1
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2000.
Tuy nhiên đến tận năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam thật sự hoạt
động sôi động, tăng tốc và phát triển quá nóng trong thời gian những tháng gần
đây, TTCK đã được công chúng và các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, tham gia
đông đảo với tư cách nhà đầu tư, muốn kiếm tiền qua đầu tư chứng khoán. Cùng
với việc ban hành Luật Chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
ra đời, TTGDCK TP Hồ Chí Minh nâng cấp thành SGDCK TP Hồ Chí Minh,
Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn có tác
động tích cực điều chỉnh hoạt động cuả thị trường chứng khoán. Năm 20062007 là năm cột mốc đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của TTCK Việt Nam
do trong năm có nhiều sự kiện lịch sử tác động mạnh đến thị trường chứng
khoán Việt Nam như việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO kể từ ngày
11/01/2007, Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC14, Tổng thống Mỹ
George W. Bush đến thăm TTGDCK TP Hồ Chí Minh cũng như những lời nhận
định đầy khả quan về tốc độ phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt
Nam trong tương lai từ các chính khách, doanh nhân và báo giới nước ngoài…
đã cộng hưởng lại tạo ra một cơn sóng đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt
Nam.
Đây là một lợi thế cho sự tăng tốc của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trứơc những tiềm năng cơ hội và
những thách thức mới, thị trường chứng khoán Việt Nam có khả năng hoàn
thiện và phát triển nhanh trong những năm sắp tới góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế đất nước. Năm 2006 lượng vốn lưu thông qua kênh chứng khoán
là hơn 220.000 ngàn tỷ đồng, lớn hơn nhiều so với dự kiến ban đầu. Số lượng
công ty chứng khoán cũng tăng nhanh trong cuối năm 2006 lên tới hơn 50 công
ty. Tuy đạt được những con số khá ấn tượng như vậy song một vấn đề vẫn còn
CHNG I
3
NHNG VN Lí LUN C BN V HOT NG
MễI GII CHNG KHON V PHP LUT IU CHNH
HOT NG MễI GII CHNG KHON.
1.1.Khỏi quỏt chung v hot ng mụi gii chng khoỏn.
1.1.1. Khỏi nim, c im ca hot ng mụi gii chng khoỏn.
1.1.1.1. S cn thit khỏch quan ca hot ng mụi gii chng khoỏn
trờn th trng chng khoỏn.
Nn kinh t th trng phỏt trin, tt yu n n s hỡnh thnh v phỏt
trin ca th trng ti chớnh m nh cao l th trng chng khoỏn. Trờn th
trng ny ngi ta mua bỏn nhng ti sn ti chớnh. Ti sn ti chớnh l mt
cụng c giỳp cho ngi cn vn cú th huy ng c vn cho sn xut kinh
doanh. Ti sn ti chớnh l phng tin u t cho ngi cú vn nhn ri cú
c c hi cú li nhun. Quỏ trỡnh phỏt trin khụng ngng ca th trng ó
dn n s ra i ca nhng ti sn ti chớnh mi. Nhng cụng c ngy cho
phộp m rng th trng, chia s ri ro, ti a hoỏ li nhun. Cựng vi s xut
hin ca th trng chng khoỏn, hot ng mụi gii chng khoỏn cng xut
hin nh l mt tt yu khỏch quan i vi hot ng mua bỏn trờn th trng
chng khoỏn 1. Bi vỡ:
Th trng chng khoỏn l ni din ra s lu thụng ca nhiu sn phm
chng khoỏn ca cỏc ngnh kinh t a dng m chng khoỏn l loi hng hoỏ
c bit nú khỏc vi cỏc hng hoỏ thụng thng im ch: Giỏ tr ca chng
khoỏn khụng c kt tinh vo kt cu lý hoỏ ca bn thõn nú m nú ph thuc
vo tỡnh hỡnh hot ng ca t chc phỏt hnh. ỏnh giỏ chớnh xỏc giỏ tr
thc ca nú thỡ ngi u t phi cú thụng tin ỏng tin cy v phi cp nht
khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Những người môi giới chứng khoán
không hoạt động với tư cách cá nhân mà họ thường tập hợp thành các công ty để
hoạt động trong thị trường chứng khoán gọi là công ty môi giơí chứng khoán
hay công ty chứng khoán.
