QUÁ TRÌNH đổi mới tư DUY lý LUẬN của ĐẢNG - Pdf 35

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG
VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, THỰC HIỆN
CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG THỜI KỲ MỚI
Chương 1
TÍNH TẤT YẾU PHẢI ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ
XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, BẢO VỆ TỔ QUỐC
1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.1.1. Tình hình đất nước
Sau 25 năm đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN (19862011), đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng, thể hiện
trên các mặt:
Đảng và Nhà nước đã có những đổi mới về tư duy về quốc phòng, an
ninh bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên nghiên cứu, đánh giá tình hình quốc tế,
khu vực và trong nước; xác định rõ đối tượng tác chiến chiến lược, âm mưu,
thủ đoạn và hành động phá hoại của các thế lực thù địch đối với nước ta; Về
cơ bản đã phân tích, dự báo đúng các tình huống, có chủ trương, biện pháp
xử lý kịp thời, có hiệu quả.
Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh nhân dân tiếp tục được củng cố. Tiềm lực quốc phòng, an ninh
nhân dân trong khu vực tỉnh, thành phố được tăng cường. Đã chú ý phát
triển tiềm lực khoa học - công nghệ, coi trọng đầu tư công nghệ tiên tiến,
hiện đại, tạo năng lực mới cho phát triển công nghiệp quốc phòng. Tuy
nguồn tài chính hạn chế, song đã nỗ lực lớn trong việc mua sắm trang bị vũ
khí, khí tài cho các lực lượng vũ trang.
Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh
với kinh tế ngày càng chặt chẽ hơn. Triển khai tích cực hoạt động đối ngoại


quân sự, mở rộng quan hệ với quân đội các nước trong khu vực và một số
nước trên thế giới (đối thoại quốc phòng ADMM…), tích cực tham gia các
hoạt động ngoại giao đa phương, góp phần tạo môi trường hòa bình và ổn
định, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang nhân dân
có lúc chưa kịp thời, thiếu chiều sâu, thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu nên
kết quả còn thấp.
Sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội có mặt
chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nhiệm vụ mới. Sức cơ động của bộ đội
chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu tác chiến chống chiến tranh bằng vũ khí
công nghệ cao.
Việc tổ chức, huấn luyện lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ có
mặt còn yếu, kết quả chưa cao, khả năng tự độc lập tác chiến của khu vực
phòng thủ còn hạn chế.
1.1.2. Tình hình thế giới, khu vực có liên quan
Tình hình thế giới
Khái quát tình hình thế giới về chiến tranh, xung đột quân sự, chống
khủng bố và chiến lược của các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc,… về
chính trị, kinh tế, quân sự.
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Xu thế
toàn cầu hóa ngày càng gia tăng. Khoảng cách giàu nghèo giữa các nước
giàu và nước nghèo ngày càng mở rộng. Kinh tế thế giới chưa thoát khỏi
cuộc khủng hoảng, suy thoái kéo dài, tình trạng nợ công chưa được giải
quyết… xuất hiện nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
Tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á


Bên cạnh xu thể hợp tác chiếm vai trò chủ đạo, sự tranh chấp chủ quyền
biển đảo giữa các nước đã gây nên tình hình căng thẳng, đe dọa sự toàn vẹn
lãnh thổ và chủ quyền của nhiều nước; tiềm ẩn những nguy cơ, nhân tố gây
mất ổn định.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ QUỐC PHÒNG, CHIẾN LƯỢC QUỐC
PHÒNG, QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ
QUỐC

chính trị, quân sự, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta trong việc xây dựng, tổ chức, động
viên, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước cho sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc XHCN. Đó là chiến lược phòng thủ quốc gia theo tư tưởng cách mạng
tiến công, chủ động và kiên quyết đối phó với mọi thế lực thù địch, trong cả
thời bình và thời chiến.
Đặc trưng của chiến lược quốc phòng ở nước ta là tính toàn dân, toàn
diện, hiện đại, nhằm mục đích tự vệ chính đáng, gắn chặt giữa xây dựng đất
nước với bảo vệ tổ quốc XHCN (5 đặc trưng).
Chiến lược quốc phòng có tính tổng hợp rất cao, được hoạch định dựa
trên cơ sở lý luận và thực tiễn là đường lối của Đảng về xây dựng đất nước
và bảo vệ tổ quốc XHCN; căn cứ vào tình hình thế giới và khu vực có liên
quan; căn cứ vào thực trạng quốc phòng - an ninh nước ta và căn cứvào dự
báo nguy cơ và tình huống chiến lược.
1.2.3. Khái niệm quốc phòng toàn dân
Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do
dân, của dân”, phát triển theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự
lực, tự chủ, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với
quốc phòng và an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành
của nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của
đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động, xâm lược và bạo loạn lật đổ của


các thế lực đế quốc và phản động bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã
hội chủ nghĩa. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản chỉ
đạo việc xây dựng nền quốc phòng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thuộc trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong
đó lực lượng vũ tranh nhân dân là nòng cốt.2
1.2.4. Khái niệm chiến lược bảo vệ Tổ quốc
Tổ quốc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin: Tổ quốc baogiờ

