉ sau Nigeria, sản xuất tăng 8%, nhưng vẫn còn
thấp hơn mức sản xuất trong 2012. Châu lục này vẫn còn nhập khẩu gạo hàng
năm với một số lượng lớn, khoảng 14 triệu tấn trong 2014 và có thể tăng 3%
trong 2015 hay 14,5 triệu tấn. Các nước nhập khẩu chính gồm có Nigeria,
Senegal và Nam Phi.
Tình hình sản xuất lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2013 được thể
hiện qua Bảng 2.2 sau:
7
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2013
Nước
Ấn Độ
Thái Lan
Nhật Bản
Việt Nam
Indonesia
Myanmar
Banglades
Trung Quốc
Brazil
Philippin
71,28
37,33
28,00
43,76
51,50
67,25
205,02
50,06
11,76
38,85
18,44
(Nguồn: FAOSTAT, 2015)
Trong 10 quốc gia trồng lúa có sản lượng trên 10 triệu tấn/năm đã có 9
nước nằm ở Châu Á, chỉ có 1 nước nằm ở châu Mỹ là Brazil ( Nam Mỹ). Trung
Quốc và Nhật Bản có năng suất cao vượt trội, đạt 67,25 tạ/ha ( Trung Quốc) và
67,28 tạ/ha ( Nhật Bản) mặc dù diện tích canh tác của Nhật Bản chỉ có 1,60 triệu
ha. Điều này có thể lý giải là vì Trung Quốc là nước đi đầu trong lĩnh vực phát
triển lúa và người dân nước này có tinh thần cần cù,có trình độ thâm canh cao.
Còn đối với Nhật Bản là nước có trình độ kĩ thuật cao, đầu tư lớn.
Tuy nhiên do dân số càng ngày càng tăng đặc biệt là ở các nước đang phát
triển (Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là yêu
cầu cấp bách phải được quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài.
Theo dự đoán, trong những năm tới tổng sản lượng lúa trên toàn thế giới
tăng 10 triệu tấn, chất lượng gao sẽ ngon hơn do tạo được nhiều giống mới có
năng suất, phẩm chất tốt đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao của con
người – Tạp chí sản xuất.
2.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam:
Nằm ở vùng Đông nam Châu Á, cây lúa là thế mạnh của nước ta, điều
kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho phát triển cây lúa. Có nhiều
lượng và hiệu quả kinh tế, Nhà nước luôn khuyến khích và mong muốn sản
phẩm của nông dân phải trở thành hàng hoá và người nông dân có thu nhập ổn
định. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhất là cơ cấu giống lúa cần khuyến khích
9
sự phát triển theo hướng nằm trong khuôn khổ của sự kết hợp giữa 4 nhà: Nhà
nước, nhà Doanh nghiệp, nhà Khoa học và nhà Nông. Sản phẩm làm ra phục
vụ cho thị trường hay nói một cách khác sản xuất ra sản phẩm theo tiếng gọi
của thị trường, đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Từ thủa đầu dựng nước
cây lúa đã được gắn liền với nền văn minh lúa nước trong suốt chiều dài lịch
sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cùng với thời gian diện tích và năng
suất lúa không ngừng được tăng lên rõ rệt, tổng diện tích lúa của nước ta từ
4,74 triệu ha năm 1970 tăng lên 7,66 triệu ha năm 2000 và giảm dần xuống còn
7,34 triệu ha vào năm 2005. Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình
đô thị hoá, công nghiệp hoá đã làm diện tích trồng lúa bắt đầu có dấu hiệu
giảm về diện tích, mặc dù sản lượng vẫn tăng do việc ứng dụng các TBKHKT
vào sản xuất làm tăng năng suất và sản lượng của lúa. Bên cạnh việc mở rộng
diện tích trồng lúa chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo,
Giống lúa là tiền đề của năng suất và chất lượng như Tám Ấp Bẹ, Tám xoan,
Dự, nếp cái Hoa vàng, nếp Hoà Bình, nếp Hải Phòng, Nàng Nhen, Nàng thơm
Chợ Đào đã được phục tráng và mở rộng trong sản xuất.
10
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam một số năm gần đây
Năm
1970
8,00
Sản lượng
(tạ/ha)
(triệu tấn)
19,0
9,00
34,8
22,59
42,5
32,55
49,5
36,34
48,9
35,80
49,1
35,90
52,3
38,73
52,3
38,95
53,2
39,99
55,0
42,4
56,3
43,66
55,7
44,03
năm 2012 tuy nhiên năng suất lại giảm chỉ còn 5,57 tấn/ha, sản lượng tăng hơn
so với năm 2012 0,37 triệu tấn và đạt 44,03 triệu tấn.