Trong thị trường chứng khoán bao giờ cũng có người cần mua, người cần
bán chứng khoán nhưng họ không biết nhau. Nếu họ tự đi tìm đối tác thì rất mất
thời gian có khi còn bị ép giá. Cách tốt nhất họ uỷ quyền cho những người
chuyên thu thập các nguyện vọng kiểu này đó chính là các nhà môi giới chứng
khoán. Theo cách này cơ hội gặp nhau của người mua, người bán lại chứng
khoán dễ gặp nhau mà thời gian và chi phí cho những giao dịch này lại thấp. Để
thu thập được nhiều nguyện vọng của người mua, người bán giúp cho nhiều giao
dịch được thực hiện có nhiều nhà môi giới chứng khoán làm việc này, các nhà
5
môi giới liên kết nhau lại để thành lập công ty gọi là công ty môi giới chứng
khoán. Tuy nhiên có hiện tượng người bán lại uỷ quyền cho công ty này, người
mua uỷ quyền cho công ty khác dẫn đến việc mua bán không thực hiện được.
Giải pháp để khắc phục tình trạng này là các công ty môi giới cử ra một đại
diện, những người đại diện đó tập trung lại với nhau ở một địa điểm 2. Những
nhân viên của từng công ty đi liên hệ nhận các lệnh mua, bán của khách hàng rồi
chuyển các lệnh này về trụ sở công ty. Từ trụ sở của công ty lệnh được truyền
đến người đại diện của công ty tại điểm tập trung, tại đây sẽ thực hiện việc ghép
lệnh trên nguyên tắc: ưu tiên về giá, ưu tiên về thời gian, ưu tiên về số lượng.
Nhờ việc khớp lệnh theo nguyên tắc trên mà giá cả mua bán được công bằng.
Nơi tập trung của người đại diện các công ty môi giới chính là Trung tâm giao
dịch chứng khoán hoặc Sở giao dịch chứng khoán3.
Nói chung công ty chứng khoán không tham gia việc tạo ra giá trị của
chứng khoán cũng không trực tiếp quyết định giá chứng khoán thay cho khách
hàng, song sự xuất hiện của họ đã giúp cho việc định giá chứng khoán được diễn
để phản ứng có thể xảy ra hoặc với hiệu suất thì chất xúc tác lại không thể thiếu.
GS TS Lê Văn Tư đã viết: “ Nhờ có sự hoạt động của công ty chứng khoán mà
chứng khoán được lưu thông buôn bán tấp nập, qua đó một lượng vốn khổng lồ
được tập hợp từ những nguồn vốn lẻ của các nhà đầu tư đưa vào sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế4”
1.1.1.2. Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động điển hình của các tổ chức kinh doanh
hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán. Hoạt động môi giới chứng khoán có ảnh
hưởng khá lớn đến xu hướng đầu tư, nó có vai trò thúc đẩy thị trường chứng
khoán phát triển hoặc cản trở sự phát triển của thị trường chứng khoán Chính vì
vậy, hầu hết các nước đều qui định chỉ có một số tổ chức kinh doanh (thông
thường là công ty chứng khoán) được phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng
khoán.
Hoạt động môi giới chứng khoán được định nghĩa: Là hoạt động kinh
doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán làm trung gian đại diện cho
khách hàng, tiến hành mua hoặc bán chứng khoán cho khách hàng và được
hưởng hoa hồng từ hoạt động đó.
Theo qui định của Luật chứng khoán 2006 thì “môi giới chứng khoán là
việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho
khách hàng”.
