ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 38

Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ĐBSCL

ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN
MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG


I.

MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản là một trong những loại hình nông nghiệp hết sức phổ biến

của nước ta. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thủy sản 10
tháng đầu năm 2011 ước đạt 4.612 ngàn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó sản
lượng khai thác ước đạt 2.199 ngàn tấn, tăng 5,2%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.413 ngàn
tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2010. Năm 2011 vừa qua ngành thủy sản cả nước có được
kết quả đáng phấn khởi cả về sản xuất nuôi trồng, khai thác và xuất khẩu. Tổng diện tích nuôi
trồng thủy sản của cả nước đạt 1.099.000ha, tăng 2,5%. Sản lượng thủy sản ước đạt 5,32 triệu
tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn, tăng 7,8% so với 2010. Giá trị xuất khẩu ước
đạt 6 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2010 chủ yếu do được giá. Thật vậy, nuôi trồng thủy

sản là một ngành kinh tế mang lại nguồn lợi khá lớn cho người dân cả nước nói chung
và đặc biệt là người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - một vùng đất ngập nước
điển hình với trên 90% diện tích ngập nước theo mùa mưa lũ và theo thủy triều thuộc
lưu vực sông Mê Kông đổ ra biển Đông.
Ngành nghề nuôi trồng thủy
sản đã nhanh chóng phát triển
suốt hơn 2 thập kỷ qua và có
những đóng góp lớn cho nên kinh
tế quốc gia. Trong vòng 10 năm
từ 1995 đến 2005, diện tích nuôi
trồng thủy sản vùng Đồng bằng đã


Hình 2: Thu hoạch tôm sú

Tuy nhiên, do việc chưa áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật kết hợp với việc mở
rộng diện tích các ao nuôi vô tình người dân đã làm ảnh hưởng nặng nề đến môi trường
nước. Một điều chúng ta cần hết sức quan tâm là với các mô hình nuôi thâm canh càng
cao, quy mô công nghiệp càng lớn thì lượng chất thải lại càng lớn và mức độ nguy hại
cho môi trường nước càng nhiều. Bên cạnh đó, các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa
được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu
vực đã gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh. Đây chính
là một mối đe dọa lớn đến nguồn tài nguyên - môi trường sinh thái (đặc biệt là tài
nguyên nước - nguồn tài nguyên hết sức quan trọng của vùng) và cũng như đối với sức
khỏe người dân đang sống ở đây. Và nghiêm trọng hơn, nếu không có cách quản lý kịp
thời thì tình trạng trên sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững nền kinh tế
- xã hội của đất nước.
Vì thế, việc đưa ra một số giải pháp để quản lý có hiệu quả đối với ngành nuôi
trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi cá tra hiện nay là một vấn đề cấp bách hàng đầu cần
được quan tâm nhiều hơn.

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 2


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ĐBSCL

II.

THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG (ĐBSCL)


Trang 3


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ĐBSCL

tự phát, thiếu quy hoạch nên diện tích liên tục gia tăng. Đến năm 2003, diện tích nuôi là
2.792,4 ha, tăng nhanh vào năm 2007 lên tới 5.429,7 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân
giai đoạn 2003-2007 là 18,1%/năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 11 năm (19972007) là 15,46%/năm, diện tích nuôi cá tra năm 2007 tăng gấp 4,2 lần so với năm 1997.
Đến tháng 7/2008 đã triển khai nuôi cá tra được 5.350,8 ha, gần bằng với diện tích nuôi
năm 2007.

