ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG PHÚC YÊN - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

SÁI THỊ THU HÀ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG PHÚC YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

SÁI THỊ THU HÀ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG PHÚC YÊN

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Cuối cùng, Tác giả muốn bày tỏ lời cảm ơn tới toàn thể gia đình đã động viên,
giúp đỡ Tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tác giả của Luận văn

Sái Thị Thu Hà

Sái Thị Thu Hà

CA120269


ĐHBK HN 

Luận văn Thạc sỹ
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN..4
1.1.

Lý luận chung về công tác hạch toán kế toán................................................4

1.1.1. Khái niệm về công tác hạch toán kế toán...................................................4
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa củacông tác hạch toán kế toán..........................................4
1.1.3. Nhiệm vụ của công tác hạch toán kế toán ..................................................5
1.1.4. Nội dung của công tác hạch toán kế toán...................................................6

2.3. Điểm mạnh, hạn chế và những nguyên nhân trong công tác hạch toán kế toán
................................................................................................................................74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2........................................................................................77
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN
KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG PHÚC YÊN.........................78
3.1. Định hướng phát triển của NHCTVN và NHCTPY đến năm 2015. ..............78
3.1.1. Định hướng phát triển của NHCTVN ......................................................78
3.1.2. Định hướng phát triển của NHCTPY.......................................................78
3.2. Định hướng hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam và Ngân hàng Công thương Phúc Yên............................79
3.3. Giải pháp hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tại Ngân hàng Công thương
Phúc Yên................................................................................................................82
3.3.1. Kiểm soát các bút toán hủy giao dịch.......................................................82
3.3.2. Hướng dẫn cụ thể hạch toán các tài khoản nội bộ...................................84
3.3.3. Bổ sung thêm các Báo cáo quản trị ..........................................................88
3.3.4. Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán..........................................................89
3.3.5. Đầu tư đổi mới công nghệ ........................................................................94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3........................................................................................98
KẾT LUẬN ..............................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................102
PHỤ LỤC ...............................................................................................................103
 

Sái Thị Thu Hà

CA120269


ĐHBK HN 


Đầu tư xây dựng cơ bản

GDV

Giao dịch viên

HĐQT

Hội đồng quản trị

HTKT

Hạch toán kế toán

KBNN

Kho bạc nhà nước

KPCĐ

Kinh phí công đoàn

KSV

Kiểm soát viên

KTV

Kế toán viên



Tổng giám đốc

TK

Tài khoản

TSC
TSCĐ

Trụ sở chính
Tài sản cố định

XDCB

Xây dựng cơ bản

Sái Thị Thu Hà

CA120269


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
 


còn góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt
động xuất nhập khẩu. Mặt khác, các dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất
lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (NHCTVN) là một
trong bốn Ngân hàng Thương mại Nhà nước lớn nhất nước ta, hoạt động kinh doanh
đa năng. Với chức năng là một ngân hàng, NHCTVN đã xác định được vai trò và vị
trí chủ đạo là một ngân hàng quốc doanh trong lĩnh vực công và thương nghiệp.
NHCTVN là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và
thương mại điện tử tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu quản trị kinh doanh. Trong bối
cảnh chung của cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu, NHCTVN bị tác động sớm
và cũng gặp không ít khó khăn. Bên cạnh đó, NHCTVN mới chuyển đổi từ ngân
hàng nhà nước sang ngân hàng thương mại cổ phần được hơn sáu năm vì vậy còn
rất nhiều vấn đề mà Ban lãnh đạo phải giải quyết để mô hình mới hoạt động thông
suốt, trong đó việc tăng cường hơn nữa công tác quản lý, đặc biệt chú trọng đến
hoàn thiện công tác hạch toán kế toán là điều mà Ban lãnh đạo đặc biệt quan tâm.
Với tham vọng hệ thống NHCTVN trở thành một tập đoàn tài chính ngân hàng hiện
đại, hiệu quả hàng đầu trong nước và quốc tế, lãnh đạo ngân hàng cũng nhận thấy
Sái Thị Thu Hà