4
Thị trường chứng khoán – GSTS Lê Văn Tư – Nxb Thống Kê/2005. Trang 181
7
Môi giới chứng khoán cũng giống với các hình thức môi giới nói chung là
chủ thể môi giới đóng vai trò làm trung gian trong quan hệ giữa người mua với
người bán và không bị đặt trước rủi ro thua lỗ hay mất vốn. Khi giao dịch mua
bán đó được thực hiện chủ thể môi giới sẽ được hưỏng phí môi giới trên giá trị
Hoạt động môi giới khác
8
Đối tượng
Các loại chứng khoán
Các tài sản, hàng hoá, hoặc
môi giới
Chủ thể
dịch vụ khác
Công ty chứng khoán – thông Tổ chức hoặc cá nhân
môi giới
qua nhân viên làm nghiệp vụ
Tư
môi giới
cách Đại diện cho người bán hoặc Giới thiệu về người cung cấp
người
môi người mua
giới
chỉnh
thương mại, hoặc dân sự
Hoạt động môi giới chứng khoán được triển khai trong sự phối hợp giữa
công ty chứng khoán và những người môi giới. Công ty chứng khoán là nơi
cung cấp các điều kiện vật chất và thể chế, còn người môi giới triển khai quá
trình tác nghiệp mang tính cá nhân tới từng khách hàng.
Trong hoạt động môi giới chứng khoán hàm lượng tư vấn rất đáng kể là
quá trình cung cấp một dải dịch vụ từ việc đưa ra sự giải thích, những ý tưởng
đầu tư hay lời khuyên mang tính thời điểm hay mang tính chiến lược và giúp
người đầu tư thực hiện được các giao dịch theo cách có lợi nhất. Công ty môi
giới chứng khoán thông qua các nhân viên bán hàng cung cấp cho khách hàng
9
các báo cáo nghiên cứu những khuyến nghị đầu tư, nguồn thông tin quan trọng
này do bộ phận nghiên cứu trong công ty thu thập và xử lý nó đòi hỏi những
khoản đầu tư khổng lồ cho hệ thống thiết bị, nhân lực mà chỉ có công ty mới có
khả năng tài chính để trang trải. Nhờ nguồn thông tin được xử lý công phu tốn
kém, người môi giới có đủ tri thức trở thành nhà tư vấn tài chính riêng của
khách hàng.
Khi khách hàng quyết định bán hoặc mua chứng khoán nhà môi giới
chứng khoán tiến hành thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm một
loạt các công việc từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành
giao dịch, xác nhận giao dịch, thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách
hàng. Sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới tiếp tục chăm sóc
khách hàng (đưa ra khuyến cáo, cung cấp thông tin và tình hình tài chính của
khách hàng từ đó đề xuất những giải pháp hay chiến lược mới thích hợp).
- Môi giới chứng khoán là một lĩnh vực nhạy cảm về lợi ích không thể
- Chủ thể môi giới chứng khoán khi thực hiện hành vi mua bán chứng
khoán không phải tính chuyện lời lỗ. Người môi giới không sở hữu chứng khoán
nên không bị đặt trứơc bất cứ rủi ro nào mà mình thay mặt khách hàng giao
dịch.
- Chủ thể thực hiện hành vi môi giới chứng khoán sẽ được hưỏng phí môi
giới trên giá trị lượng chứng khoán mà họ môi giới .
- Người môi giới không có tư cách làm giá. Giá chứng khoán mua vào
bán ra được thực hiện theo lệnh của người mua, bán được môi giới.
- Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian khá phức tạp
không chỉ đại diện cho khách hàng thực hiện các lệnh mua bán chứng khoán
theo yêu cầu của họ, mà còn là cung cấp một dải dịch vụ khác đi kèm (môi giới
dịch vụ đầy đủ ). Tuy nhiên cũng có khi chỉ đơn thuần là người thực hiện việc
mua bán thay cho khách hàng vì mọi hoạt động mua bán chứng khoán phải qua
trung gian (môi giới giảm giá). Đối với hoạt động môi giới thương mại, người
môi giới thông thường trong các trường hợp là trung gian giới thiệu các bên có
nhu cầu mua bán gặp nhau. Việc kí kết hợp đồng do chính các bên tự thực hiện.
