MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nêu rõ: “Quan tâm, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước
hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị; coi trọng cả đức và tài, đức là
gốc... Mọi cán bộ phải thường xuyên nâng cao trình độ mọi mặt,... gương mẫu trong
đạo đức và lối sống, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, khi lợi ích
cá nhân mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải biết đặt lợi ích chung lên trên hết, “trước
hết” [14, 145]. Thực chất đây là vấn đề đạo đức của người cán bộ cách mạng trong
việc giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện mới ở nước
ta hiện nay. Để thực hiện được yêu cầu đó, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên, đặc
biệt là những người giữ vai trò lãnh đạo, quản lý phải nhận thức và giải quyết đúng
đắn mối quan hệ cá nhân - xã hội, trong đó chủ yếu là mối quan hệ về lợi ích.
Trong xã hội mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội xét đến cùng bị quy định bởi
quan hệ lợi ích xã hội. Tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội mà lợi ích cá nhân phù
hợp ít hay nhiều với lợi ích xã hội. Để điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã
hội cần có sự tham gia của đạo đức. Đạo đức giữ vai trò điều chỉnh động cơ, hành vi
của mỗi cá nhân trong xã hội không đối lập với lợi ích của các cá nhân khác và của cả
xã hội. Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy, không phải chế độ xã hội nào cũng xuất
hiện những tư tưởng đạo đức đúng đắn nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ đó. Mỗi
chế độ xã hội có những quan niệm đạo đức riêng của nó để giải quyết mối quan hệ lợi
ích giữa cá nhân và xã hội. Trong các xã hội cũ, đạo đức của giai cấp bóc lột là nhằm
bảo vệ lợi ích của những kẻ cầm quyền thống trị xã hội. Đạo đức đó đề cao tuyệt đối
cái cá nhân, đạt lợi ích cá nhân lên trên hết. Chủ nghĩa cá nhân, do đó đã trở thành
nguyên tắc đạo đức chủ đạo giữ vai trò chi phối đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.
Trong xã hội XHCN, đạo đức mới giữ vai trò bảo vệ lợi ích của toàn thể nhân dân lao
động, nó đề cao cá nhân và lợi ích cá nhân nhưng không tách rời với tập thể, xã hội,
giữa cá nhân và xã hội có mối quan hệ hài hoà thống nhất. Đạo đức đó luôn hướng con
người hành động vì lợi ích chung, đặt lợi ích chung lên trên hết trước hết. Do vậy, chủ
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng là
tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, cho nên đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều học giả, nhiều tổ chức khoa học trong và ngoài nước từ nhiều năm nay.
Trên thực tế nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã được xuất bản thành sách và công bố trên các báo, tạp
chí trong và ngoài nước. Chẳng hạn, về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có: “Hồ Chí
Minh về đạo đức cách mạng” (nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, 1976); “Chủ tịch Hồ Chí
Minh với vấn đề đạo đức cách mạng” (nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986);
“Hồ Chí Minh về đạo đức” (nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993); “Tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - Truyền thống dân tộc và nhân loại” (GS. Vũ Khiêu (chủ
biên), nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993); “ Đạo đức, phong cách, lề lối làm
việc của cán bộ công chức theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” (PTS. Thang Văn
Phúc (chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998)....Ngoài ra còn rất
nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã được công bố bằng
nhiều hình thức khác nhau mà ở đây không có điều kiện nêu lên. Mặc dù vậy, cuộc đời
và sự nghiệp cùng với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một đề tài hết sức sinh động
phong phú và rộng lớn, dù có bao nhiêu công trình nghiên cứu, bao nhiêu cuốn sách,
bao nhiêu bài báo cũng chưa thể khai thác được đầy đủ trên mọi khía cạnh.
