BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TRẦN THỊ HẠNH
VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Kinh tế
Chuyên ngành: Tổ chức và quản lý sản xuất
Mã số: 05-02-21
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS PTS Đỗ Hoàng Toàn
2. PGS PTS Đinh Kim Hải
Mở đầu
Khu vực kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành thống nhất của nền
kinh tế quốc dân. Quan điểm của Đảng và Chính phủ ta về vị trí và vai trò của
khu vực kinh tế nước ta đã có tác dụng to lớn thúc đẩy sự phát triển của khu
vực kinh tế tư nhân (KVKTTN) nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.
Từ nhận thức tư tưởng, Đảng và Chính phủ ta đã đưa ra nhiều chính sách mới,
sửa đổi và bổ sung một số chính sách cũ nhằm tạo ta một môi trường thuận
lợi cho các hoạt động kinh doanh tư nhân. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn
nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để cho hoạt động kinh doanh tư nhân
phát triển. KVKTTN nước ta vẫn chưa phát triển với đúng tầm nhìn của nó.
Hầu hết các cơ sở kinh doanh tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp thu
các yếu tố vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh như tiền vốn, vật tư công
nghệ, đất đai, lao động và khả năng kinh doanh và giải quyết các yếu tố đầu ra
như tiêu thụ sản phẩm.
Xuất phát từ thực tiễn nước ta, đồng thời căn cứ vào xu hướng phát triển
Phân tích một cách có hệ thống quá trình phát triển của KVKTTN Việt
Nam, nêu được thực trạng của KVKTTN nước ta và một số hạn chế về môi
trường kinh doanh hiện nay.
Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy KVKTTN phát triển.
5. Nội dung của luận án:
Tên luận án: "Về việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay".
Luận án gồm:
Phần mở đầu.
Chương I : Khu vực kinh tế tư nhân và vị trí của nó trong nền kinh tế.
Chương II : Quá trình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
Chương III : Môi trường kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt
Nam hiện nay.
Chương IV : Một số biện pháp để phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở
Việt Nam.
Kết luận.
Phần phụ lục.
CHƯƠNG I
KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ
TRONG NỀN KINH TẾ
I. KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TƯ NHÂN
1) Khu vực kinh tế tư nhân :
Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế thực hiện các
hoạt động kinh doanh tư nhân. Các hoạt động kinh doanh nói chung được tổ
mà các hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng do một hoặc một nhóm tư
nhân tổ chức và chỉ đạo, có nghĩa là kể cả các cơ sở sản xuất kinh doanh có
phần góp vốn của Nhà nước nhưng hoạt đông sản xuất kinh doanh của chúng
do một hoặc một nhóm tư nhân tổ chức và chỉ đạo.
2) Các hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh tư nhân trong nền
kinh tế hiện đại:
Hoạt động kinh doanh tư nhân được tổ chức theo nhiều hình thức, trong
đó ba hình thức chung nhất là: doanh nghiệp sở hữu một chủ doanh nghiệp sở
hữu nhóm hoặc đồng sở hữu hoặc DN hợp chủ và công ty (Corporation).
a. Doanh nghiệp sở hữu một chủ:
Là hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh tư nhân phổ biến và lâu đời
nhất. Doanh nghiệp sở hữu một chủ là doanh nghiệp do một cá nhân nắm
quyền sở hữu và tổ chức, chỉ đạo hoạt động kinh doanh.
Đối với các hoạt động kinh doanh nhỏ, không đòi hỏi vốn và công nghệ
phức tạp doanh nghiệp sở hữu một chủ thể là hình thức dễ nhất để bắt đầu
hoạt động kinh doanh. Người muốn thành lập doanh nghiệp một chủ chỉ cần
đăng ký và nộp một khoản lệ phí rất nhỏ, có nước chỉ cần nộp 2 USD, chẳng
hạn như Malaysia. ở các nước mỗi năm có hàng ngàn người chủ sở hữu đơn
lẻ bắt đầu các doanh nghiệp của mình với hy vọng kiếm lợi nhuận lớn. Hình
thức hoạt động kinh doanh sở hữu một chủ (đơn lẻ) có những ưu thế sau:
Các chủ sở hữu đơn lẻ sở hữu toàn bộ lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các chủ sở hữu đó được tận hưởng cảm giác hài lòng do được làm thủ
trưởng của chính doanh nghiệp của mình.