1.1.2. Chức năng cơ bản của hoạt động mua bán chứng khoán
11
a) Chức năng thay mặt khách hàng thực hiện giao dịch mua bán chứng
khoán
Đây là chức năng quan trọng và đặc trưng của thị trường chứng khoán
Không một loại thị trường nào mà việc mua bán lại có những qui định chặt chẽ
và đặc biệt như thị trường chứng khoán: phải qua hệ thống trung gian môi giới.
Theo đó, những người môi giới sẽ là trung gian thực hiện việc mua bán chứng
khoán cho khách hàng. Việc mua bán qua trung gian là chế định bắt buộc với bất
kì nhà đầu tư nào, trừ công ty chứng khoán hoạt động mua bán chứng khoán cho
mình trên cơ sở nghiệp vụ tự doanh chứng khoán đã được cơ quan nhà nước cấp
giấy phép.
khoỏn hay khụng chuyn giao tin theo hp ng. Khi cụng ty chng khoỏn
thc hin chc nng ny, h c nhn mt khon phớ hoa hng trờn giỏ tr
chng khoỏn m khỏch hng ca h mua hay bỏn.
Cụng ty mụi gii chng khoỏn l ni bo m nhng iu kin vt cht
gm a im, h thng mỏy múc thit b ni mng vi s giao dch vi nhõn
viờn tỏc nghip v cú quy ch quỏ trỡnh ú c thc hin nhanh chúng chớnh
xỏc hiu qu, ng thi khi cú tranh chp thỡ cú th x lý mt cỏch tho ỏng.
thc hin c chc nng ny, cụng ty chng khoỏn c t chc theo chc
nng phũng ban phự hp vi quy trỡnh hot ng cht ch khoa hc.
b) Chc nng cung cp thụng tin v t vn cho khỏch hng.
Ngoi chc nng c bn ca hot ng mụi gii chng khoỏn l thay mt
khỏch hng thc hin lnh mua bỏn chng khoỏn thỡ õy l mt chc nng quan
trng i vi s hot ng lnh mnh ca th trng v li ớch ca nh u t l
khỏch hng.
Cụng ty chng khoỏn thụng qua cỏc nhõn viờn bỏn hng cung cp cho
khỏch hng cỏc bỏo cỏo nghiờn cu v nhng khuyn ngh u t. lm c
vic ny thng cú mt b phn nghiờn cu trong cụng ty. Vic thu thp v x
lý thụng tin ũi hi nhng khon u t khng l cho h thng thit b v nhõn
lc m ch cú cụng ty mi cú kh nng ti chớnh trang tri 5. Hng tun b
phn nghiờn cu cung cp cho nh mụi gii mt khi lng thụng tin nghiờn
5
Các công ty lớn của Mỹ hàng năm giành 30 triệu USD cho hoạt động nghiên cứu đầu t, những hãng lớn sử dụng
tới hàng trăm nhà phân tích đầu t và các trợ lý nghiên cứu để bám sát hoạt động của hàng trăm công ty đại chúng.
13
cứu khổng lồ là kết quả tổng hợp và phân tích của công ty, kèm theo đó là
những lời khuyến nghị cụ thể về loại chứng khoán cần mua, bán. Nhân viên môi
giới sử dụng những thông tin này để cung cấp cho khách hàng của mình theo
nghe khách hàng không chỉ về tình hình tài chính của họ mà cả những căng
thẳng tâm lý của họ có liên quan đến các vấn đề tài chính vì thế người môi giới
phải giải pháp thích hợp hoặc chia sẻ, giải toả những căng thẳng về tâm lý đối
với họ. Tìm một nhà môi giới chứng khoán giỏi nghề như tìm cho mình một bác
sĩ riêng, một luật sư và một kế toán riêng.