Vấn đề mà đề tài nghiên cứu cũng đã có một số tác giả đề cập từ nhiều góc độ
khác nhau qua nhiều công trình. Ví dụ: Đề tài cấp nhà nước: KX02 - 08 mang tên: “
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” ( Do PGS.PTS Nguyễn Văn Truy, Trung tâm
khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia làm chủ nhiệm đề tài); Đề tài cấp bộ: “Sự biến
đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với xây dựng đạo đức mới
cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” (Do PGS.PTS Nguyễn Chí Mỳ, Khoa triết học
học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm đề tài); Đề tài cấp cơ sở:
“Vấn đề nâng cao phẩm chất đạo đức cán bộ trong tình hình hiện nay” (Do PTS. Đàm
Văn Thọ, Viện xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ
Luận án không đi sâu nghiên cứu nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Luận án cũng không nghiên cứu quan hệ cá nhân - xã hội trên mọi phương diện, luận
án chỉ tập chung nghiên cứu và phân tích tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về mối quan
hệ cá nhân - xã hội xét về phương diện lợi ích. Đồng thời, luận án chủ yếu nghiên cứu
đạo đức từ góc độ triết học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội tác động đến
nhân cách đạo đức của người cán bộ cách mạng nói chung và người cán bộ lãnh đạo,
quản lý nói riêng trong việc giải quyết mối quan hệ cá nhân - xã hội về lợi ích, trong
chừng mực có đề cập đến những vấn đề đạo đức học có liên quan.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời có
sử dụng một số kết quả nghiên cứu đã được công bố của các tác giả trong và ngoài
nước có liên quan đến đề tài.
4.2.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận chung
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với các phương
pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp trừu
tượng hoá, khí quát hoá v.v...
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ cá nhân - xã hội mà chủ yếu là mối quan hệ về lợi ích và cách
thức giải quyết mối quan hệ.
- Bước đầu đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần khắc phục sự suy
thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý trong việc giải quyết mối quan
hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay.
6. ý nghĩa của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu tư tưởng
cứu vị trí vai trò của các chủ thể trong mối quan hệ ấy và sự tác động lẫn nhau giữa
chúng. Để làm rõ điều này, trước hết, cần thống nhất một số quan niệm về cá nhân, tập
thể, xã hội.
- Cá nhân: Khái niệm cá nhân chỉ là điều kiện đầu tiên đánh dấu lĩnh vực đối
tượng của việc nghiên cứu con người. Tuỳ từng góc độ tiếp cận và nghiên cứu khác
nhau về cá nhân. Chẳng hạn, khi xem xét con người với tư cách là một thực thể loài
được cụ thể hoá trong những cá nhân hiện thực, giáo sư A. G. Xpirkin cho rằng: “
Khái niệm cá nhân, thứ nhất, chỉ một cá thể riêng rẽ với tư cách là đại biểu cho loài
sinh vật cao nhất Homosapiens; thứ hai, chỉ một “nguyên tử” đơn nhất, riêng rẽ của
cộng đồng xã hội” [88, 25].
Như vậy, cá nhân được xem xét trong hai loại quan hệ khác nhau, quan hệ với
loài - loài người và quan hệ với xã hội - hình thái tổ chức mà bản thân cá nhân tồn tại
và sinh sống. Ở đây, không đi sâu nghiên cứu cá nhân trong quan hệ thứ nhất, quan hệ
với loài mà chủ yếu nghiên cứu cá nhân ở quan hệ thứ hai, quan hệ với xã hội. Theo
hướng này, nhà đạo đức học G. Bandzeladze viết: “cá nhân - theo Các Mác - không
phải là tinh thần trừu tượng, nó là một thực tại cụ thể, cá nhân trước hết là con người
với bầu máu nóng, là người lính bảo vệ tổ quốc, là thành viên của xã hội, là người cha
của gia đình và cuối cùng điều quan trọng nhất là người công dân” [1, 50]. Điều đó chỉ
ra rằng, mỗi cá nhân luôn tồn tại rất nhiều tư cách đan xen nhau, song trong đó nổi lên
và quan trọng nhất là tư cách một người công dân trong quan hệ đối với xã hội. Đã là
công dân thì buộc cá nhân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội và ngược lại,
xã hội cũng phải đảm bảo cho mỗi công dân được thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của
mình.
Ở nước ta, khái niệm cá nhân cũng được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ nhiều
góc độ khác nhau. Chẳng hạn, khi xem xét cá nhân trong mối quan hệ là sản phẩm của
lịch sử xã hội, thì “cá nhân - cá thể người với tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã
hội, là chủ thể của lao động, của quan hệ xã hội và của nhận thức. Cá nhân là một con
người hoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa khả năng riêng có của người đó với chức
biệt với các chức năng và chuẩn mực xã hội chung, được biểu hiện sinh động và cảm
tính qua từng cá thể, trong sự chế ước của điều kiện và hoàn cảnh lịch sử - xã hội.
