Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành nhờ sự nỗ lực của cá nhân cũng
như nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ quý báu của nhà trường. Thông qua
quá trình nghiên cứu, em có điều kiện để vận dụng và trau dồi những kiến
thức đã được học trong suốt quá trình học tập ngồi trên ghế nhà trường. Đó là
nền tảng vững chắc giúp cho em có cái nhìn khái quát nhất về lĩnh vực mà mình
đang nghiên cứu.
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.GVCC Vũ Thị Kim
Xuyến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này. Qua bài khóa luận của mình, em
cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, cô giáo của trường Đại học
Nội Vụ Hà Nội nói chung và các Thầy, cô giáo trong Khoa Quản trị văn
phòng nói riêng, những người đã dạy dỗ và truyền đạt cho em những kiến
thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường, đặc biệt là những kiến thức
cơ bản và chuyên sâu về ngành Quản trị văn phòng. Đồng thời, em xin được
gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ, công chức và viên chức của Viện
Thông tin Khoa học – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tạo điều
kiện thuận lợi cho em nghiên cứu, tìm kiến và sử dụng tài liệu trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tuy nhiên, do bản thân em chưa có nhiều kinh nghiệm tiếp xúc và giải
quyết công việc thực tế nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Vì
vậy, em rất mong các Thầy, cô giáo tham gia đóng góp ý kiến giúp em bổ
sung những thiếu sót để bài khóa luận được hoàn thiện tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kim Chi
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Thuật ngữ
1
CBCC
Cán bộ, công chức
2
CBCC,VC
Cán bộ, công chức và viên chức
3
CCHC
Thông tin Khoa học
Trung ương
Quản lý nhà nước
Văn bản quy phạm pháp luật
Văn hóa công sở
Nguyễn Thị Kim Chi
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cách bài trí, sắp xếp các phòng ban làm việc tại Viện
TTKH – HVCTQG Hồ Chí Minh
Biểu đồ 2.2: Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tại Viện TTKH –
HVCTQG Hồ Chí Minh
Biểu đồ 2.3: Hiện tượng mất đoàn kết trong nội bộ
Biểu đồ 2.4: Sự quan tâm, lắng nghe ý kiến của lãnh đạo với cấp dưới
Biểu đồ 2.5: Trong công việc không chấp hành quyết định của cấp trên
Biểu đồ 2.6: Đánh giá thái độ, cách thức làm việc của CBCC,VC
Biểu đồ 2.7: Khảo sát ý kiến của CBCC về việc mặc đồng phục công sở
Biểu đồ 2.8: Đánh giá cách ăn mặc của đội ngũ CBCC
Nguyễn Thị Kim Chi
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện VHCS, bên cạnh những
kết quả đã đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập chưa thống nhất
cần phải có sự nhìn nhận khách quan. Do đó, em đã quyết định lựa chọn đề
tài: “ Nâng cao hiệu quả Văn hóa công sở tại Viện Thông tin khoa học –
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho khóa
Nguyễn Thị Kim Chi
6
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản trị văn phòng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa công sở là đề tài thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của
các nhà văn hóa, các nhà lãnh đạo quản lý, các cấp ngành, các nhà khoa học.
Xin đề cập một số công trình tiêu biểu như sau:
-
Nguyễn Văn Thâm (2001), Tổ chức và điều hành hoạt động của các công sở,
-
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Thu Uyên (2006), Nghệ thuật giao tiếp và ứng xử nơi công sở, NXB Văn hóa
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
-
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
Quận Tây Hồ hiện nay.
Năm 2015, Nguyễn Thị Thanh Hà có Luận văn với đề tài Văn hóa công sở
trong các cơ quan Hành chính cấp tỉnh ở Bắc Ninh hiện nay.
Luận văn cử nhân:
-
Năm 2007, Vũ Thị Phụng có Luận văn với đề tài Một số giải pháp nâng cao
-
Văn hóa công sở trong các cơ quan Hành chính Nhà nước.
Năm 2009, Hoàng Thị Chi có Luận văn với đề tài Xây dựng Văn hóa công sở
ở Viễn thông Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay.