Thị trường chứng khoán là một thị trường phức tạp của nền kinh tế hiện
đại, những biến động của nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của nền
kinh tế. Thị trường chứng khoán dễ dàng bị tác động bởi bất cứ một sự kiện nào
còn các nhà đầu tư dễ bị ảnh hưởng bởi xu hướng đầu tư. Một đặc điểm của thị
trường chứng khoán nữa là dễ bị đầu cơ. Cần phải có những thông tin về thị
trường, những lời khuyên đầu tư và sự cảnh báo chứng khoán cho nhà đầu tư.
Tổ chức môi giới là người có chuyên môn và dễ tiếp cận nhất thực hiện chức
năng này vì khách hàng. Các loại thông tin và tư vấn mà nhà đầu tư có thể thực
hiện cho khách hàng của mình là:
- Thông tin về loại chứng khoán về công ty niêm yết, tình hình hoạt động
kinh doanh của công ty phát hành.
- Thông tin về xu hướng thị trường, tình hình thị trường chứng khoán thế
giới ,đưa ra các phân tích về tác động trong tương lai.
- Đưa ra các lời cảnh báo, tư vấn đầu tư vào lĩnh vực, loại chứng khoán…
c) Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện
các giao dịch theo yêu cầu và lợi ích của họ.
Hoạt động môi giới chứng khoán của nhà môi giới cho khách hàng sẽ diễn
ra theo qui trình:
1) Khách hàng và công ty chứng khoán kí tài khoản mở giao dịch. Đây là
tài khoản giao dịch của khách hàng khi thực hiện các thương vụ mua bán chứng
khoán.
2) Khách hàng phải ký quĩ tiền và chứng khoán để đảm bảo thực hiện
giao dich.
16
ii)Mở tài khoản ký quĩ cho khách hàng.
Khi khách hàng muốn đặt lệnh mua chứng khoán, họ phải mở một tài
khoản phong toả tại công ty chứng khoán để đảm bảo thực hiện giao dịch. Số
tiền phải kí quĩ gửi trong tài khoản được tính theo giá trị lượng chứng khoán đặt
mua, thường là trên 70%. Việc yêu cầu khách hàng phải kí quĩ ở mức cao như
vậy (các giao dịch khác thường chỉ là 10% giá trị giao dịch) vì : Giá cả của thị
trường chứng khoán khoán biến động rất nhanh, hôm nay cao nhưng ngày mai
có thể thấp đỉnh điểm. Nếu mức kí quĩ thấp, trong trường hợp giá chứng khoán
giảm mạnh thì đôi khi việc từ bỏ giao dịch còn thiệt hại ít hơn cho người mua
nếu mua vào để rồi phải bán ra với giá thấp, thậm chí là chứng khoán không còn
giá trị. Hơn nữa, số lượng nhà đầu tư chứng khoán riêng lẻ rất lớn, tổng lượng
chứng khoán họ đầu tư không thật sự lớn. Việc qui định mức kí quĩ thấp dễ
khiến những nhà đầu tư này từ chối nhận chứng khoán khi giao dịch đã được
thực hiện vì số tiền phạt kí quĩ không lớn với họ. Tuy nhiên nếu một lượng lớn
khách hàng như vậy từ bỏ không thực hiện nghĩa vụ sẽ gây thiệt hại đáng kể cho
các công ty chứng khoán .
Nếu các nhà đầu tư dễ dàng từ bỏ nghĩa vụ nhận chứng khoán và thanh
toán tiền cho bên bán sẽ là hiểm hoạ cho các công ty chứng khoán vì họ sẽ phải
mất rất nhiều công sức để huỷ bỏ giao dịch, thiệt hại cho người bán, gây bất ổn
cho thị trường chứng khoán vì khả năng từ chối giao dịch làm giảm tính thanh
khoản của chứng khoán. Do vậy việc qui định mức kí quĩ cao là cần thiết để bảo
đảm quyền lợi của các bên trong giao dịch mua bán chứng khoán, bảo vệ thị
trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và lành mạnh kích thích nền kinh tế
phát triển.