Khái niệm cá nhân cũng cần được phân biệt với khái niệm cá tính và khái niệm
nhân cách.
Cá tính dùng để chỉ cái đơn nhất, không lặp lại trong tâm - sinh lý cá thể người.
Nói cách khác, cá tính là sự biểu hiện nội dung riêng biệt mang tính đặc thù của mỗi cá
nhân, không lặp lại và cái biểu hiện cảm tính sự khác biệt cá nhân này với cá nhân
khác. Nhưng không thể đồng nhất cá tính với cá nhân, vì nó mới chỉ biểu hiện cái riêng
biệt, cái đơn nhất mà chưa nói lên cái tương đồng, cái chung trong con người.
Khái niệm nhân cách khác khái niệm cá nhân ở chỗ: Nhân cách - đó là trung tâm
cá nhân và là sự biểu hiện những quan hệ và chức năng xã hội của con người, là chủ
thể nhận thức và cải tạo thế giới, chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩn
mực đạo đức, thẩm mỹ và mọi chuẩn mực xã hội khác [88, 26]. Nói cách khác, nhân
cách, đó là sự thống nhất giữa đức và tài, giữa mặt cá nhân với mặt xã hội ở mỗi cá
nhân con người cụ thể, là thái độ ứng xử của mỗi con người đối với mối quan hệ đa
chiều với hiện thực khách quan. Những phẩm chất nhân cách con người là phát sinh từ
lối sống xã hội và từ khả năng tự ý thức của họ, vì vậy cá nhân bao giờ cũng có con
người đã phát triển về mặt xã hội. Nó là sự phân biệt giữa các cá nhân và bản sắc độc
đáo của con người trong mỗi cá nhân. Cá nhân bao giờ cũng mang nội dung, bản chất
của cá thể trong cộng đồng xã hội. Do đó, đề cập đến phạm trù cá nhân phải hiểu rõ đó
là nhân cách con người thể hiện trong mỗi cá nhân, là chỉnh thể toàn vẹn của mọi mối
quan hệ. Nhân cách là đặc trưng bản chất cá nhân trong mỗi giai đoạn phát triển nhất
định của lịch sử. Nó là nội dung, trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong của mỗi cá
nhân, với đặc điểm riêng về di truyền, về sinh lý, về gia đình, về hoàn cảnh sống... Mỗi
cá nhân tồn tại, tiếp thu và chuyển hoá những giá trị văn hoá của xã hội vào bản thân
mình, thực hiện quá trình lọc bỏ, tiếp nhận, tự đánh giá, tự giáo dục để tạo nên thế giới
riêng. Quá trình đó hình thành trong cá nhân các yếu tố về động lực, lợi ích, lòng tin,
định hướng giá trị trong xúc cảm, niềm tin và hành động thực tiễn. Với nhân cách độc
phát triển nhất định, thông qua một phương thức sản xuất cụ thể, sẽ xuất hiện một kiểu
tổ chức xã hội tương ứng của con người. Có thể nói, sự hình thành con người là sự
hình thành những quan hệ xã hội và do đó cũng là sự hình thành xã hội. Nhưng xã hội
bao giờ cũng chỉ tồn tại dưới một hình thái lịch sử cụ thể.