Các chủ sở hữu đơn lẻ đó không phải trả thuế lợi tức doanh nghiệp mà
chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Bên cạnh những lợi thế trên, hình thức sở hữu đơn lẻ cũng có những điểm
bất lợi. Đó là:
Các chủ sở hữu đơn lẻ phải chui trách nhiệm vô hạn về mặt tài chính.
nhập cá nhân của riêng họ.
Bên cạnh đó hình thức kinh doanh thuộc sở hữu nhóm cũng có nhiều yếu
điểm, đó là:
Phải chụi trách nhiệm chung và vô hạn về tài chính.
Dễ có khả năng xảy ra bất đồng giữa các cá nhân tham gia sở hữu DN.
Các DN sở hữu nhóm cũng có tính chất không bền vững.
Các thành viên ngại đầu tư vào DN.
c. Hình thức tổ chức kinh doanh theo kiểu công ty (Corporation).
Công ty là một thực thể nhân tạo, không nhìn thấy được, không sờ thấy
được và chỉ tồn tại trên giấy tờ pháp lý. Công ty là một pháp nhân và tách
biệt hẳn với các chủ sở hữu của nó.
Những lợi thế của hình thức tổ chức kinh doanh theo kiểu công ty:
Công ty tồn tại như một thực thể hợp pháp tách biệt.
Hình thức tổ chức kinh doanh theo kiểu công ty đảm bảo cho các chủ sở
hữu của nó chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn.
Công ty thường có khả năng tồn tại lâu dài.
Quyền sở hữu dễ dàng được chuyển nhượng.
Khả năng tài chính lớn hơn.
Những điểm bất lợi của hình thức tổ chức kinh doanh theo kiểu công ty
là:
Các công ty thường phải chịu thuế hai lần và thuế đặc biệt.
Việc thành lập công ty phức tạp và tốn kém.
Công ty phải chịu nhiều quy chế và những đòi hỏi báo cáo của Chính phủ.
Không bí mật được về hoạt động nghiệp vụ.
Hình thức tổ chức kinh doanh theo kiểu công ty chiếm một tỷ trọng
không lớn trong tổng số các DN tư nhân ở các nước trên thế giới nhưng
thường có đóng góp lớn theo tỷ lệ doanh thu và tỷ lệ lợi nhuận ròng. Chẳng
hạn ở Mỹ số doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu công ty chiếm 16,2% (số
tài chính. Những năm gần đây loại hình doanh nghiệp này phổ biến trong
việc kinh doanh bất động sản. Một vài người góp vốn mua nhà cũ, sửa sang
và bán. Họ chia nhau lợi nhuận và liên doanh kết thúc.
f. Uỷ quyền kinh doanh:
Được thành lập khi một hoặc nhiều nhà đầu tư gửi tiền mặt hoặc các tài
sản khác cho người được uỷ nhiệm. Người được uỷ nhiệm này giữ và quản lý
tài sản thay cho họ. Những nhà đầu tư này nhận giấy chứng nhận uỷ quyền
(hoặc cổ phiếu uỷ quyền). Những giấy tờ này là cơ sở để nhận lợi nhuận
phanạ chia. Hợp đồng uỷ quyền này có thể có hoặc có thể không đảm bảo
cho những người đầu tư chọn người để uỷ quyền hoặc tham gia vào các quyết
định quản lý. Nếu không được đảm bảo thì các nhà đầu tư chỉ phải chịu trách
nhiệm hữu hạn về các món nợ uỷ quyền. Các nhà đầu tư có thể bán lại giấy
chứng nhận uỷ quyền cho người khác.