Việc công ty chứng khoán là tổ chức duy nhất được mở tài khoản kí quĩ
(cũng như tài khoản giao dịch trong thương vụ mua bán chứng khoán) không chỉ
đảm bảo quyền lợi cho người môi giới mà còn giúp giao dịch tiến hành thuận lợi
Các tổ chức cung ứng các dịch vụ đăng kí, lưu kí chứng khoán là ngân
hàng lưu kí và công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ lưu kí chứng
khoán. Các ngân hàng lưu kí chủ yếu thực hiện lưu kí chứng khoán cho các quĩ
đại chúng với tư cách là một nghiệp vụ độc lập, chứng khoán của các quĩ này
18
buộc phải lưu kí ở một ngân hàng lưu kí. Hoạt động lưu kí mà công ty chứng
khoán cung ứng chủ yếu là phục vụ khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán
tại công ty chứng khoán Những khách hàng có sở hữu một lượng chứng khoán
nhất định đều phải lưu kí ở công ty chứng khoán mà đã thực hiện môi giới mua
vào lượng chứng khoán đó. Chứng khoán của khách hàng sẽ được công ty
chứng khoán lưu giữ, bảo quản (bao gồm cả chứng khoán vật chất và chứng
khoán ghi sổ). Việc công ty chứng khoán thực hiện dịch vụ đăng kí lưu kí chứng
khoán cho khách hàng vừa là một nghiệp vụ kinh doanh thu lợi nhuận, vừa tạo
sự thuận lợi cho khách hàng thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sở hữư
chứng khoán (như quyền chuyển nhượng chứng khoán khi muốn bán ra). Công
ty chứng khoán mà nhà đầu tư lựa chọn làm người môi giới cho mình là cầu nối,
kênh thông tin giữa nhà đầu tư với các chủ thể khác của thị trường chứng khoán
trong một giao dịch chứng khoán, mặt khác, chỉ có thể là các công ty chứng
khoán mới có khả năng cung cấp những dịch vụ như thế tới một lượng lớn
khách hàng mà việc thay đổi quyền sở hữu chứng khoán từ nhà đầu tư này sang
nhà đầu tư khác diễn ra hàng ngày hàng giờ. Các công ty chứng khoán là người
trực tiếp nhận được thông tin về nhà đầu tư và thay nhà đầu tư thực hiện các
quyền sở hữu của họ. Công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đăng kí lưu kí
chứng khoán cho khách hàng của mình không chỉ là nghiệp vụ hỗ trợ cho hoạt
động môi giới chứng khoán mà còn là một chức năng cơ bản khó có thể thay thế
bởi một tổ chức tài chính nào khác của thị trường chứng khoán .
1.1.3. Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán .
a) Giảm chi phí giao dịch.
vụ khi giá cả có biến động là rất lớn. Phương thức này hoàn toàn không phù hợp
với loại hàng hoá cần tính thanh khoản cao như chứng khoán.
Trường hợp các SGDCK là nơi tập trung (chợ) để tất cả những người mua
và người bán đến đó để thực hiện giao dịch. SGDCK thực hiện vai trò gần giống
như người môi giới. Tức là chứng khoán sau khi niêm yết sẽ được lưu kí tại
TTLKCK nhưng SGDCK là nơi quản lí mọi thông tin về khách hàng bao gồm tổ
chức niêm yết, người sở hữu chứng khoán sau khi đã phát hành ra công chúng,
những nhà đầu tư vãng lai đặt lệnh mua bán ngắn hạn…SGDCK trở thành tổ
20
chức duy nhất thay thế cho các công ty chứng khoán thực hiện giao dịch mua
bán chứng khoán cho khách hàng song song với vai trò hiện tại là tổ chức giao
dịch hoàn tất theo phương thức khớp lệnh (hoặc thoả thuận).Vấn đề đặt ra là
SGDCK sẽ làm thế nào để thay thế số lượng các công ty chứng khoán thực hiện
hàng ngàn lệnh mua bán mỗi ngày, liệu tình trạng phân biệt đối xử khách hàng
hay nhiều lệnh của nhà đầu tư không được thực hiện xảy ra đến mức nào khi mà
ngay ở các công ty chứng khoán dù số lượng khách hàng đã được chia nhỏ cũng
đã không hiếm thấy. Việc không thực hiện lệnh cho khách hàng không những
gây thiệt hại cho khách hàng, làm nản lòng các nhà đầu tư và thiệt hại một số
lượng vốn lớn chảy vào nền kinh tế, làm giảm nhiệt thị trường chứng khoán,
giảm tính thanh khoản của hàng hoá chứng khoán. Thứ hai, việc SGDCK là nơi
tập trung mua bán chứng khoán duy nhất làm giảm khả năng tiếp cận thị trường
chứng khoán của rất nhiều nhà đầu tư cũng như tăng chi phí như đi lại, tư vấn.