định đất nước; ngăn chặn, đẩy lùi chiến tranh, làm thất bại mọi âm mưu diễn
biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, ly khai, can thiệp, xâm lược của giặc ngoài,
thù trong, phục vu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.3. TƯ DUY VỀ NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC
PHẢI ĐỔI MỚI THEO TƯ DUY VỀ NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂY
DỰNG CHỦ NGĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-1982) đã đề ra hai
nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam: “Một là
xây dựng thành công CNXH. Hai là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam XHCN”.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V phân tích rõ mối quan hệ mật thiết
giữa hai nhiệm vụ chiến lược: “Phải xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt những
kết quả thiết thực làm cho đất nước ta mạnh lên về mọi mặt và trong mọi
hoàn cảnh thì mới có đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Ngược lại có tăng
cường phòng thủ đất nước… bảo đảm cho đất nước luôn luôn được bảo vệ
vững chắc thì mới có điều kiện để xây dựng thành công CNXH”. Về mối
quan hệ đó, Nghị quyết Đại hội xác định: “Trong khi không một phút lơi
lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân
ta phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì
CNXH không những là mục đích của toàn bộ sự nghiệp của chúng ta mà còn


vì CNXH, sự vững mạnh của chế độ XHCN là bảo đảm cho độc lập và tự do
của Tổ quốc”3
Từ đây, “hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn mới” đã trở thành nhiệm vụ chính trị của cách mạng Việt Nam. được
các đại hội Đảng tiếp sau kế tục và phát triển, dù có bổ sung đường lối và
đổi mới tư duy cũng không thay đổi nhiệm vụ chính trị nói trên và quan
điểm xác định mối quan hệ mật thiết giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng Việt Nam.

thường trực của tư duy quốc phòng. Như lời Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết căn dặn khi đến thăm và làm việc với Tổng cục Chính trị Quân đội
nhân dân Việt Nam ngày 27-8-2007: “Kẻ thù không bao giờ để cho chúng ta
có không khí yên bình… có những thế lực luôn muốn phá hoại công cuộc
xây dựng hoà bình của đất nước ta... Vì vậy cần luôn luôn nêu cao cảnh giác,
hiểu rõ ngay trong hoà bình, kẻ thù vẫn không ngừng phá hoại. Không để
xảy ra những tình huống bất ngờ, luôn rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao
trình độ sắn sàng chiến đấu, cùng các lực lượng khác đập tan mọi âm mưu
thủ đoạn của các thế lực thù địch...” Nhưng ngày nay, hơn lúc nào hết, đất
nước cần một môi trường hoà bình ổn định để thu hút đầu tư, mở rộng sản
xuất… nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010.
Điều đó đòi hỏi tư duy quốc phòng phải quán triệt cách xem xét mới về đối
tác và đối tượng của Nghị quyết Trung ương tám, khoá IX về “Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, kết hợp ý thức cảnh giác sẵn sàng
chiến đấu với bảo vệ sản xuất, bảo vệ mọi đối tác làm ăn lương thiện, đúng
luật pháp trên đất nước ta, không vì “cảnh giác” mà gây trở ngại cho các
hoạt động đó.
1.4. TƯ DUY VỀ QUỐC PHÒNG PHẢI PHÁT TRIỂN THEO SỰ
PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TIẾN CÔNG CỦA ĐỐI TƯỢNG CHIẾN
LƯỢC


Tư duy về quốc phòng (còn gọi là tư duy về bảo vệ Tổ quốc XHCN)
phải đổi mới theo sự đổi mới của tư duy xây dựng CNXH trên đất nước ta.
Đó là mặt chủ quan của mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng Việt Nam. Mặt khách quan của mối quan hệ là những mối đe doạ
đối với hoà bình ổn định của đất nước, của chế độ thường phát sinh ngoài
ý muốn của ta, những mối đe doạ diễn ra mỗi thời lại khác, xét về cả đối
tượng và âm mưu thủ đoạn, mà tư duy về quốc phòng phải thường xuyên
bám sát và chủ động chuyển hướng cả về chiến lược và chiến thuật.

nước: chúng ta phải thấu suốt quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và
bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”. Phát
huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, của hệ thống chuyên chính vô sản
trong việc đẩy mạnh xây dựng hậu phương toàn diện được coi là nhiệm vụ
có tính chiến lược trong thời kỳ mới.
2.1.2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991)
Trong khi quan tâm đến việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên
bình diện rộng, trên toàn bộ lãnh thổ, để chủ động bảo vệ vững chắc nền độc
lập, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống, Đảng ta còn nhấn mạnh tới
việc xây dựng các khu phòng thủ ở các địa phương; sự cần thiết phải xây
dựng các công trình quốc phòng trọng điểm, không ngừng nâng cao chất
lượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội
nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, với cơ cấu tổ
chức và quân số hợp lý.
2.1.3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996)