Như vậy, không có con người thì không có xã hội. Đặc trưng của xã hội ngoài sự
hiện diện của tập hợp, cộng đồng người còn có mối liên hệ những con người, và những
bộ phận khác nhau trong đó thành một hệ chỉnh thể duy nhất. Những mối liên hệ này
được tái tạo trong hoạt động của con người và mang tính bền vững đến mức nhiều thế
hệ con người thay thế nhau mà hình thức của những liên hệ, đặc trưng cho một xã hội
cụ thể vẫn tồn tại. Vì vậy, C. Mác viết “ Xã hội không phải là những cá thể người, mà
biểu hiện tổng số những mối liên hệ và quan hệ của chúng, trong đó những cá thể đó
tồn tại với nhau”. [46,4]
- Tập thể: Trong xã hội, mỗi cá nhân thường thuộc về một tập thể nhất định. Mỗi
cá nhân đều hành động với tư cách một thành viên của một tập thể nào đó. Nó phải hoà
nhập vào tập thể và hành động theo những yêu cầu của từng tập thể nhất định. Vậy tập
thể là gì? Theo tác giả Nguyễn Hải Khoát thì: “Tập thể là một nhóm người thống nhất
với nhau theo những mục đích chung phục vụ tiến bộ xã hội như cơ quan, đoàn thể,
các tổ đôi lao động...”[31,24]. Hoặc: “Tập thể là tập hợp những người có quan hệ gắn
bó, cùng sinh hoạt, cùng làm việc chung với nhau” [82,869]. Theo từ điển triết học,
khái niệm tập thể được qui về những đặc điểm sau: “Liên kết các cá nhân trên cơ sở
những nhiệm vụ chung nào đó; cùng nhau hoạt động và tương trợ; tiếp xúc thường
xuyên với nhau trên mức độ nhất định; có tổ chức nhất định” [83,525].
Từ đó có thể rút ra những dấu hiệu đặc trưng của tập thể như sau: Tập thể là một
nhóm người có quan hệ gắn bó, tương trợ lẫn nhau, có chung một mục đích hoạt
động; có một tổ chức chặt chẽ, có cơ quan quản lý của mình và hoàn thành chức năng
nhất định do xã hội quy định. Như vậy là trong một tập thể mọi người có lợi ích chung
giống nhau. Tất nhiên cần phải phân biệt, cũng là một nhóm người có tổ chức chặt chẽ,
nhưng chỉ hoạt động vì lợi ích riêng thì không phải là tập thể mà là phường hội.
không có cá nhân chung chung, trừu tượng cho mọi chế độ xã hội khác nhau, mọi giai
đoạn lịch sử khác nhau. Cá nhân bao giờ cũng có tính lịch sử - xã hội cụ thể. Bởi vậy,
xã hội tiến bộ là xã hội phải tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho sự phát triển toàn
diện của cá nhân. Sự phát triển cá nhân là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự tiến bộ của
xã hội.
Từ đó có thể thấy rằng, hoàn cảnh xã hội là điều kiện chủ yếu để hình thành cá
nhân. Hoàn cảnh xã hội càng có tính người bao nhiêu thì nhân cách cá nhân càng được
phát triển hoàn thiện bấy nhiêu. Trái lại, cá nhân sẽ bị kìm hãm, bị tha hoá trong một
hoàn cảnh phi nhân tính. Vì thế, con người càng mong muốn tiến tới tự do cho mình
bao nhiêu thì càng phải cải tạo hoàn cảnh một cách sâu sắc và triệt để bấy nhiêu. Sự
phong phú của mỗi cá nhân sẽ tuỳ thuộc vào sự phong phú của mối liên hệ giữa cá
nhân với thế giới khách quan, bao gồm hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội. Xã hội
càng văn minh bao nhiêu thì sản phẩm của nó - cá nhân con người càng tiến tới làm
chủ, sáng tạo và tự do bấy nhiêu.
Nhưng mặt khác, con người không phải là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh.
Trái lại bằng sức mạnh trí tuệ và năng lực thực tiễn, con người đã tác động trở lại đối
với hoàn cảnh, chiếm lĩnh, làm chủ và cải tạo hoàn cảnh. Nhờ khả năng sáng tạo của tư
duy trí tuệ và hành động thực tiễn, cá nhân con người tự biểu hiện, tự khẳng định với
tư cách con người xã hội trong sự thống nhất giữa cá nhân và xã hội, giữa tự nhiên và
lịch sử, giữa chủ thể và khách thể. Hoàn cảnh xã hội không thể tự nó thay đổi , mà phải
thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua hành động cách mạng của con người. Cho
nên với tư cách là chủ thể sáng tạo, con người đã tác động đến xã hội, cải biến hoàn
cảnh không phải ở những ước muốn chủ quan mà căn bản và trước hết là ở năng lực
hành động thực tiễn của chính bản thân mình. Đó cũng là yêu cầu cơ bản và trước hết
của cá nhân với vai trò là chủ thể của xã hội, là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.