CA120269


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

hạch toán kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố tình hình tài chính và
cách thức hoạt động cung cấp thông tin để Ngân hàng có những quyết sách kịp thời,
linh hoạt trong điều hành hoạt động kinh doanh. Vì vậy, công tác hạch toán kế toán
(HTKT) là vấn đề cần được quan tâm, giải quyết nhằm tạo ra một sự minh bạch,

ĐHBK HN 

khoa học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra qua các công trình nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh đó, Luận văn kết hợp với việc phỏng vấn các nhân viên, các nhà quản lý
tại đơn vị, khảo sát, phân tích các dữ liệu, các văn bản, qui trình của các ban ngành
và vận dụng vào điều kiện cụ thể, cơ chế cụ thể đối với NHCTPY để rút ra các kết
luận và đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện công tác HTKT.
5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Luận văn đã có rất nhiều ý nghĩa về cả lý luận cũng như về mặt thực tiễn, cụ thể:
Về lý luận: Luận văn đã nêu ra hệ thống hóa lý luận chung về hạch toán kế
toán, làm rõ các đặc điểm riêng của ngành Ngân hàng có tác động lớn đến hệ thống
hạch toán kế toán, qua đó rút ra những ứng dụng, những đề xuất về công tác hạch
toán cho các Ngân hàng nhằm hoạt động hiệu quả và an toàn hơn nữa.
Về thực tiễn: Luận văn đã đi vào khảo sát các yếu tố: hệ thống chứng từ, hệ
thống thông tin kế toán, hệ thống sổ sách kế toán, hệ thống KSNB bao gồm các thủ
tục kiểm soát trong Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Phúc
Yên nhằm phân tích thực trạng tổ chức HTKT, chỉ ra được những ưu điểm, đặc biệt
là yếu điểm và nguyên nhân của chúng, từ đó làm cơ sở để Luận văn đưa ra các giải
pháp thiết thực nhằm hoàn thiện công tác tổ chức HTKT tại NHCTPY nói riêng
cũng như đưa ra các ý kiến đề xuất mang tính gợi mở cho các Ngân hàng khác trong
ngành nói chung.
6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Luận văn được cấu trúc một cách hợp lý, bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác hạch toán kế toán.
Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán kế toán tại Ngân hàng Công
thương Việt Nam Phúc Yên.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tại
Ngân hàng Công thương Phúc Yên.

Sái Thị Thu Hà                                                      3                                                        CA120269 

khoa học kỹ thuật trong quản lý sẽ góp phần tiết kiệm nguồn nhân lực, nâng cao
chất lượng thông tin, chất lượng công việc từ đó tiết kiệm chi phí cho đơn vị.

 

Sái Thị Thu Hà                                                      4                                                        CA120269 


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

1.1.3. Nhiệm vụ của công tác hạch toán kế toán
Vậy đối tượng của HTKT là gì? Những phương pháp nghiên cứu nào được sử
dụng để nghiên cứu đối tượng HTKT? Đây là hai câu hỏi mà chúng ta luôn luôn đặt
ra khi thực hiện hạch toán kế toán. Từ cách hiểu về hạch toán kế toán thì chúng ta
thấy, đối tượng của HTKT là tài sản trong mối quan hệ với nguồn hình thành và quá
trình vận động của tài sản. HTKT sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa
học gồm bốn yếu tố (bốn phương pháp cụ thể) là chứng từ, đối ứng TK, tính giá,
tổng hợp - cân đối kế toán. Mỗi phương pháp có vị trí, chức năng nhất định song
giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống HTKT. Vì vậy,
trong hạch toán kế toán, mỗi phương pháp này là một yếu tố của hạch toán kế toán
và được sử dụng một cách tổng hợp và đồng bộ.
Với ý nghĩa tổ chức là mối liên hệ giữa các yếu tố của một hệ thống thì tổ
chức hạch toán kế toán là mối quan hệ qua lại theo một trật tự xác định giữa các yếu
tố chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán trong thông tin
và kiểm tra – kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính ở các doanh nghiệp, tổ chức
sự nghiệp và các cơ quan.
Theo đó, đối tượng của tổ chức hạch toán kế toán có thể xem xét trên các góc
độ khác nhau:

