Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại xã sơn thủy huyện kim bôi tỉnh hòa bình - Pdf 38

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BẠCH THỊ NHỊ
Tên đề tài :
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƢỢNG NƢỚC SINH HOẠT
TẠI XÃ SƠN THỦY, HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: CHÍNH QUY

Chuyên ngành

: KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG

Khoa

: MÔI TRƢỜNG

Khóa học

: 2011 - 2015

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



i

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại các
trường Đại học. Đây là thời gian giúp cho mỗi sinh viên làm quen với công
tác nghiên cứu khoa học, củng cố những kiến thức lý thuyết và vận dụng
những kiến thức đó vào thực tế. Thực tập tốt nghiệp là kết quả của quá trình
tiếp thu kiến thức thực tế, qua đó giúp cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm để
phục vụ cho quá trình công tác sau này.
Để đạt được mục tiêu trên, được sự nhất trí của khoa Môi Trường trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại xã Sơn Thủy, huyện Kim Bôi,
tỉnh Hòa Bình ’’.
Đề hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các
thầy, cô giáo trong khoa Môi trường, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn: Th.s
Nguyễn Thị Huệ, UBND xã Sơn Thủy và bà con nhân dân trong xã đã tạo
điều kiện cho em trong quá trình thực hiện khóa luận. Em xin được bày tỏ
lòng biết ơn tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kinh nghiệm và kiến thức bản
thân còn hạn chế nên bản luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu
xót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô và các bạn để khóa
luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 12 năm 2014
Sinh viên

Bạch Thị Nhị


Bảng 4.16. Thống kê các nguồn có nguy cơ sẽ gây ô nhiễm nước sinh hoạt từ hoạt
động nông nghiệp ....................................................................................54


iii

DANH MỤC CÁC TỪ CỤM TỪ VIẾT TẮT

BVMT

Bảo vệ môi trường

BVTV

Bảo vệ thực vật

BTNMT

Bộ tài nguyên môi trường

BYT

Bộ y tế

ĐNA

Đông Nam Á

LHQ


1.2.2. Yêu cầ u của đề tài ............................................................................. 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ................................ 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ..................................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Cơ sở lý luận ......................................................................................... 4
2.1.1 Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường .................................. 4
2.1.2. Nước và một số khái niệm liên quan đến tài nguyên nước ............. 4
2.2. Cơ sở pháp lý .......................................................................................... 5
2.3. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 7
2.3.1. Vai trò của nước đối với con người .................................................. 7
2.3.2 Vai trò của nước đối với sinh vật....................................................... 8
2.3.3. Vai trò của nước đối với sản xuất phục vụ cho đời sống con người 8
2.3.4. Hậu quả của việc khan hiếm nguồn nước ....................................... 10
2.4. Các loại ô nhiễm nước .......................................................................... 11
2.5. Các phương pháp trong xử lý nước sinh hoạt ....................................... 12
2.6. Tình hình sử dụng nước trên thế giới và ở Việt Nam ........................... 15
2.6.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới ............................................. 15
2.6.2. Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam .............................................. 18
2.6.3 Tình hình sử dụng nước ở Hòa Bình ............................................... 23
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 26
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 26
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 26
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 26
3.4.1. Phương pháp thu thập và kế thừa ................................................... 26


v




1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với mỗi con người và
sinh vật. Nếu không có nước cuộc sống trên trái đất không thể tồn tại được. Trung
bình mỗi người hàng ngày cần 3 – 10 lít nước để phục vụ nhu cầu ăn uống và sinh
hoạt. Nước chiếm 99% trọng lượng cơ thể sinh vật sống trong môi trường nước .
Tài nguyên nước bao gồm nước ngầm, nước mưa, nước mặt và nước biển. Trong
đó tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm là có tầm quan trọng nhất và
liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất hằng ngày của con người.
Tài nguyên nước mặt tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên ở các thủy
vực trên mặt đất như sông ngòi, ao hồ, hồ tự nhiên, hồ chứa ( hồ nhân tạo ) ... Tài
nguyên nước ngầm là loại nước dưới đất được dùng là loại nước cần thiết trong
sinh hoạt hàng ngày của người dân đặc biệt là những người sống ở nông thôn và
miền núi, ngoài ra còn dùng trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp... Như
vậy tài nguyên nước là yếu tố quan trọng để sự sống tồn tại và phát triển, cũng
như một yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của toàn
quốc gia nói riêng hay của toàn nhân loại nói chung.
Tuy nhiên hiện nay chất lượng nước đã và đang suy giảm nghiêm trọng
do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội đã đưa đến những tác động
mạnh mẽ tới tài nguyên nước. Những hoạt động tự phát không có quy hoạch
của con người như chặt phá rừng bừa bãi, các hoạt động công nghiệp, canh
tác nông nghiệp, lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi ra ngoài
môi trường,...đã và đang làm cho nguồn nước bị ô nhiễm, vấn đề khan hiếm
nước sạch ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn nhất là các xã ở miền núi.
Sơn Thủy là một xã vùng núi thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, kinh tế

- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại xã Sơn Thủy,
huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình


3

- Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại xã Sơn thủy, Huyện
Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất một số biện pháp để khắc phục, tháo gỡ những bất cập còn
tồn tại đối với vấn đề nước sinh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước
sạch tại địa phương.
1.2.2. Yêu cầ u của đề tài
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng nước sinh hoạt trên địa bàn xã.
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực và khách quan.
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác.
- Các biện pháp được đề xuất mang tính khả thi và phù hợp với điều
kiện thực tế của xã.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục
vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá được hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại địa phương,
từ đó rút ra những nhận xét, kết luận làm cơ sở cho các biện pháp quản lý, bảo
vệ môi trường, những định hướng xây dựng phù hợp và đảm bảo sự cân bằng
giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
- Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường làm
cơ sở lý thuyết cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và nghiên cứu.




