PHẦN MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá là một khái niệm mang tính tương đối. Trong mỗi thời kỳ
lịch sử khác nhau, trong mỗi nước với điều kiện kinh tế chính trị xã hội khác nhau
thì nội dung công nghiệp hoá khác nhau. Nhưng với mọi nước, công nghiệp hoá
đều có một vai trò chung hết sức quan trọng: là con đường tất yếu để đưa đất nước
thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, trở thành nước có nền kinh tế văn minh hiện đại.
Với nước ta công nghiệp hoá là cách thức duy nhất để xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, bảo
đảm cho thời kỳ quá độ được vững chắc, đúng hướng. Với ý nghĩa đó Đảng ta
luôn xác định: Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ.
Ngày nay, tình hình thế giới đang có nhiều biến đổi hết sức phức tạp.
Đặc biệt với sự tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập và những thành tựu to
lớn do cuộc cách mạng khoa học công nghệ mang lại đã làm thay đổi nội
dung của công nghiệp hoá. Các nước hoàn toàn có thể thay đổi tư duy về công
nghiệp hoá với xu hướng rút ngắn, thực hiện những bước nhảy vọt để đạt
được mục tiêu công nghiệp hoá mà không phải trải qua những bước tuần tự từ
nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Chính vì vậy, về
mặt lý luận cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung phát triển những vấn đề mới
về công nghiệp hoá để cho phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế.
Đồng thời qua dó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho giai đoạn sau.
Mặt khác để thấy rõ quá trình đổi mới tư duy của Đảng về công
nghiệp hoá là hoàn toàn phù hợp và kịp thời. Trên cơ sở đó, nhận thức rõ
hơn về vai trò của việc tiếp tục đổi mới tư duy về công nghiệp hoá trong
giai đoạn mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh.
Với ý nghĩa đó chúng tôi chọn chuyên đề “Quá trình đổi mới tư duy của
Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa từ 1991 đến
2001. Thành tựu và kinh nghiệm”.
Phần 1:
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong đó có vấn đề công nghiệp hoá.
Tuy nhiên cần thấy rằng nội hàm của công nghiệp hoá luôn có sự thay
đổi cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học va công
nghtrong thời đại cuộc cách mạng khoa học công nghệ phat triển như vũ bão.
Chính vì vậy, nhận thức, tư duy chỉ thực sự phù hợp và kịp thời khi dựa trên
thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn. Muốn vậy, chỉ có cách duy nhất là phải
thường xuyên đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy, làm cho chủ trương chính
sách không bị lạc hậu so với thực tiễn. Có vậy mới đảm bảo cho đường lối
của Đảng luôn luôn đúng, luôn hợp quy luật, thuận lòng người để nhanh
chóng đi vào cuộc sống, góp phần quyết định vào thắng lợi của công cuộc
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa xây dựng cơ sở vật chất thời kỳ quá độ.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với những thành tựu to lớn của khoa
học mang lại, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện đi tắt đón đầu, từng bước
rút ngắn về khoảng cách trình độ phát triển kinh tế so với các nước phát triển
trên thế giới. Nhưng với điều kiện phải đổi mới tư duy về công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước một cách phù hợp và kịp thời. Điều đó đặt ra yêu cầu
công tác tư tưởng lý luận của Đảng là phải liên tục tổng kết thực tiễn, phát
triển lý luận, đổi mới tư duy, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội nói chung và về công nghiệp hoá xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội nói riêng.
2. Xuất phát từ thực trạng tư duy về công nghiệp hoá của Đảng Cộng
sản Việt Nam trước 1991
Nhận thức rõ được vai trò của đổi mới tư duy đối với sự nghiệp phát
triển kinh tế đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã xác
định; phải đổi mới; và sự nghiệp đổi mới đó phải bắt đầu từ đổi mới tư duy,
trước hết là tư duy kinh tế. Song đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận
những thành tựu lý luận đã đạt được mà trái lại chính là phải bổ sung và phát
triển những thành tựu ấy. Đại hội cũng nhấn mạnh: phải đẩy mạnh công tác
dùng và sản xuất hàng xuất khẩu.
Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, căn cứ vào tình hình thế giới và
trong nước, Đại hội VI xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của
những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình
kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Đại hội đã đề
ra nhiều phương hướng, nội dung quan trọng. Trong đó nhấn mạnh: Trong
những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5
năm 1986 - 1990 phải thực sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện
cho được ba chương trình, mục tiêu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu. Những chương trình mục tiêu trên được Đại hội xác định
chính là sự cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
trong chặng đường đầu tiên. Với nội dung công nghiệp hoá nói trên, Đại hội
VI đã đánh dấu một bước mới nhận thức về tư duy về công nghiệp hoá hết
sức quan trọng của Đảng ta. Trong đó quan trọng nhất là đổi mới tư duy về
nông nghiệp, về vai trò của nông nghiệp trong việc đáp ứng những nhu cầu
cấp bách về lương thực thực phẩm và trong việc thực hiện ba chương trình
mục tiêu kinh tế lớn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu một bước quan
trọng trong tư duy của Đảng về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ
quá độ. Đó là kết quả quá trình không ngừng tìm tòi thử nghiệm của Đảng ta từ
giai đoạn trước 1986. Cùng với những quan điểm trước trong các kỳ đại hội, đây
thực sự là nền tảng để Đảng ta tiếp tục hoàn chỉnh đường lối đổi mới nói chung và
tư duy về công nghiệp hoá nói riêng trong giai đoạn tiếp theo.
3. Xuất phát từ đặc điểm yêu cầu của tình hình trong giai đoạn mới
Tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và sự hình
thành xã hội thông tin đã tác động mạch mẽ đến đời sống kinh tế xã hội của
mọi nước trên thế giới. Mặt khác,quá trình toàn cầu hoá kinh tế gắn với quá
trước mắt đưa nước ta từng bước phát triển đi lên thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế xã hội.
II. Đại hội lần thứ VII (6/1991) của Đảng và quá trình đổi mới tư
duy về công nghiệp hoá từ 1991 đến 1996
1. Đại hội lần thứ VII của Đảng quan niệm về công nghiệp hoá
Bước vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 sự khủng hoảng và đi
đến sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã
có sự ảnh hưởng xấu đến tình hình đất nước ta. Cùng với đó chủ nghĩa đế
quốc vẫn tiếp tục chống phá điên cuồng trên nhiều lĩnh vực đã gây cho chúng
ta những khó khăn nhất định. Mặc dù vậy với đường lối đúng đắn của Đại hội
VI tình hình kinh tế xã hội đã từng bước đi vào ổn định. Mọi mặt đời sống
kinh tế xã hội đã có bước phát triển, vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản
lý của Nhà nước được tăng cường. Trước những biến đổi mau lẹ và phức tạp
của tình hình tư duy lý luận cũng phải được bổ sung, phát triển cho phù hợp.
Trên cơ sở những nhận thức trước đó, Đại hội VII tiếp tục bổ sung, phát triển
đường lối đổi mới của Đại hội VI trên nhiều lĩnh vực trong đó có công nghiệp
hoá. Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công nghiệp hoá đối với quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội VII tiếp tục khẳng định công nghiệp
hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, coi đây là điều kiện, con đường
để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Bằng quan niệm
đúng đắn như vậy, Đảng ta khẳng định: “Phát triển lực lượng sản xuất, công
nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông
nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã
hội và cải thiện đời sống nhân dân”. Sự khẳng định đó cho thấy nhận thức của
Đảng ta về công nghiệp hoá ngày càng sáng tỏ và đúng đắn hơn, đây chính là
sự kế thừa, phát triển những nhận thức trước đó về công nghiệp hoá.
Nội dung nhiệm vụ trọng tâm được Đại hội xác định:
Một là, phát triển lực lượng sản xuất: Đây là nhiệm vụ trung tâm hàng
Về mặt lý luận, có thể nói Đại hội VII đã thể hiện một tư duy rất mới về
công nghiệp hoá. Không chỉ kế thừa những nhận thức đúng đắn trước đó mà
còn có sự bổ sung, phát triển làm cơ sở cho những nhận thức tiếp theo. Trên
thực tế những nhận thức đó đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, từng bước đưa mục tiêu đến thắng lợi.
2. Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994)
Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới và tư duy mới của Đảng về công
nghiệp hoá của Đại hội VII, hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá
VII (1/1994) đã chủ trương “đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát
triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Lần đầu tiên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn liền với nhau, đây là
sự phát triển của Đảng ta. Hội nghị đề ra chủ trương thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hội nghị khẳng định
trong những năm tới, trong khi tiếp tục chăm lo củng cố và ổn định đời sống
kinh tế xã hội, chúng ta cần và có điều kiện đưa đất nước chuyển dần sang thời
kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều kiện mà hội
nghị chỉ ra đó là do yêu cầu thực hiện nghị quyết đại hội VII nhất là mục tiêu
đến năm 2000 tăng gấp đôi tổng sản phẩm trong nước. Đồng thời trong 3 năm
liền, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế tạo ra tiền đề quan
trọng để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo quan điểm của hội nghị đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ là nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, không
tách rời trong quá trình phát triển của đất nước. Chính vì vậy, nhiệm vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà là
sự chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế
quốc dân theo hướng công nghiệp tiến bộ; không chỉ đi những bước tuần tự
mà còn kết hợp đồng thời các thành tựu trên nhiều lĩnh vực, có những mũi
nhọn có thể đi tắt đón đầu, không chỉ áp dụng công nghệ tiên tiến của thế giới
nghiệp nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có
điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường để phát huy tác dụng nhanh và có
hiệu quả cao”. Thực hiện chủ trương, phương hướng trên nhằm tạo cơ sở cho
các bước tiếp theo đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn. Hội nghị còn xác định các yêu cầu và giải pháp cụ thể về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời gian 1994 đến cuối thập kỷ 90.
3. Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
(7/1994)
Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII về
đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ ngày 25 đến 30/7/1994
Hội nghị Trung ương lần thứ VII tập trung bàn về chủ trương, chính sách phát
triển công nghiệp, công nghệ và xây dựng giai cấp công nhân nhằm đẩy tới
một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị đã nhất trí thông
qua nghị quyết “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong
giai đoạn mới”.
Điểm mới trước tiên phải nói đến lần đầu tiên Đảng ta đưa ra khái niệm
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đó là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội, từ
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa
trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra
năng suất lao động xã hội cao.
Trên cơ sở phân tích tình hình công nghiệp, công nghệ và giai cấp công
nhân trong mấy chục năm qua, hội nghị đã xác định mục tiêu và đưa ra các
quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hội nghị khẳng định “Mục tiêu
lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là biến nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý,
1. Đại hội lần thứ VIII (6/1996) của Đảng nhận thức về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ phát triển mới
Đến giữa những năm 90 tình hình kinh tế - xã hội đất nước có nhiều biến
đổi to lớn. Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới chúng ta đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn cho phép chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong bối cảnh đó, Đại hội VIII của
Đảng đã diễn ra, đánh dấu một mốc mới trong tiến trình phát triển của cách
mạng, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Đại hội cho rằng nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá
độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã cơ bản hoàn
thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Điều dó cho thấy tư tưởng về sự phân kỳ quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ngày càng được phát triển hơn. Sự phát triển đó không chỉ
dừng lại ở chỗ khẳng định sự kết thúc của chặng đường đầu, bước vào chặng
đường tiếp theo mà còn thể hiện ở chỗ làm rõ nội dung cơ bản của chặng
đường mới này. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Đại hội
VIII của Đảng xác định được cụ thể hoá bằng hệ thống các mục tiêu, quan
điểm chỉ đạo, nội dung và các giải pháp chủ yếu. Trước hết mục tiêu cần đạt
tới là “xây dựng nước ta t thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh”. Bên cạnh việc xác định mục tiêu cơ bản lâu dài của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, Đại hội cũng xác định mục tiêu đến năm 2020 đó là “đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Đặc biệt Đại hội đã xác
định những tiêu chí có bản cần phải đạt tới. Đây là vấn đề hết sức cơ bản quan
trọng để định hướng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà các văn
kiện, nghị quyết trước của Đảng chưa chỉ ra được. Đó là các tiêu chí cơ bản
Năm là: lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định
phương án phát triển, lưạ chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu
để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có.