Khóa luận tốt nghiệp:
Năm 2015, có 02 Khóa luận tốt nghiệp của Đặng Trần Nha Trang về đề
tài Thực trạng và giải pháp xây dựng Văn hóa công sở tại Ngân hàng TMCP
An Bình và Cao Thị Thùy Linh về đề tài Vai trò của văn phòng trong việc xây
dựng Văn hóa ứng xử tại một số doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhìn chung, những đề tài nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều thông tin
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
– HVCTQG Hồ Chí Minh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là VHCS tại Viện TTKH – HVCTQG Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: Quá trình triển khai thực hiện VHCS tại Viện
TTKH – HVCTQG Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến năm 2016.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả VHCS tại Viện TTKH – HVCTQG Hồ Chí Minh là
góp phần đánh giá việc thực hiện VHCS, tạo thêm nguồn dữ liệu thực tiễn
làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách, giải pháp phù hợp nhằm
khắc phục những hạn chế về VHCS tại Viện TTKH. Và cũng là góp phần
thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, minh bạch, vững
mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoạt động có hiệu lực nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
7. Phương pháp nghiên cứu
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Minh.
Nguyễn Thị Kim Chi
10
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.1 Một số quan niệm
1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần, một lĩnh vực phong
phú, độc đáo. Tuy vậy trong quá trình phát sinh và phát triển, đời sống văn
hóa của con người vẫn chịu sự quy định của những quy luật chung và đều
hướng tới những những chuẩn mực cụ thể. Quy luật bao giờ cũng có tính
khách quan, nhưng quy luật xã hội không tách rời hoạt động có ý thức của
con người, các chuẩn mực xã hội về lối sống, nếp sống đều do con người đặt
ra, nhưng chịu sự quy định chặt chẽ của các điều kiện khách quan và khi đã
hình thành, các chuẩn mực đó lại có tính khách quan, quy định các hoạt động
của con người.
Nghiên cứu các quy luật, các chuẩn mực của sự hình thành và phát triển
đời sống văn hóa tinh thần của xã hội và của con người cho thấy sự phát triển
của văn hóa xã hội là không có điểm dừng, nó không phát triển theo vòng
nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng
tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị các truyền thống và thị hiếu –
những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.[10;3]
Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con
người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động sản xuất tinh thần hay
trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên… Văn
hóa sinh ra cùng con người, song song tồn tại và phát triển cùng con người.
Khi nói về đặc trưng của văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: văn
hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác. Sự
khác biệt ấy tạo nên hệ thống các biểu tượng mang tính đa dạng. Song bản
thân cái khác biệt của hệ thống biểu tượng chưa phản ánh toàn diện bản chất
nội hàm văn hóa mà nó phải được thống nhất trong một chỉnh thể nền văn hóa
chung tạo nên hệ thống các giá trị. Điều đó cũng có thể xem như vấn đề mang
tính quy luật của sự hình thành và phát triển của bất kỳ nền văn hóa nào trên
thế giới.
Tháng 8-1943, khi đang bị giam cầm trong nhà tù của Tưởng Giới
Thạch, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa trong mục đọc sách
(Khán báo lan) của tập Nhật ký trong tù (Ngục trung nhật ký) viết năm 1942-1943:
“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc,
ăn, ở và các phương thức sử dụng. Tòa bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng
với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
Nguyễn Thị Kim Chi
12
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Xét về ý nghĩa tổ chức Nhà nước: công sở là trụ sở làm việc của cơ
quan Nhà nước, do Nhà nước lập ra để giải quyết công vụ[23;4]
Tóm lại, có thể hiểu công sở là các tổ chức mang tính chất công ích
được Nhà nước công nhận thành lập chịu sự điều chỉnh của luật hành chính và
Nguyễn Thị Kim Chi
13
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
các luật khác. Công sở là nơi để tổ chức các hoạt động và kiểm soát công việc
hành chính, quản lý các mặt của đời sống xã hội; là nơi soạn thảo và xử lý các
văn bản để phục vụ cho công việc chung, bảo đảm các thông tin hoạt động
của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối hợp các bộ phận cán bộ, công chức
theo một cơ chế nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, công sở là
một bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy nhà nước.
Trong cuốn Thuật ngữ hành chính của Viện Nghiên cứu hành chính
thuộc Học viện Hành chính Quốc gia có đưa ra quan niệm về công sở như sau:
Nghĩa rộng, công sở chỉ các cơ quan Nhà nước nói chung, bao gồm
các cơ quan trong hệ thống quyền lực Nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp); các cơ quan trong hệ thống quyền lực Nhà nước ( Chính phủ,
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân
các cấp); các cơ quan tòa án và viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Nghĩa hẹp, công sở được hiểu là các cơ quan hành chính nhà nước
( bao gồm Chính phủ, UBND các cấp và các cơ quan trực thuộc). Còn trong
các đơn vị kinh doanh. Đặc điểm riêng của các công ở hành chính là hoạt
động vì lợi ích chung không mang tính vụ lợi cho cá nhân từng người hoặc
một nhóm người trong tổ chức.