Hình 3: Diễn biến diện tích nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 4


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

TĐTT TĐ
Địa
T phương/
T Năm

Long
1

An

Kiên

8

Giang
An

9
1

Giang
Đồng

Tháp
1 Vĩnh
1 Long
1 Hậu
0

Giang
1 Cần
3 Thơ
2

Tổng

1997

1998


-

100,0

150,0

0,0

0,0

850,0

900,0

815,0

738,0

860,0

860,0

880,0

900,0

920,0

42,0


97

495

-

-

-

-

-

-

-

151,1

76,6

38,0

50,0

-

-


-

5,5

6,0

0

0

0,0

-

-

-

-

-

-

-

-

3,0


440,0

400,0

600,0

400,0

401,1

650,0

860,9

765,2

815,0

807,2

1.393,

1.39

8

2,0
1.11

435,0


20,0

27,0

1.580

1.272

131,0

204

301

40,0

42,0

126,0

0

-

4
0,23

5


3

0,4
336,

4
5

4
199,

5
5

1.569,

0
1.24

3
2

-

328,0

390,0

473,0


9
5.429,

1,9
5.35

13,3

6
1

0

0

0

0

6

2

4

1

5

0

nuôi lồng bè kém hiệu quả về mặt kinh tế hơn so với nuôi cá tra trong ao. Tốc độ
tăng trưởng bình quân về số lượng và thể tích lồng bè nuôi qua 10 năm khoảng
4%/năm. Thể tích trung bình qua các năm mỗi lồng nuôi trong vùng là 250m 3/lồng,
dao động trong khoảng 198-363m3/lồng.
Trong vùng có 5 tỉnh nuôi cá tra lồng bè: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ,
Tiền Giang và Vĩnh Long nhưng phát triển mạnh chỉ tập trung ở 2 tỉnh An Giang và
Đồng Tháp. Năm 2003, tỉnh An Giang số lượng lồng bè lên cao nhất là 1.804 lồng,
Đồng Tháp là 300 lồng; số lượng lồng bè 2 tỉnh này chiếm khoảng 90% trong toàn
vùng. Năm 2004, tỉnh An Giang có thể tích nuôi lồng bè cao nhất (564.846m 3), tiếp
đến Đồng Tháp (75.000m3) và chỉ riêng 2 tỉnh đã chiếm 93,6% thể tích trong toàn
vùng.

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 6


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

Bảng 2: Số lượng và thể tích lồng bè nuôi cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 19977T/2008

ĐVT: lồng
TĐT TĐTT TĐTT

Địa

T GĐ GĐ

1997- 2003- 1997-



0

550

1.900

1.600

1.750

1.804

4
656
564. 255.

110.00 380.00 320.00 437.50 471.14

00

0

0

0

0

247

9
-

2,34

47,

52,0

2,1

06

8
-

9

Đồng

52,7

2 Tháp

0

441

Thể tích


0

3.350

5.350

2.345

2.747

129

52

15

0

1
-

75.0 38.7 2.63

* (m )
0
3 Cần Thơ 0
Thể tích
0

300

Vĩnh

53,7

4 Long

0

0

0

0

12

81

109

Thể tích
3

* (m )
Tiền

95

20


0

2

2

0

4

* (m3)

0

0

0

400

400

0

800

0

50


641

902

2.341

2.060

2.233

2.333

Thể tích 20.00 151.5 192.54 483.94 427.95 551.60
3

(m )
Thể tích

0

73

6

7

0

0



47,

49,4

44

8
-

51,

52,5

38

0

TB/lồng
(m3)

254

331

363

341

198

cả nước; nhiều nhất là Cà Mau 68,5 nghìn tấn, Bạc Liêu 36,2 nghìn tấn, Kiên Giang
13,6 nghìn tấn.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn qui hoạch đến năm 2015, đưa
546.000 ha mặt nước tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vào nuôi tôm sú,
giảm 768 ha so với năm 2010 nhưng sản lượng sẽ đạt 463.000 tấn, tăng 77.000 tấn
so cùng thời điểm, 80% sản lượng sẽ được xuất khẩu với giá trị hàng năm ít nhất là
1,5 tỉ USD.
Để bảo đảm đạt kết quả mong muốn, ĐBSCL mở rộng nuôi theo chiều sâu
trên địa bàn 8 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre,
Tiền Giang, Long An, trong đó tỉnh Cà Mau có diện tích nuôi lớn nhất. ĐBSCL
cải tiến kỹ thuật nuôi theo hướng bền vững và áp dụng các công nghệ nuôi tiên
tiến, thân thiện với môi trường như Code of Conduct – CoC, Good Aquaculture
Practice - GAP (áp dụng các qui trình nuôi tốt), nuôi có trách nhiệm (Responsible
Aquaculture Practice - RAP), quản lý vùng nuôi an toàn, nhằm tạo sản phẩm đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới và trong nước.
Hình thức nuôi phổ biến là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh,
thâm canh. Trong đó, diện tích nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm khoảng
20% diện tích để sản lượng nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm 51% tổng sản
Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 8