kiểm tra kiểm soát của hạch toán kế toán.
1.1.4. Nội dung của công tác hạch toán kế toán
Tại mỗi đơn vị thì tùy theo tình hình cụ thể tại đơn vị mình để tổ chức hạch
toán kế toán theo từng phần hạch toán cụ thể hoặc theo từng giai đoạn của quá trình
hạch toán kế toán. Tuy nhiên, từ khái niệm về tổ chức hạch toán kế toán đã trình
bày ở trên, thì tổ chức hạch toán kế toán ở mỗi đơn vị cần tạo ra mối liên hệ giữa
các yếu tố (chứng từ, đối ứng TK, tính giá, tổng hợp và cân đối) trên các phần hành
kế toán.
Nội dung việc tổ chức hạch toán kế toán trong từng yếu tố được xem xét
cụ thể:
Một là, tổ chức hệ thống chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán là những tài liệu
quan trọng mà đơn vị cần lưu giữ. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các đơn vị
đều phải được phản ánh, ghi chép đầy đủ trong chứng từ kế toán. Cơ sở duy nhất để
ghi vào tài khoản kế toán hay sổ kế toán là các chứng từ hợp lý, hợp lệ và hợp pháp.
Các chứng từ vừa là phương tiện để chứng minh tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh
tế phát sinh, vừa là phương tiện thông tin về kết quả nghiệp vụ kinh tế đó. Việc tổ
chức vận dụng hợp lý hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu có ý nghĩa quan trọng
Sái Thị Thu Hà                                                      6                                                        CA120269 


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

trong việc thu nhận được thực tế về các hoạt động sử dụng tài sản, vật tư và nguồn
kinh phí trong quá trình hoạt động của các đơn vị. Đây cũng là bước cơ bản ban đầu
bảo đảm việc các thông tin kinh tế tài chính được phản ánh đầy đủ và có thât. Công
tác tổ chức chứng từ kế toán đòi hỏi phải xác định số lượng, chủng loại chứng từ,
quy định thủ tục lập, luân chuyển và bảo quản lưu trữ chứng từ.
Trên thực tế, Bộ Tài chính đã ban hành hệ thống chứng từ mẫu làm căn cứ để

khác nhau thì có thể tiến hành mở chi tiết các tài khoản thành các tài khoản cấp III,
cấp IV... Từ đó hình thành một hệ thống tài khoản riêng cho đơn vị mình. Việc tổ
chức hệ thống tài khoản đảm bảo thống nhất với hệ thống tài khoản chung mà Nhà
nước ban hành đồng thời vẫn đảm bảo phù hợp với đặc thù riêng để đáp ứng được
yêu cầu kiểm soát nội bộ cũng như quản lý của đơn vị. Việc quy định mức độ chi
tiết cho các tài khoản tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, cũng như trình độ của cán bộ
kế toán và phương tiện kỹ thuật thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin kế toán của đơn
vị. Hiện nay, khoa học công nghệ thông tin đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác kế toán,
các đơn vị đều đã thực hiện công tác kế toán trên máy tính với độ xử lý thông tin
cao, do vậy các đơn vị có thể quy định được nhiều tài khoản chi tiết hơn, từ đó có
thể theo dõi chặt chẽ hơn các đối tượng quản lý kinh tế tài chính.
Ba là, tổ chức hệ thống sổ kế toán: Tất cả các đơn vị thuộc mọi loại hình kinh
tế, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nào đều phải mở, ghi chép cũng
như quản lý, lưu trữ và bảo quản sổ sách kế toán theo quy định của Luật Kế toán,
chế độ kế toán hiện hành và theo yêu cầu quản lý nội bộ nói riêng. Mỗi hình thức
ghi sổ kế toán được quy định kèm theo một hệ thống sổ kế toán liên quan phù hợp.
Do vậy, khi tổ chức hệ thống sổ kế toán, đơn vị cần phải lựa chọn hình thức kế toán
phù hợp với đơn vị, từ đó đơn vị sẽ cụ thể hóa các sổ kế toán theo hình thức kế toán
đã lựa chọn, phù hợp với quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng
như yêu cầu quản lý và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ kế toán trong
đơn vị trong điều kiện trang bị kỹ thuật tính toán cho phép.
Tuy nhiên, tất cả các loại sổ kế toán tổng hợp của đơn vị vận dụng phải tuân
thủ mọi nguyên tắc cơ bản về các loại sổ về kết cấu, mối quan hệ, sự kết hợp giữa
các loại sổ, trình tự cũng như kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán. Còn các sổ chi
tiết thì mang tính hướng dẫn, tùy tình hình cụ thể tại mỗi đơn vị mà cụ thể hóa để
phản ánh thông tin chi tiết theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị. Yêu cầu của việc
thiết kế hệ thống sổ chi tiết quan trọng nhất là phải đảm bảo thuận lợi cho việc ghi
sổ kế toán tổng hợp, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu đồng thời cung cấp được các thông
tin để tính giá hàng hoá, dịch vụ cho các nhà quản trị đơn vị. Việc tổ chức hệ thống
Sái Thị Thu Hà                                                      8                                                        CA120269 