Có các điều kiện và phương tiện cần thiết để thực hiện công vụ
Các điều kiện, phương tiện cần thiết để đảm bảo cho công sở hoạt động
có hiệu quả là: tổ chức, nhân sự, tài sản, tài chính và thẩm quyền. Thiếu một
trong năm điều kiện trên, công sở hành chính không thể hoàn thành được
nhiệm vụ của mình. Trong số các thiết bị cần có, thì các thiết bị để thu thập và
xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động của công sở có vai trò quan trọng.
Từ những tìm hiểu trên, công sở mà em đề cập trong Khóa luận tốt
nghiệp này gọi là công sở hành chính – là nơi CBCC hàng ngày tiếp xúc và
giải quyết những công việc liên quan đến người dân. Vì vậy, từ nề nếp đến
phong cách làm việc và thái độ tiếp cận của đội ngũ CBCC đều ảnh hưởng
đến hiệu quả công việc và hiệu lực quản lý nhà nước. Môi trường làm việc,
thái độ phục vụ cũng như cách thức giao tiếp, ứng xử đối với người dân của
đội ngũ CBCC sẽ tạo nên bầu không khí bình đẳng thể hiện mối quan hệ thân
thiện giữa cơ quan hành chính với công dân, tạo nên nét đẹp văn hóa của một
nền hành chính hiện đại.
Quan niệm về Văn hóa công sở
“Văn hóa công sở” là cụm từ được sử dụng khá nhiều trong cuộc sống
cũng như trong một số văn bản quản lý nhà nước hiện nay. Quan niệm “Văn
hóa công sở” được các nhà nghiên cứu hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
Theo nghĩa rộng, VHCS là tổng thể các giá trị tài sản tinh thần và vật
chất do công sở sáng tạo ra. Theo quan niệm của PGS.TS Vũ Thị Phụng: “
Nguyễn Thị Kim Chi
15
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
phương của Học viện công vụ Liên Bang Nga quan niệm: “ Tập hợp các định
hướng và giá trị, chuẩn mực do truyền thống hay thói quen tạo nên đặc trưng
riêng của công vụ tại các cơ quan nhà nước, thể hiện ở mục tiêu của tổ chức,
quan điểm thái độ của con người đối với công việc, cách xử lý các xung
Nguyễn Thị Kim Chi
16
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
đột…”[21]. Từ đó, có thể hiểu Văn hóa tổ chức công sở là một hệ thống được
hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin, giá trị về
thái độ của các cán bộ làm việc trong công sở, ảnh hưởng đến cách làm việc
trong công sở và hiệu quả hoạt động của nó.
Theo nghĩa hẹp hơn, tác giả Nguyễn Thị Thu Vân quan niệm VHCS
bao gồm: “ hệ thống các giá trị , các quy tắc giao tiếp ứng xử, chuẩn mực
đạo đức của CBCC, các phương thức, cách thức quản lý gắn với viện tìm
kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công sở…”[32;23-30].
Hay theo TS.Đào Thị Ái Thi cho rằng: “Văn hóa công sở là một dạng
đặc thù của văn hóa xã hội bao gồm các giá trị, chuẩn mực, vẻ đẹp và cách
hành xử trong hoạt động công sở, mà các thành viên trong công sở cùng tiếp
nhận để ứng xử với nhau trong nội bộ công sở và phục vụ cộng đồng với sự
tác động của hệ thống quan hệ thứ bậc mang tính quyền lực và tính xã
hội”[25;22].