h. Hiệp hội hợp tác:
Đó là một nhóm người cùng hoạt động vì một mục đích nào đó. Họ hợp
nhất lại và các thành viên lựa chọn ban quản trị. Mỗi thành viên chỉ có một
phiếu bầu. Các HTX thường hoạt động không vì mục đích kiếm lợi nhuận
theo nghĩa thông thường. Chúng thường được thành lập để giúp đỡ các thành
viên. Thu nhập trừ chi phí còn lại thường được trả lại hết cho chủ sở hữu. Tuy
nhiên, để sử dụng vốn góp của các thành viên có hiệu quả hơn các HTX có
thể thành lập các công ty hoặc các DN hoạt động theo các quy chế pháp lý
như những công ty hoặc các DN tư nhân thông thường.
Các hiệp hội hợp tác có thể là các HTX tín dụng công nhân, các HTX
nông nghiệp, HTX tiêu thụ…
i. Các công ty tương trợ
Các công ty này giống các HTX ở chỗ những người tiêu thụ(những người
có hợp đồng bảo hiểm , những người giử tiền tiết kiệm) là các chủ sở hữu.
Giống các công ty thông thường, các công ty tương trợ này có ban giám đốc
dạng kinh tế cá thể mà thực chất cũng là các DN tư nhân sở hữu một chủ nhỏ
không đăng ký vốn pháp định. Việc đăng ký kinh doanh đối với các hộ kinh
tế cá thể đơn giản hơn việc đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân nhiều,
trước hết không cần phải có một mức vốn cao hơn vốn pháp định. Uỷ ban
nhân dân quận ở các thành phố, và ở tỉnh có đủ thẩm quyền cấp giấy phép
kinh doanh cho các hộ kinh tế cá thể.
Mặc dù quy mô nhỏ bé nhưng số lượng lớn nên kinh tế cá thể giữ vị trí
quan trọng trong khu vực kinh tế tư nhân. Thậm chí Giáo sư Hoàng Kim
Giao đã đưa ra so sánh "35 vạn hộ kinh tế cá thể đang là biển cả của nền kinh
tế tư nhân mà mấy trăm xí nghiệp, công ty tư doanh chỉ là lớp sóng cồn trên
bề mặt của đại dương đó thôi".[24]
Các cơ sở kinh doanh ngầm cũng là một bộ phận đáng kể trong
KVKTTN. Đáng tiếc là chúng tôi không thu nhập được số liệu về chúng.
Cơ sở sản xuất kinh doanh tư
nhân
Kinh tế
cá thể
Doanh nghiệp
tư nhân
Công ty
cổ phần
Công ty trách
nhiệm hữu hạn
Một số công ty, xí nghiệp
Adam Smith đã đưa ra những lý lẽ để chứng minh rằng muốn phát triển
nền kinh tế nói chung và phát triển hoạt động kinh doanh tư nhân nói riêng
phải áp dụng chính sách "để mặc kinh doanh" hoặc "bàn tay vô hình". Nhưng
trên thực tế phát triển của các nước TBCN không bao giờ có một thị trường
hoàn hảo, do đó bàn tay vô hình của thị trường một mình không thể quản lý
được nền kinh tế. chính phủ vẫn cần can thiệp vào điều tiết kinh tế vĩ mô, có
điều can thiệp đến đâu và tính chất can thiệp như thế nào.
ảnh hưởng học thuyết của Adam Smith giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII đến
cuối XIX là giai đoạn phát triển mạnh của CNTB cạnh tranh tự do. Hoạt động
kinh doanh tư nhân phát triển mạnh mẽ. Chính phủ rất ít can thiệp vào các
hoạt động kinh doanh trong thời kỳ này.
c. Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến cuối những năm 1970:
Cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm 1930 đã làm cho hầu hết các
nước trên thế giới phải xem xét lại phương thức điều hành nền kinh tế. Học
thuyết củaKeynes về bàn tay hữu hành đã ra đời với sự nhấn mạnh vai trò
của Chính phủ trong việc quản lý nền kinh tế. Nhiều công ty, xí nghiệp tư
nhân trong các nước phát triển đã được quốc hữu hóa. Đồng thời trong giai
đoạn này nhiều nước mới giành được độc lập về chính trị đã khao khát một sự
độc lập về kinh tế. Kế hoạch hóa và sở hữu tập trung trong những lĩnh vực
kinh tế cơ bản thường được coi là một biện pháp có hiệu quả và nhanh chóng
giành được nền độc lập về kinh tế và chính trị. Nhiều nước mới giành độc lập
chính trị đã thiết kế mô hình phát triển kinh tế lấy khu vực kinh tế Nhà nước
làm chủ đạo.
j. Giai đoạn từ cuối thập kỷ 70 đến nay và quá trình tư nhân hóa:
Nhiều nước trên thế giới cho rằng phần lớn các XNQĐ khó đạt hiệu quả
cao so với các xí nghiệp tư nhân. Không ít XNQĐ đã trở thành gánh nặng
ngân sách lớn đối với nhiều nước. Người ta đã chứng minh những ưu thế của
hoạt động kinh doanh tư nhân so với hoạt động kinh doanh của khu vực Nhà
nhân để thực hiện các dịch vụ công cộng, đặc biệt là ở cấp bang và địa
phương, thậm chí tư nhân hóa cả nhà tù.
Quá trình tư nhân hóa lan truyền sang cả các nước đang phát triển. Các
nước vùng Thái Bình Dương thực hiện tư nhân hóa các ngành bưu điện viễn
thông và ngành hàng không. Malaysia, Srilanca, Xingapo, Nam Triều tiên là
những nước có nhiều tiến bộ trong cách tiếp cận mới đối với vấn đề tư nhân
hóa.
Các nước nghèo hơn cũng đưa ra những chương chình tư nhân hóa các xí
nghiệp, công ty Nhà nước mà các nhà đầu tư có thể mua. Bănglađet, Pakistan
đã tư nhân hóa ngành dệt, các lò đường. Các nước Nam Mỹ đã tư nhân hóa cả
những công ty Nhà nước trong các ngành điện, dầu khí và ngân hàng. Chi Lê
đã chuyển hệ thống hữu trí của Nhà nước sang một công ty bảo hiểm tư nhân
kiểu mới với sự tham gia mua cổ phiếu của Nhà nước.
Quá trình tư nhân hóa cũng được tiến hành trong các nước vốn có nền
kinh tế kế hoạch tập trung như các nước Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc…
Nhất là từ sau những thay đổi về chính trị ở các nước Đông Âu và Liên Xô,
quá trình tư nhân hóa càng diễn ra mạnh mẽ hơn. ở hầu hết các nước Đông
Âu và Liên Xô (cũ) quá trình tư nhân hóa diễn ra mang nhiều tính tự phát và
gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn chính cản trở việc tư nhân hóa là ở hầu hết
các nước có nền kinh tế tập trung cũ chưa có được thị trường chứng khoán
phát triển, khu vực tư nhân trong nước còn yếu, chưa đủ sức và vốn đảm
nhiệm việc tiếp quản, quản lý các XNQĐ lớn.
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, khu vực kinh tế tư nhân chiếm
tỷ trọng lớn về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và về vốn đầu tư. Chẳng hạn
như trong thập kỷ 80, khi bắt đầu lan truyền phong trào tư nhân hóa, ở hầu hết
các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp…tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân
trong GDP đều trên 80%. Thậm chí ở các nước đang phát triển con số này
cũng rất cao (Nam Triều tiên: tỷ trọng tổng sản phẩm của các doanh nghiệp
máy móc và sử dụng công suất máy với số giờ trong tuần cao hơn. Các xí
nghiệp tư nhân có thể bị phá sản nếu nó không cạnh tranh nổi trên thị trường,
còn khu vực Nhà nước ít khi bị mối đe doạ trên. Các XNQD yếu kém không
phải lúc nào cũng bị đóng cửa mà có thể được duy trì thông qua ưu đãi đặc
biệt như trợ cấp, hoãn nợ, cấp tín dụng với lãi suất thấp…
d. Chi phí lao động thấp:
Chi phí lao động thường là điểm mấu chốt dẫn đến sự khác nhau giữa khu
vực kinh tế tư nhân và Nhà nước. Hoạt động của khu vực Nhà nước dễ bị sức
ép làm tăng chi phí lao động. Khu vực Nhà nước có thể thoả thuận với người
cấp kinh phí trả lương còn doanh nghiệp tư nhân không làm được như vậy vì
giá cả phải cạnh tranh. Đặc trưng cho doanh nghiệp tư nhân là các hoạt động
lao động cho phép sử dụng lao động linh hoạt về mặt thời gian và tay nghề.