chi tiết, cụ thể và chính xác nhất phục vụ cho công tác quản trị nội bộ đơn vị.
Việc thiết kế tốt hệ thống các báo cáo tài chính cũng như các báo cáo quản trị
sẽ giúp các đơn vị có hình ảnh tốt hơn trong mắt các nhà đầu tư, quản lý hoạt động
kinh doanh của đơn vị hiệu quả hơn, năng suất hơn.

Sái Thị Thu Hà                                                      9                                                        CA120269 


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

Năm là, tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy bao gồm những nội dung
chính: xác định mô hình tổ chức bộ máy kế toán và phân công lao động trong bộ
máy kế toán. Việc tổ chức thực hiện các chức năng nhiệm vụ hạch toán kế toán
trong một đơn vị hạch toán kế toán do bộ máy kế toán đảm nhiệm. Do vậy, cần thiết
phải tổ chức hợp lý bộ máy kế toán cho đơn vị trên cơ sở định hình được khối lượng
công tác kế toán cũng như chất lượng cần phải đạt về hệ thống thông tin kế toán.
Tùy theo quy mô và đặc điểm về tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp mà
tổ chức bộ máy kế toán ở các đơn vị được tổ chức theo các hình thức cơ bản sau:
Mô hình I: Tổ chức bộ máy kế toán tập trung: (tổ chức kế toán một cấp). Theo
mô hình này, toàn bộ việc tổ chức hạch toán kế toán được tập trung tại trung tâm.
Chỉ có một phòng kế toán để đảm nhận tổ chức hạch toán kế toán của toàn đơn vị.
Ở các bộ phận khác không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân
viên làm nhiệm vụ hướng dẫn kiểm tra công tác kế toán ban đầu, thu nhận kiểm
tra chứng từ, ghi chép sổ sách, hạch toán nghiệp vụ phục vụ cho nhu cầu quản lý
sản xuất kinh doanh của từng bộ phận đó, lập báo cáo nghiệp vụ và chuyển
chứng từ cùng báo cáo về phòng kế toán trung tâm để xử lý và tiến hành công tác
kế toán (tại các đơn vị, bộ phận trực thuộc không mở sổ sách và hình thành bộ
máy nhân sự, kế toán riêng). Mô hình kế toán tập trung phù hợp với các đơn vị