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

lượng tôm, sản lượng nuôi quảng canh cải tiến chiếm 35%, sản lượng tôm lúa, tôm
rừng chiếm 14% tổng sản lượng. Năng suất tôm nuôi quảng canh phấn đấu từ 0,350,45 tấn/ha, nuôi quảng canh cải tiến trên ruộng lúa (tôm lúa) đạt từ 0,4-0,5 tấn/ha,
nuôi tôm rừng 0,15-0,20 tấn/ha, nuôi thâm canh-bán thâm canh đạt trung bình 2,03,5 tấn/ha. Hiện tại năng suất tôm nuôi trung bình của vùng đạt 0,7 tấn/ha/năm và
phấn đấu đến năm 2015 đạt 0,85 tấn/ha. Tổng sản lượng tôm sú nuôi vùng ĐBSCL
sẽ tăng từ 386.400 tấn năm 2010 lên 463.000 tấn năm 2015. Trong đó sản lượng


Trang 9


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

456,6 triệu m3/ bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy
sản) gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và
dịch bệnh phát sinh.
Ước tính mỗi năm, việc nuôi trồng thủy sản đã thải ra môi trường nước xấp
xỉ 3 triệu tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần như chưa được xử lý. Chất thải trong
nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản tôm cá, các nguồn
thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng
trong nuôi trồng như: hóa chất, vôi và các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu
huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các
thành phần chứa H2S, NH3... là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập
nước tạo thành, nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản thải ra
hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi. Đặc biệt, với các mô hình nuôi
kỹ thuật cao, mật độ nuôi lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp... thì nguồn
thải càng lớn và tác động gây ô nhiễm môi trường càng cao.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy: Chỉ có 17% trọng lượng khô của thức
ăn cung cấp cho ao nuôi được chuyển thành sinh khối, phần còn lại được thải ra môi
trường dưới dạng phân và chất hữu cơ dư thừa thối rữa vào môi trường. Đối với các
ao nuôi công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là
các chất hữu cơ khác. Các loại chất thải chứa nitơ và phốtpho ở hàm lượng cao gây
nên hiện tượng phú dưỡng môi trường nước phát sinh tảo độc trong môi trường nuôi
trồng thủy sản. Đặc biệt, nguồn chất thải này lan truyền rất nhanh đối với hệ thống
nuôi cá bè trên sông, nuôi cá bao ví trong các đầm trũng ngập nước... cùng với
lượng phù sa lan truyền có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát
sinh trong môi trường nước.

trường và dịch bệnh tôm, cá trong nuôi trồng. Các nguồn thải ra sông rạch đã tác
động làm cho môi trường nước bị biến đổi.
Chất lượng nước trong các ao nuôi thủy sản gồm cá nước ngọt, nuôi tôm ven
biển đặc biệt là trong các mô hình nuôi công nghiệp đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm
hữu cơ (BOD, COD, nitơ, phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép), có sự xuất hiện
các thành phần độc hại như H2S, NH3+, và chỉ số vi sinh Coliforms, đã cho thấy
nguồn nước thải này cần phải được xử lý triệt để trước lúc thải ra sông rạch.
Môi trường nước ở vùng ngọt hóa có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, các vi sinh
trong nước Coliforms, độ đục, amoniac trong nước... ảnh hưởng đến chất lượng môi
trường nước, đặc biệt là nước dùng cho nhu cầu cấp nước. Môi trường nước ở vùng
mặn hóa ven biển hàm lượng sắt (phèn hóa) trong nước do quá trình phèn hóa mạnh
mẽ, N-NH3, Coliforms... gây ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, đặc biệt độ đục
môi trường cao do nước phù sa và quá trình đào đắp sên vét ao nuôi tôm phát sinh
không được xử lý thải ra môi trường.