5

- Nước dưới đất: Là nước tồn tại ở trong các tầng chứa nước dưới đất.
- Phát triển tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm nâng cao khả năng
khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài
nguyên nước.
- Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa
học, thành phần sinh vật của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.
- Suy thoái nguồn nước: Là sự suy giảm về số lượng và chất lượng
nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước
đã được quan trắc qua các thời kỳ trước đó.( Dư Ngọc Thành, 2008)[12].
- Cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng nguồn
nước, làm cho nguồn nước không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác sử
dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.
2.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 06
năm 2014
- Luật Tài nguyên nước 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 2/6/2012.
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của luật Bảo vệ môi trường 2014.
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/07/2007 của Chính phủ về
sản xuất, cung cấp tiêu thụ nước sạch.
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/05/2005 của Chính phủ về
quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy
định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải

và Môi Trường về tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất.


7

+ QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước ăn
uống ban hành ngày 17/6/2009 (thay thế Tiêu chuẩn Vệ sinh nước ăn uống )
+ QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt.
2.3. Cơ sở thực tiễn
2.3.1. Vai trò của nước đối với con người
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể
nhịn ăn nhưng không thể nhịn uống nước. Nước chiếm khoảng 70% trọng
lượng cơ thể, 65 – 75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng
lượng xương. Nước là một dung môi nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được
đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dịch nước. (Đại Học
Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013)[6].
Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng tế bào cũng như các
chức năng các hệ thống trong cơ thể như suy giảm chức năng thận. Những
người thường xuyên uống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất
hiện cảm giác mệt mỏi đau đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở
thận và túi mật. khi cơ thể mất trên 10% lượng nước có khả năng gây trụy tim
mạch, hạ huyết áp, nhịp tim tăng cao. Nguy hiểm hơn có thể tử vong nếu
lượng nước mất đi 20%. Bên cạnh oxy nước đóng vai trò thứ 2 để duy trì sự
sống, uống nước lạnh rất nguy hiểm đối với các bệnh nhân bị thấp khớp, bệnh
gút, bệnh về bàng quang, có thể gây tái phát các bệnh này.(Đại Học Nông
Lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013)[6].
Tóm lại nước rất cần cho cơ thể, mỗi người phải tập cho mình một thói
quen uống nước để cơ thể không bị thiếu nước. Có thể nhận biết cơ thể thiếu
nước qua cảm giác khát hoặc màu của nước tiểu, nước tiểu có màu vàng đậm

tắm giặt hằng ngày và các hoạt động vui chơi giải trí như bơi lội,…
- Trong nông nghiệp: Tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước để
phát triển. Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần


9

25 lít nước; lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt. Dân gian ta có câu:
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được
vai trò của nước trong nông nghiệp. Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai
yếu tố quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều
tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí
trong đất, làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân
số thế giới. Đối với Việt Nam, nước đã cùng với con người làm nên nền Văn
minh lúa nước tại châu thổ sông Hồng – các nôi Văn minh của dân tộc, của
đất nước, đã làm nên các hệ sinh thái nông nghiệp có năng xuất và tính bền
vững vào loại cao nhất thế giới, đã làm nên một nước Việt Nam có xuất khẩu
gạo đứng nhất nhì thế giới hiện nay.(Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí
Minh, 2013)[6].
- Trong Công nghiệp: Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn.
Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm
tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Người ta ước tính rằng 15%
sử dụng nước trên toàn thế giới công nghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng
nước để làm mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhà máy lọc dầu,
sử dụng nước trong quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất, sử dụng nước
như một dung môi. Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi
công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau. Nước góp phần làm
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nếu không có nước thì chắc chắn toàn
bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều
ngừng hoạt động và không tồn tại. Nước là nguồn cung cấp thực phẩm và

trạng sức khỏe của trẻ em Việt Nam ( 44% trẻ em bị nhiễm giun sán và 27%
trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng).
Thống kê của UNICEF tại khu vưc Đông Nam Á cho thấy chất lượng
nước ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em. Tình