Đối với các nhà đầu tư riêng lẻ, ngoài phương pháp đặt lệnh qua điện thoại hay
internet thì việc đặt lệnh trực tiếp tại cơ sở của một công ty chứng khoán là một
lựa chọn tốt. Khi các công ty chứng khoán có mặt ở khắp nơi, các nhà đầu tư có
thể dễ dàng đến với họ như một nguồn cung cấp thông tin và tư vấn đầu tư rồi
mới ra quyết định là sẽ đầu tư vào loại chứng khoán nào. Nếu không có người
môi giới, những nhà đầu tư này sẽ phải làm hai công đoạn là tìm đến một tổ
hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hay chỉ số chứng khoán”
Có thể nói chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt, nó phản ánh giá trị một
loại “hàng hoá khác” là tổ chức phát hành ra nó. Giá trị của chứng khoán sẽ cao
nếu giá trị của tổ chức phát hành cao và ngược lại. Điều này có nghĩa là giá trị
của chứng khoán sẽ tăng nếu tổ chức phát hành ra nó làm ăn có lãi, tăng qui mô
sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường và người nắm giữ chứng khoán sẽ có
lợi chứng khoán mà họ tăng giá. Tính thanh khoản của chứng khoán cũng tăng
vì số lượng người muốn năm giữ chứng khoán tăng. Mặc dù vậy tính thanh
khoản của chứng khoán còn phụ thuộc vào khả năng mức khả năng lưu thông,
tức là sự mua vào bán ra dễ dàng, điều này lại phần nào phụ thuộc vào cách thức
tổ chức thị trường cũng như sự hoạt động tích cực và hiệu quả của người môi
giới (vì họ là đầu mối đầu tiên để một thương vụ mua bán trên thị trường chứng
22
khoán xảy ra, nhờ có các công ty chứng khoán mà cổ phiếu, trái phiếu của các
công ty, tổ chức được buôn bán lưu thông tấp nập trên thị trường chứng khoán).
Phân tích này cho thấy tính thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào hai yếu
tố: khả năng sinh lời của chứng khoán (yếu tố bên trong) và khả năng lưu thông
dễ dàng (yếu tố bên ngoài). Việc góp phần làm tăng tính thanh khoản của chứng
khoán gián tiếp kích thích các tổ chức phát hành tăng chất lượng sản phẩm, dịch
vụ cung cấp ra thị trường nâng cao uy tín với khách hàng, hoạt động có lãi…Khi
các nhà đầu tư quan tâm đến chứng khoán của công ty cũng đồng nghĩa với việc
công ty có thể huy động thêm vốn bằng việc phát hành chứng khoán để mở rộng
qui mô sản xuất kinh doanh. Số vốn ở mỗi doanh nghiệp là chỉ tiêu đánh giá qui
mô của doanh nghiệp, khả năng chiếm lĩnh thị trường và sức mạnh để tồn tại và
phát triển. Số vốn kinh doanh biểu hiện thế lực của công ty trên thị trường và
sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp. Do vậy nhu cầu tăng cường vốn và nhu cầu mở rộng sản xuất
kinh doanh luôn đặt ra ở bất kì một doanh nghiệp lớn hay nhỏ.Trong xu thế hiện
khoán vì ngay cả khi tổ chức phát hành ra nó cam kết chúng tôi sẽ trả lãi, khi
chúng tôi làm ăn có lãi anh cũng được hưởng lợi như chúng tôi mà không phải
làm gì ngoài việc bỏ tiền ra mua tờ giấy đó.