Sáu là: kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh.
. Mỗi quan điểm được Đại hội bổ sung phát triển có ý nghĩa chỉ đạo,
định hướng cho các lĩnh vực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Thực hiện đúng các quan điểm sẽ là điều kiện tiên quyết để huy động
sức mạnh tổng hợp của cả đất nước vào thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Các quan điểm lại có sự tác động qua lại lẫn nhau trong một
chỉnh thể thống nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do
vậy, trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải quán
triệt và thực hiện đầy đủ các quan điểm chỉ đạo mới đưa sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại
hội đề ra.
Về nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho những năm còn lại của
thập kỷ 90 lần đầu tiên được Đảng ta xác định. Đó là “đặc biệt coi trọng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông,
lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản; phát triển
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Nâng cấp, cải tạo mở
rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, trước hết ở
những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển. Xây dựng có
chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp thiết, có
điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và có hiệu
quả cao. Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ. Đẩy mạnh các hoạt động
kinh tế đối ngoại. Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến nông,
lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu - khí, một số ngành cơ khí chế tạo,
công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, du lịch. Phát triển mạnh sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ”.
Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (12/1997) đã ra một
nghị quyết quan trọng “tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phấn đấu hoàn thành mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2000”. Trên cơ sở
kế thừa những nhận thức trước đó, Nghị quyết đưa ra tư tưởng chỉ đạo xuyên
suốt với 6 chủ trương giải pháp lớn.Sự ra đời của Nghị quyết đã đánh dấu một
bước chuyển rất lớn, bao quát được những đặc điểm mới tích cực góp phần
vào quá trình chỉ đạo thực hiện các mục tiêu lớn của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Nghị quyết thể hiện quá trình không ngừng đổi mới cả nhận thức và
hành động của Đảng ta.
2. Đại hội IX (4/2001) của Đảng bổ sung phát triển tư duy về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trải qua quá trình nhận thức lâu dài, đến đại hội IX tư duy của Đảng về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã từng bước được phát triển, đi vào quá trình
tổ chức thực hiện. Những thành tựu quan trọng đạt được vào cuối những năm
90 đã chứng minh cho sự đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế xã hội.
Với ý nghĩa đó, Đại hội IX tiếp tục trung thành với đường lối đổi mới, khẳng
định phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại hội IX của Đảng đã hoạch định đường lối phát triển kinh tế và chiến
lược kinh tế - xã hội nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Đại hội khẳng định “phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
nhiệm vụ trung tâm “tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần
thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” tiếp tục phát triển và đưa
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới”.
Đường lối phát triển kinh tế mà Đại hội IX xác định: "Đẩy mạnh công
đất nước. Thông qua quá trình giao lưu, hợp tác đào tạo và phát triển khoa
học công nghệ để từng bước tiếp cận với công nghệ tiên tiến khoa học hiện
đại của thế giới. Khoa học xã hội và nhân văn không ngừng được đầu tư
nghiên cứu mang lại hiệu quả thiết thực đó là cung cấp những luận cứ khoa
học cho việc hoạch định chủ trương đường lối chính sách của Đảng. Cùng với
khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo đã trở thành quốc sách hàng đầu,
không ngừng góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài
ngày càng dồi dào về số lượng, có chất lượng cao góp phần đẩy mạnh phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Nhờ có quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà kinh tế đối ngoại được
tăng cường và phát triển. Với đặc điểm tình hình đất nước đi lên từ một nền
nông nghiệp lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề của chiến tranh muốn tiến nhanh
chúng ta phải mở rộng các hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế về khoa học công
nghệ để tận dụng được tối đa nguồn vốn và kỹ thuật của các nước đi trước nhằm
đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, kim
ngạch xuất khẩu ngày một tăng lên, giảm tối đa của các mặt hàng nhập khẩu mà
chúng ta có khả năng sản xuất. Chúng ta đã bình thường hoá quan hệ với Mỹ và
các nước phương Tây tạo ra thị trường rộng lớn và những bạn hàng tin cậy. Đây
là một thành tựu quan trọng, đặc biệt chúng ta đã tham gia vào các tổ chức quốc
tế, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung vì hoà bình và ổn định.