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 11


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

Sự gia tăng diện tích nuôi trồng thiếu định hướng và chưa phù hợp với quy
hoạch sử dụng nguồn nước hiện nay đang là một nguy cơ gây suy thoái chất lượng
nước.Các kênh rạch nhỏ ô nhiễm trầm trọng đã và đang ảnh hưởng đến khả năng tự
làm sạch của nguồn nước và đe dọa tính bền vững của nghề cá vùng ĐBSCL.
Quá trình chuyển dịch trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản diễn ra quy mô lớn
ở vùng mặn hóa ven biển làm gia tăng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Tác
động làm suy giảm rừng ngập mặn ven biển tiếp tục diễn ra ảnh hưởng đến các hệ
sinh thái rừng ngập mặn. Nuôi cá bè trên sông rạch, nuôi thâm canh thủy sản vùng

chiếm tỷ lệ cao (98% tổng số hộ nuôi).
-

Những người nuôi cá thường sử dụng các hóa chất vệ sinh cải tạo ao nuôi,

các vật tư chuyên dụng như vôi bột, chế phẩm sinh hóa học và các loại thuốc kháng
sinh, chất kích thích tăng trưởng cá với số lượng nhiều và gây nguồn nước ngày
càng trở nên ô nhiễm (Phạm Đình Đôn, 2008).
III.

ẢNH HƯỞNG TỪ CHẤT THẢI CỦA AO NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 12


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

Các công nghệ về sản xuất con giống, thức ăn, quy trình nuôi thủy sản thâm
canh ngày càng hoàn thiện, quy mô nuôi ngày càng tăng. Hoạt động này sẽ gây ra
áp lực tác động tiêu cực đến môi trường.
Vùng ĐBSCL đang phải gánh chịu sự suy giảm chất lượng nước ô nhiễm
môi trường do việc bùng phát thâm canh nuôi trồng thủy sản trong suốt hai thập
niên qua, cả về diện tích nuôi và mật độ nuôi thả tôm hoặc cá trên mỗi mét vuông
mặt nước. Một cách tính gần đúng, muốn có 1 kg cá da trơn thành phẩm, người
nông dân đã phải sử dụng từ 3 - 5 kg thức ăn. Thực tế chỉ khoảng 17%- 20 % thức
ăn được cá hấp thu và phần còn lại (chừng 80%) lẫn trong môi trường nước , lắng
xuống đáy và trở thành các chất hữu cơ phân hủy, đối với các ao nuôi công nghiệp,
chất thải trong ao có thể chứa 45% ni tơ và 22% chất hữu cơ khác, các nguồn khác

Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

FCR=1,6
Chất thải phát sinh
Bằng 80% thức ăn khô
Chất thải dạng N
37% N được cá hấp thu
Chất thải dạng P
45% P được cá hấp thu
Chất thải dạng
0,22 kg BOD5/kg thức
BOD5
Khả