Động lực để thúc đẩy vai trò của cá nhân đối với xã hội chính là nhu cầu, mà nhu cầu
của con người thì vô cùng phong phú và đa dạng, bao gồm cả nhu cầu về vật chất và
nhu cầu về văn hoá tinh thần. Bởi vậy, nhu cầu cá nhân là động lực thúc đẩy sự phát
ác, về nghĩa vụ và lương tâm... là khác nhau, thậm chí đối lập nhau ở những cá nhân,
những thời đại và những cộng đồng người khác nhau.
Nội dung trên được thể hiện dưới hình thức những tư tưởng quan niệm, khái
niệm, kinh nghiệm đạo đức và một hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực
nhằm quy đinh và điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Những quy định, điều chỉnh đó, nó không phải là sự áp đặt tuỳ tiện theo ý
muốn chủ quan của giai cấp thống trị mà dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, lợi ích
kinh tế, thiết chế chính trị - xã hội nhất định. Nó là sự biểu hiện những quan hệ kinh tế
cơ bản của phương thức sản xuất thống trị trong xã hội thời đường. Tuy nhiên, nếu
không có bước chuyển hoá từ những quy định của xã hội thành ý thức tự giác của
những cá nhân, nghĩa là nếu không biến những “mệnh lệnh” xã hội thành đòi hỏi tự
giác của chủ thể thì cũng chưa thành đạo đức. Vì vậy, có thể nói “điểm xuất phát của
đạo đức là từ xã hội, song điểm kết thúc của tất cả các biểu hiện đạo đức là ở hành vi
cá nhân” [37,12]. Nếu bị ép buộc phải hành động cho có đạo đức, phải miễn cưỡng
hành động dưới sự thúc ép và cưỡng chế của người khác để cho có đạo đức thì ý nghĩa
của đạo đức đã bị tước bỏ. Về nguyên tắc, hành vi đạo đức là hành vi tự giác, đó là
một tất yếu được nhận thức. Biến cái tất yếu khách quan của lịch sử thành đòi hỏi tự
giác chủ thể trong hành động đó là đạo đức chân chính theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
Để đi đến một định nghĩa về đạo đức có thể điểm qua một số quan niệm khác
nhau về nó. Theo nhà đạo đức học G. Bandzeladze: “Đạo đức của con người là năng
lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội” và “nơi nào không
có hành động tự nguyện tự giác của con người thì nơi ấy không thể có nhân phẩm,
không thể thực sự có đời sống xã hội. Đặc trưng của đời sống con người và bản thân
tính người (hoặc nhân phẩm) là ở đạo đức và nội dung đạo đức chính là năng lực phục
vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác và toàn thể xã hội” [1, 48]. Từ đó ông
định nghĩa: “Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện
tự giác của những con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói
chung” [1, 104]. Theo quan niệm này, bản chất của đạo đức là sự quan tâm tự giác của
Qua đó cho thấy đạo đức xuất hiện như là một nhu cầu tất yếu khách quan của
lịch sử xã hội loài người. Đạo đức có các chức năng chủ yếu là giáo dục, nhận thức và
điều chỉnh hành vi của con người. Chính nhờ có các chức năng đó mà con người có
khả năng giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân - xã hội, đặc biệt là quan hệ lợi ích.
Lợi ích là khái niệm nói lên đặc điểm của cái có ý nghĩa khách quan, cần thiết
cho cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung [83,332]. Người ta
cũng phân biệt một cách tương ứng lợi ích cá nhân (hay lợi ích riêng) và lợi ích tập
đoàn, lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích xã hội (hay lợi ích chung). Lợi ích, xét
theo nghĩa rộng, bao hàm cả quan hệ về vật chất và quan hệ về tinh thần trong đời sống
con người. Lợi ích có quan hệ chặt chẽ với nhu cầu của con người. Không có nhu cầu
hưởng thụ những giá trị về vật chất và tinh thần thì lẽ tất nhiên con người không cần
đến lợi ích, vì nhu cầu mà con người cần có lợi ích. Lợi ích là cái biểu hiện cụ thể, là
phương thức thực hiện nhu cầu con người, chính điều này khiến cho nhu cầu và lợi ích
trở thành những phạm trù cùng loại. Vậy thực chất lợi ích là gì? Nếu xét từ góc độ nội
dung của khái niệm, thì đó là cái thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu. Nhưng nếu
xét từ phương diện bản chất khái niệm với tư cách là một mối quan hệ xác định, thì lợi
ích là mối quan hệ giữa chủ thể - con người có nhu cầu với các sự vật và hiện tượng
của thế giới bên ngoài họ có thể thoả mãn nhu cầu đó. Ngoài ra, lợi ích còn được
người ta nhận thức từ phương diện hành động của chủ thể. Khi đó, lợi ích là một nhân
tố của quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội của con người hướng tới một cái gì đó có
ý nghĩa đối với họ.