Như vậy với sự nỗ lực cố gắng to lớn của toàn Đảng, toàn dân ta, sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Đất nước từng bước vượt qua những khó khăn thử thách đạt tốc độ tăng
trưởng cao và ổn định. Nền kinh tế có sức cạnh tranh khá trên thị trường quốc
tế, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại, hợp lý. Nền công
nghệ được từng bước đổi mới theo hướng hiện đại; các cân đối chủ yếu trong
nền kinh tế có sự điều chỉnh thích hợp để duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế
và ổn định đời sống nhân dân; kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển, sự nghiệp
phù hợp. Mặt khác Đảng ta luôn giữ vững được nguyên tắc, mục tiêu chiến
lược của cách mạnh, bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Không ngừng tổng kết thực tiễn để bổ sung phát triển đường lối
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tổng kết thực tiễn nghiên cứu lý luận là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của Đảng ta. Trong đó lĩnh vực công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi
phải được quan tâm thường xuyên. Vì đây là lĩnh vực chịu tác động sâu sắc
của tình hình kinh tế chính trị, khoa học trên thế giới. Tổng kết thực tiễn giúp
cho Đảng ta tránh được những sai lầm khuyết điểm trong hoạch định chính
sách, phương hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời qua đó bổ sung
phát triển thêm những vấn đề mới cho phù hợp với tình hình trong nước và
quốc tế nhằm hoàn chỉnh đường lối đổi mới.
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhất là trong thời kỳ 1991 đến nay Đảng ta luôn quan tâm đến công tác
nghiên cứu lý luận tổng kết thực tiễn. Do vậy, nhận thức về công nghiệp hoá
của Đảng ngày càng rõ ràng và đúng đắn hơn.
3. Nắm vững mục tiêu của cách mạng và định hướng xã hội chủ
nghĩa trong xác lập phương hướng tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, một
trong những nguyên tắc hàng đầu là phải nắm vững mục tiêu cách mạng Việt
Nam và những quyên tắc cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đây là yếu tố bảo đảm cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đạt được mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như Đảng ta đã
xác định trong các kỳ đại hội. Trong bất kỳ tình huống nào, nội dung, phương
pháp tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải xuất phát từ mục tiêu chiến
lược của cách mạng Việt Nam, phải hướng vào thực hiện mục tiêu đó và phải
đảm bảo giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa.
Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là một vấn đề lớn trong đường lối của
Đảng ta. Trong giai đoạn 1991 - 2001, tư duy về công nghiệp hoá không
ngừng được đổi mới, phát triển và hoàn thiện đáp ứng với yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở kế thừa lý luận và kinh
nghiệm qua nhiều năm, Đảng ta luôn có quan điểm, chủ trương, chính sách
luôn đề ra đúng đắn, khoa học, mục tiêu phù hợp với tình hình đất nước.
Quá trình đổi mới tư duy là một quá trình diễn ra lâu dài, trải qua nhiều
khó khăn phức tạp phải không ngừng tổng kết thực tiễn để phát triển. Chính
vì vậy, để có được một quan niệm đúng đắn không phái là dễ dàng. Từ khi
Đảng ta đưa ra quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến khi đẩy mạnh
sự nghiệp đó luôn là sự đấu tranh lý luận gay gắt để có được nhận thức đúng
nhất. Thấy được vai trò to lớn của tư duy lý luận đối với việc chỉ đạo toàn bộ
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thu được những thành tựu quan trọng,
có tính chất bước ngoặt của sự nghiệp này. Đây chính là cơ sở để Đảng ta tiếp
tục có những bước chỉ đạo tiếp theo, thực hiện thắng lợi mục tiêu lâu dài của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.