Mô hình kế toán hỗn hợp: hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung
vừa phân tán. Đây là mô hình kế toán kết hợp của cả hai hình thức kế toán tập
trung và mô hình kế toán phân tán, bộ máy tổ chức theo hình thức này gồm phòng
kế toán trung tâm của doanh nghiệp và các bộ phận kế toán hay nhân viên kế toán
ở các đơn vị - bộ phận khác. Phòng kế toán trung tâm thực hiện các nghiệp vụ
kinh tế liên quan toàn doanh nghiệp và các bộ phận khác không tổ chức kế toán,
đồng thời thực hiện tổng hợp các tài liệu kế toán từ các bộ phận khác có tổ chức
kế toán gửi đến, lập báo cáo chung toàn đơn vị, hướng dẫn kiểm tra toàn bộ công
tác kế toán, kiểm tra kế toán toàn đơn vị. Các bộ phận kế toán ở các bộ phận khác
thực hiện công tác kế toán tương đối hoàn chỉnh các nghiệp vụ kế toán phát sinh ở
bộ phận đó theo sự phân công của phòng kế toán trung tâm. Các nhân viên kế toán
ở các bộ phận có nhiệm vụ thu thập chứng từ, kiểm tra và có thể xử lý sơ bộ
chứng từ, định kỳ gửi chứng từ kế toán về phòng kế toán trung tâm.
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán này thường phù hợp với những đơn vị có
qui mô lớn, có nhiều đơn vị ở cách xa nhau nhưng các bộ phận phụ thuộc có sự
phân cấp quản lý khác nhau thực hiện công tác quản lý theo sự phân công đó.

Sái Thị Thu Hà                                                      11                                                        CA120269 


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

Từ đó, căn cứ và đặc điểm hoạt động của mình, các đơn vị sẽ lựa chọn mô
hình tổ chức bộ máy kế toán cho phù hợp với tình hình thực tế.
Bộ máy kế toán trên góc độ tổ chức lao động kế toán là tập hợp đồng bộ các
cán bộ, nhân viên kế toán để đảm bảo thực hiện khối lượng công tác kế toán thực
hiện các phần hành kế toán với đầy đủ các chức năng thông tin và kiểm tra hoạt
động của đơn vị. Mỗi cán bộ, nhân viên đều phải được quy định rõ chức năng,

1.1.5. Nguyên tắc của công tác hạch toán kế toán
Công tác hạch toán kế toán khoa học sẽ có tác dụng quan trọng trong việc tiết
kiệm lao động, giảm chi phí nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt các chức năng thông
tin và kiểm tra ở đơn vị. Muốn vậy, trong hoạt động thực tiễn công tác tổ chức hạch
toán kế toán phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, trước hết đó là những
nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận như: nguyên tắc thực thể kinh doanh,
nguyên tắc hoạt động liên tục, nguyên tắc thước đo tiền tệ, nguyên tắc kỳ kế toán,
nguyên tắc khách quan, nguyên tắc giá phí, nguyên tắc doanh thu thực hiện, nguyên
tắc phù hợp, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc công khai, nguyên tắc thận trọng và
nguyên tắc trọng yếu. Bên cạnh đó, muốn thực hiện tốt được vai trò của mình trong
công tác quản lý thì công tác tổ chức hạch toán kế toán ở đơn vị còn phải tuân theo
các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tổ chức hạch toán kế toán phải tuân thủ những qui định, phù hợp với
các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước, đáp ứng được những yêu cầu của quá
trình hội nhập, phát triển của nền tài chính, tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán,
chính sách, chế độ thể lệ về tài chính, kế toán do Nhà nước ban hành;
Thứ hai, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản
xuất kinh doanh cũng như đặc điểm tổ chức quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động
của đơn vị;
Thứ ba, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với yêu cầu và trình độ
chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán trong đơn vị;
Thứ tư, tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả..
1.2. Tổng quan về công tác hạch toán kế toán tại các Ngân hàng Thương mại
1.2.1. Đặc điểm chung về tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng Thương mại
có ảnh hưởng đến tổ chức hạch toán kế toán
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chính gồm các nghiệp
vụ nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng.
Trên thế giới hiện nay, hệ thống ngân hàng được chia thành 2 cấp: Ngân hàng
trung ương (ngân hàng cấp 1) và các ngân hàng trung gian (ngân hàng cấp 2).
Sái Thị Thu Hà                                                      13                                                        CA120269 

Các ngân hàng trung gian là các ngân hàng không có chức năng phát hành
tiền, mà chỉ làm trung gian tín dụng và là trung gian thanh toán trong nền kinh tế,
đây là một mắt xích quan trọng có chức năng kết nối giữa Ngân hàng trung ương
với nền kinh tế cũng như là cầu nối để những người có nguồn tiền nhàn rỗi và
những người cần vốn để đầu tư trong xã hội gặp nhau.
Sái Thị Thu Hà                                                      14                                                        CA120269 