năng

ăn

(Wimberly, 1990)
phú
Bằng 2- 3 lần lượng thức ăn sử

192
7,6
2,88
52
480-7420

dưỡng của tảo
dụng


trong môi trường nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt, nguồn chất thải này lan truyền rất
nhanh đối với hệ thống nuôi cá bè trên sông, nuôi cá bao ví trong các đầm trũng
ngập nước... cùng với lượng phù sa lan truyền có thể gây ô nhiễm môi trường và
dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước.
2. Môi trường đất
Nước thải từ ao nuôi không được xử lý thải trực tiếp ra môi trường đất dẫn
đến tình trạng suy thoái môi trường đất .Việc đào đắp ao nuôi thủy sản, đào kinh
rạch cấp và thoát nước cũng như việc vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch đã làm cho
tầng phèn tiềm ẩn bị tác động bởi quá trình ôxy hóa sẽ diễn ra quá trình lan truyền
phèn rất mãnh liệt làm giảm độ pH môi trường nước, gây ô nhiễm môi trường và
dịch bệnh trong nuôi trồng.
Thêm vào đó, trong nước thải chứa rất nhiều đạm nếu không được quản lý
mà thải ồ ạt ra ruộng sẽ làm thừa đạm. Điển hình hàng trăm hộ dân ở thị trấn Tràm
Chim, huyện Tam Nông (Đồng Tháp) thu hoạch lúa với năng suất chỉ bằng 20-30%
nơi khác do trại nuôi cá gần đó xả nước thải ra ruộng làm lúa bị thừa đạm, lép hạt,
thậm chí thối hạt không thu hoạch được.
3. Ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Nguồn tài nguyên nước ở những khu vực nuôi đang biến đổi cả về trạng thái
và chất lượng… không những đe dọa đến phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội
mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các hệ sinh thái gần khu vực nuôi
(Phạm Đình Đôn.2007).
Hằng ngày, tại những vùng nuôi thuỷ sản tập trung thải ra một lượng lớn
nước thải làm cho nước ở những nơi này bị biến màu, người dân nghèo tại các khu
vực đó không có nước sạch nên phải sử dụng nguồn nước bị nhiễm bẩn này cho
sinh hoạt hàng ngày vì thế đã có dấu hiệu mắc một số chứng bệnh về da như: nỗi
mẫn đỏ, ngứa ngấy da,…. (An Nông. 2008)
Thêm vào đó bùn thải từ ao nuôi chứa nhiều vi khuẩn, vi rút, protozoa, ký
sinh trùng và các vi sinh vật khác có thể gây bệnh. Sử dụng bùn đáy ao nuôi để tạo
độ ẩm cho đất, dùng làm phân bón trực tiếp cho đất…đối với bùn đặc chưa được xử


Mở lớp tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người nuôi, nhằm
nâng cao khả năng quản lý, ứng dụng kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất
(Khoa học công nghệ và kinh tế thủy sản, 2007).

-

Chính quyền các cấp cần tập trung quan tâm đến bảo vệ môi trường trong
nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường trong các trang trại vùng sản xuất
nuôi trồng kinh tế hộ, bảo vệ môi trường nuôi thủy sản trên sông rạch...
nhằm giải quyết vấn đề cấp và thoát nước trong nuôi trồng thủy sản.

-

Quản lý và xử lý chất thải nuôi từ các ao nuôi,các vật tư hóa chất, các ch ế
phẩm hóa học và sinh học sử dụng trong các mô hình canh tác ở các vùng
kinh tế đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và hạn chế dịch bệnh nuôi trồng thủy
sản lây nhiễm để phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.

-

Tổ chức kiểm tra thực tế và buộc người dân cam kết khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường. Đồng thời, các địa phương nên yêu cầu các hộ nuôi cá
liền kề nhau có thể liên kết lại để xây dựng ao xử lý nước thải, bùn đáy ao
trước khi đổ ra sông, rạch.

-

Xây dựng quỹ bảo vệ môi trường nuôi thủy sản. Nguồn quỹ này do người
nuôi thủy sản đóng góp và sẽ sử dụng cho việc khắc phục tình trạng ô nhiễn

thái nhạy cảm với các vùng tiềm năng trong phát triển các mô hình canh tác
thủy sản nước mặn, nước ngọt và nước lợ... theo các cấp độ từ thấp tới cao
như nuôi trồng thủy sản tự nhiên, mật độ thấp, mô hình hợp sinh thái... cho
đến nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp để bảo đảm cho phát triển lâu dài và
bền vững nuôi trồng thủy sản ở ÐBSCL.

-

Quy hoạch thủy sản phải gắn liền với quy hoạch môi trường trong các hệ
canh tác của các loại mô hình nuôi trồng thủy sản. Ðối với mô hình nuôi
trồng thủy sản thâm canh và công nghiệp, cần tập trung giải quyết vấn đề xử
lý nước cấp, quản lý chất lượng nước và xử lý chất thải nuôi trồng thủy sản
và quản lý dịch hại tổng hợp trong các mô hình canh tác.