Có thể hiểu rằng lợi ích là sự biểu hiện cụ thể của các mối quan hệ xã hội. Nó
được biểu hiện đa dạng, phong phú từ lợi ích kinh tế đến lợi ích chính trị, văn hoá, xã
hội; từ lợi ích cá nhân đến lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; từ lợi ích trực tiếp đến lợi ích
gián tiếp; từ lợi ích vật chất đến lợi ích tinh thần, trong đó lợi ích kinh tế thường được
xem là hạt nhân, là cơ sở của toàn bộ hệ thống các lợi ích xã hội, tác động quyết định
đến các mặt khác của đời sống xã hội.
Bản thân lợi ích mang tính khách quan, vì nó là cái đáp ứng nhu cầu của chủ thể
quan hệ cá nhân - xã hội, và cũng có thể làm triệt tiêu sự phát triển đó, nếu giải quyết
không đúng quy luật của quan hệ lợi ích. Do vậy, trong nhận thức và hoạt động thực
tiễn, cần tránh sai lầm khi thấy sự thống nhất mà không thấy sự khác biệt giữa các loại
lợi ích, hoặc chỉ thấy sự khác biệt mà không thấy sự thống nhất giữa chúng. Tuyệt đối
hoá một trong hai mặt trên của mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội đều dẫn đến
sai lầm. Vấn đề là sự phát triển xã hội và lịch sử nói chung chỉ có thể diễn ra bình
thường, lành mạnh, đi đúng quy luật, khi cá nhân mỗi người nhận thức tự giác mối
quan hệ cá nhân - xã hội xét trên phương diện lợi ích. C.Mác đã chỉ rõ: “Chừng nào
con người còn ở trong một xã hội hình thành một cách tự nhiên, do đó chừng nào còn
có sự chia cắt giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, do đó chừng nào còn có sự phân chia
hoạt động còn được tiến hành không phải một cách tự nguyện mà một cách tự nhiên
thì chừng đó hành động của bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối
lập với con người, và nô dịch với con người, chứ không phải bị con người thống trị”
[48,295]. Vì vậy, sự thống nhất biện chứng của lợi ích trong quan hệ cá nhân - xã hội
chính là cơ sở, là động lực để thúc đẩy cá nhân hành động.
Trong các loại lợi ích, lợi ích cá nhân có vai trò to lớn, vì nó trực tiếp đáp ứng
nhu cầu của con người. Lợi ích cá nhân mang tính chất trực tiếp, cụ thể, còn lợi ích
tập thể, xã hội thì mang tính chất gián tiếp. Do vậy, trong bất cứ thời đại nào, mỗi con
người bao giờ cũng hành động vì lợi ích của bản thân mình trước. Có thể nói lợi ích cá
nhân đóng vai trò là cơ sở, là động lực trực tiếp kích thích tính tích cực của con người.
Còn lợi ích tập thể và xã hội thể hiện vai trò động lực của nó thông qua lợi ích của mỗi
cá nhân.
Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội chỉ có thể được thực hiện đúng
đắn khi quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội được giải quyết một cách hài hoà. Để có
sự hài hoà đó cần phải có vai trò điều chỉnh của đạo đức, đúng như C.Mác viết: “Nếu
như lợi ích, hiểu một cách đúng đắn, là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức, thì điều quan
trọng là phải ra sức là cho lợi ích riêng tư của con người phù hợp với lợi ích của loài
người” [48,174].