Người ta tin vào cam kết đó, nó cũng gần giống như việc cho vay lãi đã
xuất hiện từ hàng ngàn năm, nhưng vấn đề là người ta chưa quen với việc cho
một tổ chức mà hoàn toàn không có mối liên hệ gia đình hay công việc vay lại
không có quyền quản lý với số vốn bỏ ra cho vay đó; hoặc việc công ty đó liệu
làm ăn có lãi như họ hứa không, khi cần tiền thì tờ giấy đó bán cho ai…các câu
hỏi được đặt ra và người ta quyết định không bỏ tiền vào hầu bao các nhà kinh
doanh đó nữa. Chỉ một số ít những người có tiền đầu tư vào con đường này,
nhưng chủ yếu là với tư cách cổ đông góp vốn. Việc mua đi bán lại chứng khoán
cũng hết sức vất vả. Ngày nay, khi thị trường chứng khoán đã phát triển, người
ta dễ dàng mua bán chứng khoán thông qua người môi giới chỉ bằng một câu
lệnh. Số lượng người quan tâm đầu tư vào chứng khoán tăng cao. Hầu hết các
công ty lớn trên thế giới là những công ty cổ phần có chứng khoán mạnh niêm
yết tại nhiều sở giao dịch. Tại các nứơc phát triển, hầu hết người dân hộ gia đình
24
đều mua chứng khoán của một công ty nào đó thay vì chỉ gửi tiết kiệm đơn
thuần ở các ngân hàng bởi khả năng sinh lời cao của chứng khoán thu hút họ
hơn là số tiền lãi tiết kiệm. Trên thực tế, khi cần huy động một lượng vốn lớn,
các tổ chức, công ty có uy tín, cơ quan nhà nứơc luôn chọn hình thức phát hành
chứng khoán từ đông đảo nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư tổ chức lẫn nhà đầu tư
riêng lẻ để có thể huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi từ công chúng. Các tổ
chức kinh tế thông thường phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các cơ quan
nhà nước có thể phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu
công trình, tín phiếu kho bạc…tuỳ vào cơ quan phát hành và mục đích huy động
vốn. Các nước trên thế giới đã rất thành công trong việc huy động vốn từ kênh
chứng khoán. Hàng tỷ đô la đã được đưa vào sản xuất kinh doanh cũng như xây
chưa chắc chắn hiểu về thị trường chứng khoán ,về loại chứng khoán mà họ nên
đầu tư hay các thông tin về tổ chức phát hành hoặc các thông tin về tình hình giá
cả, sự lên xuống, xu hướng thị trường; họ có thể bước ngay sang phòng bên
cạnh nơi những nhà tư vấn có kiến thức, có kinh nghiệm được trang bị những
phương tiện hỗ trợ để có thể nắm bắt thông tin và phân tích khoa học các số liệu
chứng khoán và đưa cho họ những lời khuyên tối ưu nhất.
Thứ ba, hoạt động môi giới chứng khoán góp phần vào việc tạo thêm
nhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cụ thể:
-Tác động trực tiếp.
Để có thể thực hiện đựơc hàng triệu lệnh mua và bán mỗi ngày, số lượng
nhân viên môi giới trên toàn thế giới ở các công ty chứng khoán là rất lớn. Nếu
không có dịch vụ môi giới chứng khoán xã hội sẽ phải gánh chịu gánh nặng giải
quyết vấn đề việc làm cho lực lượng này. Đây quả thật là con số không nhỏ,
không thể giải quyết trong một sớm một chiều cũng như không thể giải quyết
triệt để. Ngay cả các nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thì con số cũng trên 0%
và ở mức cần phải có chính sách để giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Lực lượng lao động mà một phần nhờ có hoạt động môi giới chứng khoán
được sinh ra là lực lượng nằm trong khối dịch vụ phái sinh như dịch vụ cho vay
cầm cố chứng khoán hay dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.
- Tác động gián tiếp.