Năm 2014 diện tích trồng lúa cả năm tăng nhưng năng suất và sản lượng
giảm. Năng suất giảm 2 tạ/ha, sản lượng giảm 1,13 triệu tấn.
Từ sau công cuộc đổi mới từ sau năm 1990 đến nay sản lượng lúa gạo
liên tục tăng nhờ có giống lúa mới ngắn ngày đáp ứng được mở rộng diện tích
canh tác lúa hàng năm. Các kĩ thuật canh tác tốt đáp ứng trên phạm vi rộng sản
lượng năng suất tạ trên đơn vị diện tích ha ... tăng lên đáng kể. Tất cả các yếu tố
trên đã làm cho sản lượng lúa của nước ta đứng hàng đầu trên thế giới . Từ năm
1990 đến năm 2000 sản lượng lúa tăng từ 1923 triệu tấn lên tới 3252 triệu tấn
theo tổng cục thống kê sản lượng lúa đạt cao nhất năm 2014 ước tính sơ bộ đạt
4498 triệu tấn tăng khoảng 9360 nghìn tấn so với năm 2013 năm 2014 sản lượng
lúa tăng vượt bậc.
Cùng với sản lượng ngày càng tăng do năng suất lúa tăng liên tục từ 369
tạ/ha năm 1995 và đạt cao nhất năm 2014 sơ bộ đạt là 576 tạ/ha. Do áp dụng các
tiến bộ khoa học kĩ thuật. đóng góp đáng kể của những nghiên cứu thuộc lĩnh
vực nông nghiệp về kĩ thuật canh tác. Trong đó các giống lúa tốt chịu thâm
canh. các giống lúa ngắn ngày đóng vai trò đáng kể trong việc nâng cao năng
suất lúa. Từ đó đưa Việt Nam trở thành một trong số các quốc gia xuất khẩu gạo
hang đầu thế giới.
Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu gạo của việt nam từ năm 1990 – 2014
12
Năm
1990
1995
638
(Tổng cục thống kê www.gso.gov.vn)
Gạo là mặt hàng “ vị thế” của Việt Nam ( cổng thông tin chính phủ
3/10/2012). Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và trong một
phần tư thế kỷ qua đã đứng thứ hạng cao trên thế giới xuất khẩu gạo của Việt
Nam đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Thái Lan . Thành ông trong xuất khẩu
gạo Việt Nam đã đem lại cho đất nước hàng tỉ USD đồng thời cũng đảm bảo an
ninh lương thực thế giới.
Theo tổng cục thống kê lượng gạo xuất khẩu 146 triệu tấn vào năm 1990
đã tăng 105 triệu tấn vào năm 1995. Sau 10 năm ( 2005 ) lần đầu tiên Việt
Nam xuất khẩu 520 triệu tấn và đã mang về cho đất nước 13 tỷ USD. Và lần
đầu tiên Việt Nam vượt qua Thái Lan vào năm 2011 với sản lượng xuất khẩu
711 triệu tấn, đã đem về cho đất nước 366 tỷ USD. Đây là kết quả cao nhất của
Việt Nam trong nỗ lực đẩy mạnh ba mặt số lượng chất lượng và giá trị xuất
khẩu kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia và thị trường xuất khẩu gạo thế
giới.
Năm 2012 xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt được kết quả vượt mức
đáp ứng được yêu cầu đề ra là tiêu thụ kịp thời sản lượng hàng hóa của nông
dân giữ ổn định giá lúa gạo trong nước góp phần đảm bảo an ninh lương thực
cả năm 2012 nước ta đã xuất khẩu 802 triệu tấn gạo thu về 367 triệu USD tăng
1271% về lượng và tăng nhẹ 045 về kim ngạch so với năm 2011. Trung Quốc
là thị trường lớn nhất tiêu thụ gạo của Việt Nam với 209 triệu tấn tương đương
89843 triệu USD chiếm 2446% tổng kim ngạch. Thị trường lớn thứ 2 là
Philipines đạt 111 triệu tấn trị giá 47526 triệu USD chiếm 1294 tổng kim
13
đưa giá gạo tăng lên đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất đẩy mạnh nghiên
cứu khoa học kĩ thuật để áp dụng vào trong sản xuất nhằm mục đích để cải
thiện đời sống nhân dân nâng cao vị thế lúa gạo Việt Nam trên trường quốc tế.