đức của mỗi cá nhân thành viên trong xã hội thì cũng không thể có hành vi đạo đức
của cá nhân. Vì vậy đòi hỏi: Thứ nhất, cá nhân phải nhận thức được những yêu cầu
đạo đức của xã hội. Nói cách khác, cá nhân phải nhận thức được tính tất yếu của lợi
ích xã hội và cách thức hiện thực hoá tất yếu ấy. Sự nhận thức này phải thông qua môi
trường giáo dục của nhà trường , gia đình và xã hội. Đó chính là quá trình chuyển hoá
ý thức đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Nó làm cho phương thức điều
chỉnh đạo đức mang tính tự giác. Thứ hai, cá nhân phải chuyển hoá sự nhận thức thành
nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình nhằm đồng thời xác lập cả
lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân. Biểu hiện của sự chuyển hoá này là hành vi của cá
nhân tuân thủ những ngăn cấm, khuyến khích những chuẩn mực phù hợp với đòi hỏi
của xã hội. Chính vì vậy mà sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, tự giác của
mỗi cá nhân. Thứ ba, cá nhân phải chịu sự hướng dẫn của dư luận xã hội trong các
hành vi của mình. Thông qua dư luận xã hội, cá nhân mới có khả năng để chỉnh hành
vi sao cho phù hợp với đạo đức xã hội. Mặt khác dư luận xã hội cũng là “phương tiện”
để xác định giá trị các hành vi đạo đức của cá nhân. Đạo đức, xét về bản chất là tự do
của mỗi con người, mà tự do là phải nhận thức được cái tất yếu. Do vậy, cá nhân khi
thực hiện đầy đủ những yêu cầu trên đây, thì cũng có ý nghĩa là hành vi của họ đã
mang tính tự nguyện, tự giác được xã hội thừa nhận và do đó cũng là những hành vi
mang nội dung tất yếu là tự do.
Có thể nói sự điều chỉnh của đạo đức được thực hiện trong mối liên hệ giữa cá
nhân và xã hội, mối liên hệ ấy tạo thành hai cực: cá nhân và xã hội. Mỗi cực đều ở
trạng thái đòi hỏi lẫn nhau và đáp ứng những đòi hỏi của nhau. Điều đáng chú ý là bất
cứ hệ thống đạo đức nào trong lịch sử cũng điều chỉnh theo nguyên tắc ưu tiên lợi ích
xã hội (sự khác biệt là ở chỗ quan niệm về lợi ích xã hội trong mỗi chế độ xã hội đó là
như thế nào).
Sự đối nghịch giữa cá nhân và xã hội là đặc trưng riêng của xã hội có đối kháng
giai cấp có tính lịch sử. Trong điều kiện của CNXH, mối quan hệ qua lại giữa cá nhân
và xã hội được đặc trưng bằng tính quy luật mới, bằng việc kết hợp lợi ích cá nhân và
nghĩa vụ, lương tâm.... Vấn đề là ở chỗ không phải các chế độ chính trị và các học
thuyết đạo đức xưa nay đều đã quan tâm đến lợi ích cá nhân chính đáng của con người
và lý giải đúng đắn mọi mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích với
hạnh phúc và tinh thần nghĩa vụ.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội ra đời và phát triển là do nhu cầu của xã hội,
nhu cầu duy trì và phát triển quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội.
Khi các quan hệ này thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi nội dung của nó.
Trong xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp, khi mà cộng đồng còn thống trị và
cá nhân chưa tách khỏi thị tộc, ý thức về cá nhân chưa phát triển thì trong ý thức đạo
đức cũng chưa có sự phân biệt lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Lợi ích cá nhân thống
nhất và hoà tan trong lợi ích thị tộc. Lợi ích của mỗi thành viên chỉ có thể được xác lập
khi lợi ích của cộng đồng được xác lập khi lợi ích của cộng đông được xác lập, “Để
bảo đảm an toàn cho bản thân mình, mỗi cá nhân đều dựa vào sự bảo vệ của thị tộc và
đã có thể dựa như thế; ai xúc phạm đến một cá nhân trong thị tộc là xúc phạm đến toàn
thể thị tộc” [51, 137]. Vì vậy, lợi ích, nguyên tắc đạo đức của thời đại bình đẳng
nguyên thuỷ, “chủ nghĩa tập thể” nguyên thuỷ.