∗
yếu tố như: hệ thống các giá trị; kỹ năng giao tiếp, ứng xử; đạo đức, lối sống;
tác phong, lề lối làm việc; cơ sở vật chất; các yếu tố ngoại hiện của công sở…
1.2 Khái quát về Viện Thông tin khoa học – Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh
1.2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Viện TTKH –
HVCTQG Hồ Chí Minh
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam; là đơn vị tài
chính cấp I; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt, trung, cao cấp, công chức hành chính, công chức trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập, thành viên hội đồng quản trị,
tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp nhà
nước, cán bộ khoa học chính trị và hành chính của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; là trung tâm
quốc gia nghiên cứu khoa họclý luận Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
nghiên cứu đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước,
nghiên cứu về các khoa học chính trị nằm ở 135 Nguyễn Phong Sắc, phường
Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội với số điện thoại văn phòng
043.8361.021 và Emai là
HVCTQG Hồ Chí Minh có tên giao dịch quốc tế bằng Tiếng Anh là Ho
Chi Minh National Academy of Politics and Public Administration( Viết tắt là
HCMA)[19].
Viện TTKH là một trong những đơn vị trực thuộc – một bộ phận không
thể thiếu của HVCTQG Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1962 với tên gọi
ban đầu là Phòng Tư liệu. Địa điểm làm việc của Viện TTKH được đặt tại
Nguyễn Thị Kim Chi
18
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Giám đốc. Giai đoạn này đánh dấu một bước trưởng thành mới trong hoạt
động thông tin – thư viện, đáp ứng được sự tin cậy của Giám đốc Nhà trường
và các khoa, ban, vụ trong Học viện.
Tiếp đó, giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1997, trong Báo cáo chính trị
của Ban chấp hành TW Đảng tại Đại hội VI đã nhấn mạnh yêu cầu phải “ cải
cách toàn diện công tác của Trường Đảng, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp”. Quán triệt tinh thần đó
của Đại hội, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành đổi mới toàn
Nguyễn Thị Kim Chi
19
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
diện về cả tổ chức bộ máy và nội dung hoạt động, trong đó có sự đổi mới
nhận thức về công tác thông tin – tư liệu. Học viện đã giao cho Vụ Tư liệu
xây dựng Đề án cải tiến công tác thông tin, xây dựng bộ máy làm công tác
thông tin. Đề án khẳng định tầm quan trọng của công tác thông tin trong Học
viện, phân tích thực trạng, những thành tựu và yếu kém của công tác thông tin
và kiến nghị cải tiến họat động và tổ chức cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm
vụ mới. Sau một thời gian xem xét, Ban Giám đốc Học viện Nguyễn Ái
Quốc đã ra quyết định số 06 – QĐ ngày 5/7/1998, chuyển Vụ Tư liệu thành
Trung tâm Thông tin – Tư liệu trực thuộc Ban Giám đốc Học viện Nguyễn Ái
Quốc. Việc chuyển Vụ Tư liệu thành Trung tâm Thông tin – Tư liệu không
phải là sự đổi tên đơn thuần. Thực chất Trung tâm Thông tin – Tư liệu là một
tăng thêm sức mạnh của đơn vị hợp nhất, hoạt động thông tin khoa học của
Viện được chú trọng đặc biệt, các sản phẩm, loại hình thông tin đa dạng,
phong phú. Có thể nói, đây là sự trưởng thành thêm một bước về chất trong
hoạt động thông tin của Viện, cũng là lần đầu tiên công tác thông tin khoa học
được định hình trong chức năng, nhiệm vụ của một Viện với tên gọi Viện
Thông tin khoa học.
Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014, Viên TTKH chính thức đổi tên
thành Trung tâm Thông tin khoa học từ 01 tháng 10 năm 2008 theo Quyết định
Số 2248/QĐ ngày 29 tháng 9 năm 2008 của Giám đốc HVCTQG Hồ Chí Minh.
Trong giai đoạn này Trung tâm đã đa dạng hóa các nguồn bổ sung và hình thức
thông tin, đặc biệt tập trung bổ sung những thông tin phục vụ trực tiếp công tác
lãnh đạo, quản lý, công tác học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Học viện.
Giai đoạn từ năm 2014 cho đến nay, Trung tâm TTKH được đổi tên
thành Viện TTKH theo Quyết đinh số 541/QĐ-HVCTQG ngày 18-02-2014
của Giám đốc Học viên. Chức năng, nhiệm vụ của Viện TTKH cũng được bổ
sung và thay đổi theo Quyết định số 2947/QĐ-HVCTQG Hồ Chí Minh ngày
27 tháng 6 năm 2014 của Giám đốc Học viện. Giai đoạn này Viện TTKH phát
triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ CBCC,VC được đào tạo
bài bản có trình độ công tác cao, công tác nghiên cứu khoa học đã có nhiều
bước trưởng thành, các sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng, đáp ứng nhu
cầu nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy trong và ngoài hệ thống học viện.