Đại hội đã đề ra những quan điểm chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng nền quốc
phòng toàn dân và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN:
+ Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
+ Kết hợp quốc phòng và an ninh với kinh tế.
+ Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai nhiệm vụ đó có
liên quan chặt chẽ với nhau trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc; phối hợp chặt
chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại.
+ Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng
yếu thường xuyên của cả hệ thống chính trị.
+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ Tổ quốc; thể chế hoá các chủ
trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an
ninh nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng và an ninh.

và chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới.
- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải lấy nhiệm vụ phát triển kinh
tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng củng cố quốc phòng
là trọng yếu, thường xuyên.
- Thống nhất đánh giá đối tượng, đối tác trong xây dựng nền quốc
phòng toàn dân.
- Chủ động dự báo đúng các tình huống chiến lược, trên cơ sở nắm
vững âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, những biến động của tình
hình thế giới và trong nước tác động đến nhiệm vụ quốc phòng.
Từ những yêu cầu mới đó, Nghị quyết Đại hội đã đề ra những giải pháp
chủ yếu để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bao gồm:


- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý, điều hành
của Nhà nước trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng tiềm lực quốc phòng.
- Đẩy nhanh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.
- Đẩy mạnh xây dựng lực lượng quốc phòng, tập trung xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân theo yêu cầu mới.
- Phối hợp các lực lượng, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động
ngăn ngừa và đối phó hiệu quả mọi tình huống.
2.1.6. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Đại hội xác định: Tăng cường quốc phòng an ninh là nhiệm vụ trọng
yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội
nhân dân, công an nhân dân là nòng cốt.
2.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ
QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.2.1. Những căn cứ để hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc
2.2.1.1. Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ
Tổ quốc

trung bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Từ khi chủ nghĩa xã hội phát
triển thành hệ thống thế giới, sự chống phá của kẻ thù càng quyết liệt hơn.
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đong Âu là một tổn thất của
phong trào cách mạng thế giới, song nó cũng để lại cho các nước xã hội chủ
nghĩa những bài học đắt giá rằng: xây dựng chủ nghĩa xã hội phải luôn gắn
liền với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Có như vậy, Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa mới tồn tại và phát triển. Thực tiễn trên đây một lần nữa đã chứng


minh cho luận điểm của V I. Lên ỉn rằng: giành chính quyền đã khó, nhưng
giữ được chính quyền còn khó khăn hơn.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự
vận dụng sáng tạo Học thuyết Mác- Lê nin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa vào tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, vận dụng sáng
tạo học thuyết Mác – Lê nin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, kế thừa
tinh hoa truyền thống dân tộc, nắm vững quy luật tồn tại và phát triển của
dân tộc Việt Nam “dựng nước phải đi đôi với giữ nước", Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đã đưa ra hệ thống
quan điểm, tư tưởng, làm cơ sở cho đường lối của Đảng trong lĩnh vực bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho ý chí, quyết tâm giải phóng dân
tộc, quyết tâm bảo vệ đất nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
của nhân dân ta. Điều đó được thể hiện đậm nét trong nhiều bài nói, bài viết,
trong các hoạt động thực tiễn của Người. Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng nhấn mạnh đã trở thành chân lý, thôi thúc ý chí, quyết tâm của cả dân
tộc: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ
lấy nước". Ý chí giữ nước của Người rất sâu sắc và kiên quyết. Trong Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng ta thà
hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ ra một chân lý rằng : "Không có gì quý hơn độc lập tự do". “Hễ còn
một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét
sạch nó đi". Trước khi đi xa, trong bản Di chúc, Người căn dặn: "Cuộc


kháng chiến chống Mĩ cứu nước có thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải
hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng
giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn". Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết
tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền
Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng xuyên
suốt trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tóm lại, Học thuyết Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa là bộ phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ
nghĩa, bao gồm một hệ thống các quan điểm, tư tưởng hết sức cơ bản về tính
tất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cùng với các
biện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị
đất nước về mọi mặt và đường lối đối ngoại đúng đắn để có thể đánh thắng
thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2.2.1.2. Đường lối, quan điểm của Đảng; những thành tựu và những
thách thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay
Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2011
-2015 là: tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng;
đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;
phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối
ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ;
tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp

triển nhanh, bền vững, hiệu quả; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xà hôi gắn với tăng
cường củng cố quốc phòng - an ninh.
Đẩy lùi nguy cơ tụt hậu và tái khủng hoảng; hạn chế tác động tiêu cực
của kinh tế thị trường; đấu tranh hiệu quả với các tội phạm kinh tế, tệ quan
liêu, tham nhũng, gian lận thương mại; thực hiện triệt để tiết kiệm, chống
lãng phí.
Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi
trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nước ta có điều kiện phát
triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết.
Về tư tưởng -văn hóa
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của xã hội ta là chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc,
trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức
quốc phòng - an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác
động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Bảo vệ và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam;
kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc chủ nghĩa xã
hội, phủ nhận lịch sử, tuyên truyền những giá trị tự do dân chủ, nhân quyền
tư sản đa nguyên chính trị đa đảng đối lập của các thế lực chống phá chủ
nghĩa xã hội.
Về đối ngoại
Bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc trong quá
trình mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status