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

Ở nước ta hiện nay, các ngân hàng trung gian gồm: Các NHTM và các ngân
hàng trung gian khác như: Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách – Xã hội và
các TCTD hợp tác. Trong đó, mỗi loại hình ngân hàng trung gian cũng lại có những
điểm khác biệt, có NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận; có ngân hàng lại hoạt
động mang tính chất phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở
tập trung vốn cho những khu vực kinh tế thiết yếu có tính chất quyết định đến sự
phát triển KTXH của quốc gia, khi đó tại các tổ chức này thì mục tiêu lợi nhuận chỉ
là thứ yếu; cụ thể nhất chúng ta có thể thấy: Ngân hàng Chính sách - Xã hội hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận mà phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm
thực hiện các chính sách KTXH nhất định của quốc gia; các TCTD hợp tác được
thành lập theo nguyên tắc tự nguyện bằng vốn góp của các thành viên và chủ yếu
cho các thành viên vay nhằm mục tiêu hỗ trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh.
Tại các ngân hàng trung gian (ngân hàng cấp 2), nguồn vốn chủ yếu là tiền gửi
các TCKT, dân cư, ngoài ra có vốn huy động thông qua phát hành các GTCG, vốn
vay NHNN, vay các TCTD trong và ngoài nước, vốn chủ sở hữu; tài sản chủ yếu là
cho vay đối với nền kinh tế, ngoài ra còn có tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tại
các TCTD khác, các khoản đầu tư tài chính khác như đầu tư chứng khoán, TSCĐ...
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý điều hành của các ngân hàng trung gian bao gồm:

xác, trung thực và kịp thời.
Thứ hai, ngân hàng là đơn vị kinh doanh tiền tệ, do vậy hoạt động của ngân
hàng đã tập trung được một khối lượng vốn rất lớn của xã hội, số vốn này luôn biến
động không ngừng hàng giờ, hàng ngày. Vì vậy, tổ chức hạch toán kế toán ngân
hàng phải đảm bảo có độ chính xác và tính kịp thời rất cao để đáp ứng được yêu cầu
hạch toán của ngân hàng cũng như của toàn bộ nền kinh tế. Nếu như các doanh
nghiệp, các đơn vị tổ chức kinh tế khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế thì không nhất
thiết phải vào sổ kế toán ngay (có thể tùy theo tình hình cụ thể của đơn vị để xác
định thời gian cập nhật vào sổ sách kế toán) hoặc định kỳ tiến hành vào sổ kế toán
thì ngược lại, tại ngân hàng công việc này phải tiến hành đồng thời, ngay tức khắc
khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Khi tiếp nhận chứng từ, nhân viên kế toán ngân hàng tiến hành kiểm soát tính
hợp lý, hợp lệ của chứng từ, nếu chứng từ đủ điều kiện thì kế toán viên thực hiện
nghiệp vụ trên hệ thống ngay, chúng được phản ánh ngay lập tức vào sổ kế toán
thích hợp để kiểm soát số dư tài khoản hạn mức sử dụng của khác hàng để chuẩn bị
sẵn sàng cho giao dịch mới. Như vậy, công tác tổ chức hạch toán kế toán tại các đơn

Sái Thị Thu Hà                                                      16                                                        CA120269 


Luận văn Thạc sỹ

ĐHBK HN 

vị trong ngành ngân hàng được tiến hành đồng thời giữa việc kiểm soát chứng từ và
ghi sổ kế toán ngay khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Các đặc điểm khác biệt về tổ chức bộ máy cũng như đặc thù hoạt động của các
ngân hàng với các ngành kinh tế khác có ảnh hưởng rất lớn tạo ra những nét đặc
trưng riêng của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như tổ chức hạch toán kế toán tại
các ngân hàng. Chúng ta sẽ thấy điều này qua phần trình bày tiếp theo về kiểm soát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status