Những người tiêu thụ sản phẩm do tư nhân sản xuất sẽ không chấp nhận
giá cao, do đó các xí nghiệp tư nhân phải hạ lương để giảm giá. Còn trong
khu vực Nhà nước đối với nhiều loại mặt hàng (nhất là mặt hàng Nhà nước
độc quyền) người tiêu dùng không có quyền lựa chọn.
e. Đổi mới công nghệ:
Các xí nghiệp tư nhân thường tốn chi phí ít hơn các XNQD. Do không lo
cạnh tranh các XNQD thường có trang thiết bị lạc hậu, không quan tâm đến
việc đổi mới công nghệ, giảm giá thành. Các hãng tư nhân nếu không lo đổi
mới công nghệ thì có thể bị tụt hậu so với các đối thủ cho nên họ luôn đưa
thêm nguồn vốn thích hợp để bảo dưỡng và mua thiết bị mới.
g. Tính linh họat, thích nghi với thị trường:
Trong khu vực Nhà nước, mọi dịch vụ và hàng hóa đều được sản xuất
theo hướng dẫn của cấp trên và chịu sự kiểm soát của cấp trên. Do đó người
sản xuất không chú ý đến những nhu cầu hoặc mong muốn đa dạng hóa sản
phẩm của các cá nhân khách hàng. Các công ty tư nhân không ngừng tìm
kiếm những sản phẩm có khả năng cạnh tranh. Do đó họ luôn luôn tìm cách
tư nhân vừa và nhỏ, các chủ sở hữu thường đồng thời là các nhà quản lý.
Trong các doanh nghiệp lớn, các chủ sở hữu kiểm soát cá nhà quản lý của họ
thông qua các quy chế và pháp luật. Cơ sở quan hệ của người quản lý và các
chủ sở hữu là các Hội đồng Giám đốc (HĐGĐ), các Ban quản lý doanh
nghiệp, các nhân viên kế toán. Trong cac XNQD, các mối quan hệ này kém
phát triển hơn. Các chủ sở hữu tối cao là nhân dân được đại diện bởi Quốc
hội. Đảng, Chính phủ, các bộ, các quan chức cấp cao cho đến các nhân viên
thực hiện việc kiểm soát XNQD cũng không thể làm cho quan hệ giữa người
sở hữu và người quản lý trở nên rõ ràng và chặt chẽ hơn.
Bên cạnh các ưu điểm và lợi thế kể trên, kinh doanh tư nhân cũng có
không ít cá nhược điểm và hạn chế, thậm chí cả tiêu cực và vì thế đòi hỏi phải
có sự quản lý vĩ mô thích hợp của Nhà nước.
III. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN
KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY
1) Vị trí của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta hiện
nay.
Qua phần trên, ta thấy rằng kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành
không thể thiếu được trong nền kinh tế ở hầu hết các nước trên thế giới. Sự
phát triển các hình thức tổ chức kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân
trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau là một tất yếu khách quan. Về bản chất,
kinh tế tư nhân là một bộ phận của nền kinh tế thống nhất. Tuy nhiên, trước
đây nước ta không công nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế tư nhân làm cho
khu vực này phải hoạt động chui hoặc đội lốt kinh tế tập thể. Quan điểm coi
kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế phi XHCN và muốn tiến nhanh lên
CNXH chỉ cần cải tạo nhanh thành phần kinh tế phi XHCN đó đã dẫn đến
tình trạng gần như xóa sổ khu vực kinh tế tư nhân, phát triển ồ ạt các XNQD.