Như vậy sự phát triển của Viện TTKH vừa là kết quả của sự kế thừa
những thành tựu của HVCTQG Hồ Chí Minh, đồng thời là sự cố gắng của
mỗi CBCC,VC của Viện qua các thời kỳ để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị
được giao.
Nguyễn Thị Kim Chi
21
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Phòng Thư viện.
Phòng Khai thác và phổ biến thông tin.
Phòng quản trị mạng.
Tạp chí Thông tin khoa học lý luận chính trị.
Bản tin Những vấn đề lý luận. (Phục vụ lãnh đạo cao cấp).
Phòng hành chính – tổng hợp.
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Viện TTKH (Xem phụ lục 01).
Hiện nay, Viện TTKH có 06 chi bộ trực thuộc Đảng bộ Viện với 46
Nguyễn Thị Kim Chi
22
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
Đảng viên; 06 công đoàn bộ phận; 06 tổ nữ công; 01 tổ chức Đoàn Thanh niên.
Đội ngũ cán bộ của Viện nhìn chung đều được đào tạo chính quy, có trình độ
vụ; tổ chức, quản lý thư viện điện tử; xây dựng và phát triển thư viện số; xây
Nguyễn Thị Kim Chi
23
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
dựng, quản lý cổng thông tin thư viện của Học viện.
4. Tổ chức bổ sung, xử lý phát hành các loại sách, báo, tạp chí, bản tin,
tài liệu học tập, nghiên cứu, giảng dạy.
5. Lựa chọn, thẩm định, biên dịch, xuất bản các tài liệu nước ngoài
phục vụ yêu cầu công tác của Học viện.
6. Nghiên cứu khoa học về thông tin, thư viện, công nghệ thông tin, báo
chí, xuất bản; khoa học lý luận chính trị và các khoa học xã hội nhân văn phục
vụ cho việc tổ chức, quản lý, xây dựng và phát triển hệ thống thông tin khoa
học của Học viện.
7. Hợp tác với các tổ chức trong nước và ngoài nước trên lĩnh vực
thông tin khoa học theo quy định của pháp luật và của Giám đốc Học viện.
8. Tổ chức các dịch vụ thông tin theo quy định của Nhà nước, của Học
viện, của ngành.
9. Phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán
bộ làm công tác thông tin thư viện trong Học viện, các trường chính trị tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; hướng dẫn các đối tượng dùng tin.
10. Quản lý, xây dựng đội ngũ CBCC,VC của Viện về mọi mặt; thực
Văn hóa công sở là điều kiện phát triển tinh thần và nhân cách con
người. Khả năng gây ảnh hưởng, để người khác chấp nhận giá trị của mình là
một nghệ thuật. Nhờ có văn hóa con người có thể hưởng thụ những giá trị vật
chất và tinh thần như ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ, lòng tự trọng…Từ đó
phát triển tinh thần và nhân cách của mỗi CBCC,VC góp phần vào sự phát
triển của Viện TTKH.
Văn hóa công sở cũng có sự kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những tinh
hoa văn hóa từ bên trong và bên ngoài công sở, từ quá khứ đến tương lai cho
nên trong một chừng mực nào đó sẽ giúp công sở tạo nên những chuẩn mực,
hướng các cán bộ,công chức, viên chức đến một giá trị chung, tôn trọng
những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực VHCS.
Văn hóa công sở là một trong những yếu tố phản ánh trình độ văn hóa
của một cơ quan, tổ chức, cá nhân. Viện TTKH là nơi thường xuyên tiếp đón,
phục vụ các học viên tới học tập, nghiên cứu khoa học cũng như việc tiếp xúc,
giao lưu với rất nhiều cơ quan, đơn vị khác. Vì thế, văn hóa ứng xử của các
CBCC,VC chính là thước đo sự văn minh hay nói khác đi nó phản ánh sự
nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi
công sở.
Văn hóa công sở nhằm tạo ra môi trường làm việc mang tính chuyên
nghiệp, có kỷ cương đồng thời xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của
CBCC,VC trong hoạt động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ
CBCC,VC có phẩm chất tốt; rèn luyện ý thức mỗi cá nhân từ tâm lý thực hiện
Nguyễn Thị Kim Chi
25
Lớp: ĐH. Quản trị Văn phòng K12D