2.1.3. Cơ sở khoa học của ruộng lúa năng suất cao
Theo Zhong và ctv (2003) khái niệm về “ruộng lúa khỏe- ruộng lúa năng
suất cao” được hình thành từ cơ sở của sự phối hợp chặt chẽ giữa đặc tính sinh
lý của cây lúa, cấu trúc tán lá với sự phát triển của bệnh hại do tác động của bón
phân và mật độ gieo cấy.
Trong kỹ thuật thâm canh lúa để đạt năng suất cao thì cần phải điều chỉnh
toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Cần chủ động các khâu như
chọn giống, các biện pháp canh tác (làm đất, bón phân, tưới nước..), phòng trừ
sâu bệnh hợp lý, chủ động trong công thức luân canh cây trồng… Cần có sự kết
hợp giữa quản lý dinh dưỡng và cây trồng để tạo ra một ruộng lúa phát triển tốt,
năng suất cao, có khả năng tự chống chịu sâu bệnh hại tốt hơn, đây đang là một
hướng mới có tính khả thi và hiệu quả cao
• Giống lúa: là một trong những yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng,
phát triển và năng suất lúa.
Những giống chịu điều kiện thâm canh cao, tiềm năng năng suất lớn
thường là những giống cứng cây, bán lùn và chịu phân tốt trong điều kiện thâm
canh. Ngược lại, những giống cho năng suất thấp thường là những giống chịu
phân kém, dễ bị lốp đổ, lá nhiều dẫn đến năng suất thấp.
Mặt khác những giống chịu thâm canh, tiềm năng năng suất cao thường là
giống có góc giữa thân và lá hẹp, lá đứng, mặt lá hình lòng mo.. do khi tăng mật
độ cấy hay trong điều kiện để nhánh cao các lá ít bị che khuất và có khả nang
quang hợp cao, tạo được chỉ số diện tích lá lớn đặc biệt vào thời kì sinh trưởng
sinh thực để cây lúa có khả năng tích lũy dinh dưỡng tạo sản phẩm quang hợp
cao.
hơn lúa thuần. Vì vậy khi gieo cấy lúa lai cần cấy thưa, số dảnh ít, khoảng cách
16
rộng hơn lúa thuần, đối với lúa lai sẽ giảm được lượng thóc giống trên cùng diện
tích so với cấy lúa thuần, năng suất lại cao hơn. Theo kết quả nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học với các giống lúa lai đã đưa ra kết luận trong các khâu kỹ
thuật được duy trì thì yếu tố mật độ cấy hợp lý vừa phải sẽ đạt năng suất cao
nhất.
Việc xác định mật độ cấy hợp lý sẽ đảm bảo được số nhánh thành bông
cao nhất và năng suất là tốt nhất, nhưng việc xác định mật độ cấy như thế nào
còn phụ thuộc vào từng giống, từng vùng khí hậu khác nhau không thể áp dụng
một cách máy móc, điều này sẽ làm ảnh hưởng tới năng suất/đơn vị diện tích
Với giống lúa ngắn ngày cần quản lý số nhánh hữu hiệu vừa phải để đảm
bảo số bông/m2, chiều dài bông và năng suất khong bị giẩm đồng thời cũng giữ
chỉ số diện tích lá vừa phải để không làm gia tăng số nhánh vô hiệu. Giảm số
nhánh vừa phải cũng làm giảm áp lực sâu bệnh
Như vậy, muốn tăng năng suất lúa không phải chỉ là tác động vào một yếu
tố nào đó mà cần phải tác động tổng hợp các yếu tố và cần phải nghiên cứu mối
quan hệ giữa các yếu tố trong quần thể ruộng lúa
• Quản lý dịch hại
Quản lý dịch hại theo biện pháp tổng hợp, kết hợp giảm giống, giảm phân
nên đã hạn chế số lần phun thuốc BVTV, năng suất lúa tăng, giảm giá thành sản
xuất lúa. Khi áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp ruộng lúa rất ít khi bị
nhiễm bệnh rầy nâu và đạo ôn, điều này tạo nên chất lượng hạt lúa tốt hơn, ít tồn
dư thuốc BVTV , góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe đồng thời góp phần xây
dựng nền nông nghiệp bền vững
2.2. Tình hình nghiên cứu lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
triển kỹ thuật và xây dựng cơ sở vật chất. Kết hợp 2 thế mạnh của bộ phận nhà
nước và tư nhân sẽ giúp cho lúa lai phát triển ngày càng bền vững
Hiện nay Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI tập trung vào lĩnh vực:
18