Việc thành lập các NXQD không dựa trên luận chứng khoa học về hiệu quả
hiện nay là thiếu vốn. Những yếu kém về cơ sở hạ tầng vật chất, pháp lý trong
nước đã hạn chế việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn vay trong dân lấy từ
nguồn tiết kiệm trong nước còn thấp (dưới 200 USD/năm trên một đầu người)
và nhất là do trong mấy năm qua tỷ lệ lạm phát còn cao, lãi suất tiết kiệm đôi
khi là âm.
Các cơ sở tư nhân thường là các cơ sở sản xuất loại vừa và nhỏ, ít nhân
công, dây chuyền thiết bị giản đơn, yêu cầu về nguyên liệu vật tư không lớn,
có mối quan hệ sẵn có về cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, các nhà
sản xuất có kinh nghiệm về quản lý kinh doanh, vì vậy tổ chức quản lý
thường gọn nhẹ, phát triển và chuyển hướng dễ dàng hơn so với quốc doanh.
Đẩy mạnh quá trình tập trung, tích tụ sản xuất thông qua việc thành lập
các cơ sở hợp doanh lớn và trung bình trên cơ sở các xí nghiệp nhỏ trong khu
vực tập thể và cá thể.
Chống lại những xu thế độc quyền trong nền kinh tế mà hiện đang tác
động như những yếu tố trì trệ cản trở nền kinh tế phát triển.
Khu vực kinh tế tư nhân thường không phải là gánh nặng đè lên ngân sách
Nhà nước như các XNQD. Do phải tuân thủ nguyên tắc hạ chế ngân sách
cứng, các doanh nghiệp tư nhân luôn phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh để thắng thế trong cuộc cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp
tư nhân nào hoạt động kém hiệu quả, thất bại trong cạnh tranh thì buộc phải
phá sản, do đó không gây ra gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
Các doanh nghiệp tư nhân ở nước ta cũng như ở các nước khác trên thế
giới nói chung, dễ đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh cao hơn so với các
XNQD như đã phân tích ở phần II của chương này. ở Việt Nam, nếu theo
điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế thì tỷ lệ bình quân số doanh thu
trên một đồng vốn ở khu vực ngoài quốc doanh Hà nội là 1,2 đồng, thành phố
HCM là 1,6 đồng, trong khi đó mức bình quân của toàn nền kinh tế là 0,5
đồng.[84]
CNTB. Nhưng thực ra ngay từ thời Lênin còn sống, Người đã khẳng định
"CNTB… là tốt hơn nhiều so với nền sản xuất nhỏ, và đồng thời so với sự
quan liêu nẩy sinh từ sự phân tán của các nhà sản xuất nhỏ… Chúng ta cần tổ
chức mọi thứ cho phép nền kinh tế TBCN và trao đỏi TBCN hoạt động bình
thường, vì điều đó cần thiết cho mợi người".[42]
Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân có một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế nước ta. Các cơ sở kinh doanh tư nhân đã thu hút được gần 8000 tỷ
đồng [19] trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh, sản xuất trên 70%
GDP, đóng góp 25% tổng thu nhập ngân sách Nhà nước. Chỉ riêng công
nghiệp tư nhân đã thu hút được gần 60% số lao động trong toàn nền kinh tế
quốc dân [53], tạo ra gần 50% sản lượng công nghiệp cả nước [61]. Hoạt
động kinh doanh tư nhân có mặt trong hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế: nông
nghiệp, công nghiệp, thương mại, giao thông, bưu điện, dịch vụ, y tế… Thậm
chí, một số cơ sở kinh doanh tư nhân đã tham gia cả vào lĩnh vực nghiên cứu
khoa học