Trong xã hội có giai cấp, ý thức đạo đức phân hoá thành đạo đức thống trị và
đạo đức bị trị. Dĩ nhiên: “trong mỗi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là
những tư tưởng thống trị... giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì
cũng là lực lượng tinh thần thống trị” [48,314]. Do vậy, ở giai đoạn đầu của xã hội có
giai cấp (chế độ nô lệ, chế độ phong kiến) đạo đức tôn giáo, duy tâm thời kỳ cổ đại
không bao giờ đứng về phía lợi ích cá nhân chính đáng của con người. Luân lý Phật
giáo hay Thiên chúa giáo đều xây dựng trên nguyên tắc khuyên nhủ con người từ bỏ
lạc thú trần gian, rao giảng một thứ đạo đức khổ hạnh đè nén dục vọng xác thịt, hy
sinh lợi ích thiết thực, chính đáng nơi trần thế để đổi lấy sự siêu thoát chốn thiên
đường. Đạo đức Nho giáo lại ràng buộc cá nhân theo lợi ích duy nhất của một ông vua,
một dòng họ. Nó phê phán luân lý con người hướng về điều “lợi”, coi điều lợi là xấu,
là ác, đối lập với “nghĩa”, đòi hỏi con người phải giữ “nghĩa” và bỏ “lợi”. Nhưng cái
XHTB.
Sự sai lầm của nhà vị kỷ “hợp lý” không phải ở chỗ đã giải thích sự phát triển
của xã hội và đạo đức bằng quy luật lợi ích mà còn ở chỗ đã không phân biệt con
người cá nhân tư sản với con người nói chung, đã đồng nhất lợi ích cá nhân tư sản với
lợi ích xã hội, đồng nhất lợi ích cá nhân với nghĩa vụ đạo đức. Theo lôgíc đó, một
người tư sản luôn luôn chạy theo lợi ích cá nhân cũng đã góp phần vào lợi ích xã hội,
một kẻ chỉ biết xoay xở, chỉ nghĩ cách kiếm lợi cho bản thân mình cũng vẫn hiện diện
như là một người đạo đức, một người có công đối với xã hội. Giai cấp tư sản đã tìm
thấy sự bào chữa tinh vi cho đạo đức của nó trong lý luận về lợi ích của các nhà duy
vật Pháp. Với lý thuyết này, người công nhân bán sức lao động cho nhà tư bản, nhà tư
bản bóc lột công nhân, hai bên sử dụng lẫn nhau và cùng có lợi, đó là một việc hoàn
toàn hợp với đạo đức. Vì vậy, sau khi giai cấp tư sản đã nắm quyền thống trị xã hội,
mâu thuẫn trong xã hội tư sản đã trở thành gay gắt thì thứ đạo đức học vụ lợi đó đã
mất đi tính chất tương đối tiến bộ của nó và trở thành công cụ biện hộ cho chế độ bóc
lột TBCN.
Ở thời kỳ thống trị của CNTB, chủ nghĩa vị kỷ “hợp lý” đã hoàn toàn vứt bỏ cái
“hợp lý” của nó ở giai đoạn đầu để hiện nguyên hình một thứ chủ nghĩa cá nhân ích kỷ
cực đoan và tàn bạo. Cơ sở triết lý và đạo đức của nó được tìm thấy trong triết học
Nítse. Xét từ góc độ đạo đức học, chủ nghĩa phát xít chính là hình thức cao nhất, cực
đoan nhất của chủ nghĩa cá nhân tư sản. Nó mở rộng chủ nghĩa cá nhân vô hạn độ cho
một số dân tộc gọi là “thượng đẳng” được quyền đi xâm lược và nô dịch các nước
khác. Có thể nói ở hình thức cực đoan của nó, chủ nghĩa cá nhân tư sản cũng quay trở
lại con đường đàn áp cá nhân và lợi ích cá nhân, hy sinh lợi ích cá nhân cho tham vọng
điên cuồng của các tập đoàn tư bản quân phiệt. Với bản chất của chế độ bóc lột dựa
trên tư bàn chiếm hữu tư nhân TBCN thì chủ nghĩa cá nhân cực đoan tư sản đã trở
thành nguyên tắc đạo đức thống soái trong XHTB. Từ đó, nó đã đối lập giữa cá nhân
này với cá nhân khác và đối lập lợi ích của cá nhân với lợi ích của xã hội. Vì vậy,
trong xã hội đó, theo Ph.ăngghen: “Mọi người đều chỉ coi nhau như những cái có thể