3. Giải pháp về khoa học - kỹ thuật:
-

Khuyến khích người dân nuôi thủy sản thâm canh theo tiêu chuẩn nhà nước
hay các tiêu chuẩn quốc tế khác thân thiện với môi trường.

-

Đầu tư nghiên cứu làm rõ về thành phần chất thải theo thời gian nuôi thủy
sản, xác định rõ tải lượng các chất ô nhiễm từ các ao nuôi để trên cơ sở đó
tính toán diện tích và cách thức xử lý cho phù hợp.

-

Với đặc tính lượng chất thải lớn, thành phần chủ yếu là các chất dễ phân hủy
sinh học, các khu nuôi nằm gần các vùng sản xuất nông nghiệp nên giải pháp

nitrat hóa, vi sinh vật sunphat hóa, vi sinh vật quang hợp lưu huỳnh màu tía.
Khi sử dụng với liều lượng hợp lý cho hồ nuôi tôm cá, chế phẩm Hud5 tạo
sự cân bằng sinh thái cho hồ nuôi với sự có mặt của tôm (cá), tảo, thức ăn thừa,
phân của tôm cá. Cân bằng được đẩy lên cao mà không gây ô nhiễm nhờ sinh khối
và chất thải của cá thể này là thức ăn của cá thể khác.( Viện Hoá học các hợp chất
thiên nhiên,2010).
• Xử lý bằng chế phẩm SEMSR:
Làm sạch nước trong các ao tù, nước đọng lâu ngày, phục hồi hệ sinh thái
thủy vực tự nhiên để có thể nuôi được tôm cá. Xử lý nước và ngăn chặn hiện tượng
“phú dưỡng hóa” - nước có nhiều tảo có màu xanh lá cây trong các nước ao nuôi
thủy sản, làm sạch nền.

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 18


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

• Xử lý bằng chế phẩm EM kết hợp PAC:
-

EM: men vi sinh dùng trong xử lý môi trường thủy sản (tôm, cá,…), xử
lý đáy ao; phân hủy xác bã hữu cơ, thức ăn thừa làm giảm độ đục, khử
nitrat, nitric, tăng vi sinh vật có ích trong nước,…phòng ngừa nhiễm bệnh
do ô nhiễm.

-

PAC: có tác dụng lắng tụ nhanh các chất rắn lơ lửng, chất thải của tôm

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 19


Ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản đến môi trường ở ĐBSCL

về bảo vệ môi trường. Đồng thời, các địa phương nên yêu cầu các hộ nuôi cá liền kề
nhau có thể liên kết lại để xây dựng ao xử lý nước thải, bùn đáy ao trước khi đổ ra
sông, rạch.
- Nhà nước nên kết hợp với các viện, trường hay các tổ chức khoa học để
nghiên cứu các vấn đề về giống, nuôi trồng, bệnh, môi trường thủy sản; bảo vệ và
phát triển nguồn lợi thuỷ sản; công nghệ sau thu hoạch; nghiên cứu ứng dụng kỹ
thuật và công nghệ mới vào sản xuất, xây dựng đề án phát triển thủy sản bền vững,
tránh ô nhiễm môi trường nước.
- Khuyến khích các hộ nuôi thủy sản tập trung áp dụng các biện pháp xử lý
chất thải từ ao nuôi để hạn chế lượng chất thải ra môi trường.
- Nhà nước sớm ban hành qui trình nuôi bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh
thực phẩm, bảo vệ môi trường theo chuẩn quốc tế; ban hành qui chuẩn quốc gia,
tiêu chuẩn kỹ thuật thủy sản nguyên liệu, thức ăn nuôi để có cơ sở kiểm tra, quản lý
chất lượng trong sản xuất kinh doanh, lưu thông phân phối mặt hàng này.

Quản lý môi trường nông nghiệp

Trang 20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status