11

trạng ô nhiễm asen ( thạch tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa
nghiêm trọng tình trạng sức khỏe cuả 50 triệu người dân trong khu vực.
Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng
nước bẩn gây ra đã ảnh hưởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành
của các em. Hàng ngày có rất nhiều em ở các nước đang phát triển không
được đến trường vì bị bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột. Hơn nũa
nhiều học sinh gái không thể đến trường đi học nếu như không có công trình
nước và vệ sinh cho các em.
Tại diễn đàn của trẻ em thế giới về nước tổ chức tại Mehico ngày 21/3
UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống
vì không được sử dụng nước sạch. Kết quả nghiên cứu cho tháy trẻ em dưới 5
tuổi đẽ mắc tiêu chảy nhất ( các bệnh này gây tử vong cho 4.500 trẻ em mỗi
ngày). (Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013)[6].
2.4. Các loại ô nhiễm nƣớc
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: Dựa vào nguồn gốc ô nhiễm có
ô nhiễm do nông nghiệp, công nghiệp hoặc sinh hoạt. Dựa vào môi trường
nước có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Dựa vào tính chất ô
nhiễm có ô nhiễm vật lý, ô nhiễm hóa học, ô nhiễm sinh học.
- Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do
sự thải các chất hữu cơ, các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao các chất
thải sinh hoạt, phân, nước thải của các nhà máy giấy, đường,…
- Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ: Do thải vào nước các chất Nitrat,

do sự hiện diện của chất keo, sét, tảo và vi sinh vật. Các quá trình xử lý như
keo tụ, lắng, lọc góp phần làm giảm độ đục của nước.
Sau đây là phương pháp làm trong nước bằng phèn:
Phèn chua (Nhôm Sunfat) có công thức hóa học là Al2(SO4)3, thường
được dùng để làm trong nước ở gia đình và các tập thể nhỏ. Khi gặp nước,


13

phèn chua bị phân hủy tạo nên một hỗn hợp dịch keo và các hạt nhôm hydrat
Al(OH)3 mang điện tích dương (+):
Al2(SO4)3 + H2O → Al(OH)3 + H2SO4
Chính các hạt mang điện tích dương này kéo theo những hạt cặn lơ
lửng xuống làm cho nước trong.
Tuy vậy, với những nguồn nước nghèo muối canxi và magie, độ kiềm
thấp (pH
Khi nhiệt độ tiếp tục tăng, MgCO3 tiếp tục bị phân hủy theo phản ứng:
MgCO3 + H2O = Mg(OH)2↓ + CO2↑
MgCO3 + H2O = Mg(OH)2↓ + CO2↑
Như vậy, bằng phương pháp nhiệt có thể giảm được độ cứng cacbonat
một cách đáng kể.
* Khử trùng nước
Khử trùng nước nhằm mục đích phá hủy, triệt bỏ các loại vi khuẩn gây
bệnh hoặc chưa được hoặc không thể loại bỏ trong quá trình xử lý nước.


15

Hiện nay, có nhiều phương pháp khử trùng nước phổ biến như:
- Dùng Clo hơi qua thiết bị định lượng Clo
- Dùng hypoclorit natri (nước Javel) NaClO
- Dùng Clorua vôi
- Dùng Ozon thường được sản xuất từ không khí bằng máy tạo ozon đặt
trong nhà máy xử lý nước. Ozon sản xuất ra được dẫn ngay vào bể hòa trộn
và tiếp xúc với nước.
Khi khử trùng nước người ta hay dùng Clo nước tạo hơi và các chất của
Clo. Đối với các trạm cấp nước tập trung người ta sử dụng Clo hoặc hợp chất
của Clo như Clorua vôi (CaOCl2), Javen (NaOCl) là những chất oxy hóa mạnh.
* Khử sắt, mangan và Asen
Ở Việt Nam nước giếng khoan đa phần bị nhiễm sắt và thường nhiễm ở
mức độ tương đối cao. Việc khử sắt có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì loại bỏ
sắt sẽ làm nước sạch hơn và sử dụng được trong ăn uống hàng ngày. Qua
tham khảo một số mô hình khử sắt đang được áp dụng ở Việt Nam thì người
ta thường áp dụng mô hình giàn phun mưa kết hợp với bể lọc. Vì mô hình này
có thể áp dụng để khử cả mangan và Asen, mà Asen là một chất vô cùng độc
hại phụ thuộc vào nồng độ trong nước. Khi khử được sắt thì ta cũng dễ dàng

6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí.
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao
của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc
biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy,
luyện kim, hóa chất..., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng
lượng nước sử dụng cho công nghiệp. Phần nước tiêu hao không hoàn lại do
sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao
không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông
hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm.


17

Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông
nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi
hỏi một lượng nước ngày càng cao. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn
nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước
sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô.
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị
lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần hoặc nhiều hơn.
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác
của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt
ván, bơi lội ... nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội.
2.6.1.2. Hiện trạng về tài nguyên nước trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt
đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị
trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê

được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng
sông và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp.( Đại học Nông Lâm
thành phố Hồ Chí Minh, 2013)[6].
- Nước ngầm
Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của
nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam. Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử
dụng cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay, tuy nhiên việc điều tra nghiên cứu
nguồn tài nguyên này một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến
hành trong chừng chục năm gần đây. Hiện nay phong trào đào giếng để khai
thác nước ngầm được thực hiện ở nhiều nơi nhất là ở vùng nông thôn bằng
các phương tiện thủ công, còn sự khai thác bằng các phương tiện hiện đại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status