Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


ĐÀO TRẦN KHIÊM

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
NƯỚC SINH HOẠT TẠI XÃ XUÂN GIAO,
HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAIKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên nghành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Thị Huệ
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, em xin chân thành cảm ơn Ban giám
hiệu nhà trường Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa Môi Trường, các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt lại cho em
những kiến thức quý báu trong suốt khóa học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Nguyễn Thị Huệ đã giúp đỡ

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TT : Thông tư
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc
UNEF : Môi trường Liên Hợp Quốc
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
YTDP : Y tế dự phòng
TP HCM : Thành Phố Hồ Chí Minh
SIWI : Viện nước quốc tế DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 30

Bảng 4.1: Thống thể hiện tình hình sử dụng nguồn nước của
người dân xã Xuân Giao. 44

Bảng 4.2: Thống kê ý kiến đánh giá của người dân xã Xuân Giao
về chất lượng nước giếng 45

Bảng 4.3: Bảng mô tả vị trí lấy mẫu nước sinh hoạt xã Xuân Giao 46

Bảng 4.4: Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại thôn Hùng Xuân 1
xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 47
Bảng 4.5: Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại thôn Phẻo xã
Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 48



1.2.3. Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.2. Cơ sở thực tiễn 5

2.3. Cơ sở pháp lý 8

2.4. Các loại ô nhiễm nước 10

2.5. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước 11

2.5.1. Ô nhiễm do sinh hoạt của người dân 11

2.5.2. Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp 11

2.5.3. Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp 12

2.6. Tình hình sử dụng nước trên thế giới và ở Việt Nam 13

2.6.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới 13

2.6.2. Tình hình sử dụng nước tại Việt Nam 16

2.6.3 Tình hình sử dụng nước ở Lào Cai 25

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28


4.2. Nguồn nước và tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại xã Xuân Giao, huyện
Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 44

4.3. Thực trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Xuân Giao 45

Bảng 4.3: Bảng mô tả vị trí lấy mẫu nước sinh hoạt xã Xuân Giao 46

4.3.1. Thực trạng môi trường nước sinh hoạt tại thôn Hùng Xuân 1 47

4.3.2. Thực trạng môi trường nước sinh hoạt tại thôn Phẻo 48

4.3.3. Thực trạng môi trường nước sinh hoạt tại thôn Tiến Lợi 1 49

4.3.4. Ý kiến của người dân về chất lượng nước sinh hoạt tại Xuân Giao 50

4.4. Nguyên nhân có thể gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại xã Xuân Giao,
huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 53

4.4.1. Ô nhiễm từ chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình 53

4.4.2. Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt 55

4.4.3. Ô nhiễm do chất thải từ các hoạt động nông nghiệp 55

4.4.4. Ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp 56

4.4.5. Ô nhiễm do rác thải từ khu vực chợ, trạm xá của xã Xuân Giao 57

4.5. Đề xuất một số biện pháp kiểm soát môi trường nước sinh hoạt tại xã

trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất hằng ngày của con người. Nguồn
nước mặt thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay
không thường xuyên trong các thủy vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, ao, hồ
tự nhiên, hồ chứa nước nhân tạo, đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết. Tài
nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, thường được sử
dụng rộng rãi nhiều nhất trong đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân.
Nước ngầm là một loại nước ở dưới lòng đất, được sử dụng chủ yếu cho sinh
hoạt hằng ngày ngoài ra còn sử dụng cho nông nghiệp, công nghiệp,… Do đó
tài nguyên nước nói chung là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển
kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia.
Tuy nhiên hiện nay do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế nên nhu
cầu sử dụng nước của con người tăng nhanh và đưa đến những tác động mạnh
mẽ tới tài nguyên nước. Những hoạt động tự phát không có quy hoạch của
con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp
không hợp lý và thải chất thải trực tiếp ra ngoài môi trường,… đã và đang làm
cho nguồn nước bị ô nhiễm, vấn đề khan hiếm nước sạch ngày càng trở nên
nghiêm trọng hơn nhất là ở các xã vùng núi.
Xuân Giao là một xã vùng II thuộc huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
kinh tế vẫn còn chậm phát triển chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, đời sống của
người dân còn gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy nhưng trong thời gian qua cùng với
sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của xã vấn đề môi trường của xã đã bộc
2
lộ nhiều bất cập thậm chí đáng báo động. Môi trường đất, môi trường không
khí, nguồn nước mặt, nước ngầm đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm. Điều
này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe của người dân trong
xã và các khu vực lân cận. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt tại xã Xuân Giao
bao gồm nhiều nguồn nước khác nhau như: nước sông, nước suối, nước mưa,
nước mỏ, nước giếng,… nhưng chủ yếu ở đây là nước giếng (giếng đào và
giếng khoan).
Trên địa bàn xã có con suối Trát chảy qua và hệ thống kênh mương

- Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Xuân
Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực và khách quan.
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác.
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra mang tính khả thi, phù hợp
với điều kiện địa phương.
1.2.3. Ý nghĩa của đề tài
- Vận dụng những kiến thức đã được học vào trong nghiên cứu khoa học.
- Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại
địa phương.
- Từ việc đánh giá hiện trạng môi trường nước, đề xuất một số giải pháp
phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


nguồn nước nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng.
5
- Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa
học, thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn,
kỹ thuật cho phép gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật.
- Suy thoái nguồn nước: Là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn
nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được
quan trắc qua các thời kỳ trước đó.[10].
- Cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của
nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu
khai thác sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.
- Chức năng của nguồn nước: Là những mục đích sử dụng nước nhất
định dựa trên các giá trị lợi ích của nguồn nước.
- Hành lang bảo vệ nguồn nước: Là phần đất giới hạn dọc theo nguồn
nước hoặc bao quanh nguồn nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định.[10].
- Bảo vệ tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm chống suy thoái, trách
cạn kiệt nguồn nước, đảm bảo an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát
triển tài nguyên nước (Điều 3, luật tài nguyên nước năm 1998).
2.2. Cơ sở thực tiễn
Vai trò của nước đối với cơ thể con người
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được
vài ngày nhưng không thể nhịn uống nước. Nước chiếm khoảng 70% trong
lượng cơ thể, 65 – 75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng
lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế
bào. Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt…
Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3 – 4 lít).
Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra
không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi nhờ đó tất cả các chất dinh
dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó đươc chuyển vào máu dưới dạng dịch

trình trao đổi giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ino H
+

và OH
-
do nước phân ly ra.
Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Nước là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật.
Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phất tán nòi giống của các sinh
vật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.[4].
Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất
7
- Trong đời sống sinh hoạt: Nước được sử dụng cho nhu cầu ăn uống, tắm giặt
hằng ngày và hoạt động vui chơi giải trí như bơi lội,
- Trong nông nghiệp: Tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước để phát
triển. Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần 25 lít
nước, lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt. Dân dan có câu: “Nhất nước,
nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai tro của
nước trong nông nghiệp. Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố
quyết định hang đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các
chế độ nhiệt, ánh sang, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí của đất,
làm cho tốc độ tăng sản lượng sản lượng lương thực vượt quá tốc độ tăng dân
số thế giới. Đối với Việt Nam, nước đã cùng với con người làm lên nền Văn
minh lúa nước tại châu thổ sông Hồng – các nôi Văn minh của dân tộc, của
đất nước, đã làm nên hệ sinh thái nông nghiệp có năng xuất và tính bền vững
vào loại cao nhất thế giới, đã làm nên một nước Việt Nam có xuất khẩu gạo
đứng nhất nhì thế giới hiện nay. Nước Việt Nam theo nghĩa đen đúng của nó
là nước – H
2
O.

Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005
và có hiệu lực thi hành 1/7/2006
- Luật tài nguyên nước năm 2012 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XIII,

kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 2 /6/2012.
- Thông Tư số 13/2014/

TT-BTNMT ngày 17/02/2014 Bộ Tài nguyên
và Môi trường đã ban hành thông tư quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài
nguyên nước dưới đất có hiệu lực thi hành ngày 07/04/2014.
- Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT ngày 17/2/2014, Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã ban hành thông tư quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài
nguyên nước mặt có hiệu lực thi hành ngày 07/04/2014.
- Thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày
27/ 07/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử
dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08 /2006 của Chính Phủ về
việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi
trường.
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 /11/2013 của Chính Phủ về
việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước có hiệu
lực thi hành ngày 01/02/2014.
9
- Nghị định số 91/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức cửa Bộ tài nguyên và Môi Trường.
- Nghị định số 149/2004/ NĐ-CP quy định cho phép thăm dò, khai
thác, sử dụng, xả thải vào nguồn nước.
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.

vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức xử phạt, mức xử phạt,
thủ tục xử phạt và các biện pháp khăc phục hậu quả gây ô nhiễm môi trường.
2.4. Các loại ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước dựa vào nguồn gốc tự nhiên
- Ô nhiễm do đặc tính địa chất của nguồn nước: nước trên đất phèn
thường chứa nhiều sắt, nhôm, sunfat, nước lấy từ lòng đất thường chứa nhiều
sắt và mangan, nước vùng núi đã chứa nhiều canxi.
- Ô nhiễm do mặn, nước mặn theo thủy triều hoặc từ muối mở trong
long đất, khi có điều kiện hòa lẫn trong môi trường nước, làm cho nước nhiễm
clo, natri. Nồng độ muối khoảng 8 g/lthì hầu hết các thực vật đều bị chết.
- Ô nhiễm do mua, tuyết tan, lũ lụt,…nước mưa rơi xuống mặt đất, mái
nhà, đường phố đô thị, khu công nghiệp,…kéo theo các chất xuống song, hồ
hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, kể cả các xác chết của
chúng. Sự ô nhiễm này còn được gọi là ô nhiễm diện.[5].
Ô nhiễm nước dựa vào tính chất ô nhiễm
Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm nước về mặt sinh học là do các
nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ các chất thải sinh hoạt , phân, nước rửa của các nhà
máy đường giấy, nhà máy đường, lò sát sinh,…
Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ: Do thải vào nước các chất nitrat,
photphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các
công nghệ khác như: Zn, Mn, Cd, Cu, Hg, Cr, Niken là những chất độc
cho thủy sinh vật, sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nguồn
nước các chất như nitrat, photphat và các chất dùng trong nông nghiệp,
các chất thải từ ngành công nghiệp.
Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp: Ô nhiễm chủ yếu do
hidrocacbon, nông dược, các chất tẩy rửa,…
Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nguồn nước
làm tăng lượng chất lơ lửng, tức là làm tăng độ đục của nước. Các chất này có
11
thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi

Bao gồm các loại phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, kích thích
sinh trưởng, là những nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Tổng số các chất thải
12
nông nghiệp xả thải vào nguồn nước khá lớn, đặc biệt là những vùng nông
nghiệp phát triển.
- Nước tiêu: khoảng 2/3 lượng nước tưới cho cây trồng bị tiêu hao do
bốc hơi trên mặt lá, phần còn lại chảy ra các kênh dẫn hoặc thấm xuống nước
ngầm nằm ở phía dưới. Hiện tượng hòa tan các muối có trong phân bón và sự
cô đặc do bay hơi, phần nước còn lại thường có độ mặn cao từ 3 đến 10 lần so
với độ mặn trước đó trong nước. Những ion chủ yếu trong nước sau khi tưới
gồm Ca
2+
, Mg
2+
, Na
+
, HCO
3-
, S0
4
2-
, Cl
-
, N0
3
-
.
- Chất thải động vật: Phân và nước tiểu của động vật là nguồn gây ô
nhiễm khá lớn đối với nguồn nước, đặc tính ô nhiễm của chất thải động vật là
chứa hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy mang nhiều vi sinh vật gây bệnh.

ra. Ngoài ra tại các khu công nghiệp và các nhà máy đang hoạt động trong cả
nước cũng thải ra lượng rác thải lớn gây ô nhiễm nguồn nước nặng nề.
2.6. Tình hình sử dụng nước trên thế giới và ở Việt Nam
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng
cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào mức độ khai thác của con người và khả năng
tái tạo của môi trường. Ngày nay, sử dụng nước cho mội hoạt động đã trở nên
phổ biến. Tuy nhiên việc sử dụng khai thác nguồn nước tài nguyên này gây ra
những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước.
2.6.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới
2.6.1.1. Tình hình sử dụng nước
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần
phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn. Lúc
đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có
gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm
được nơi ở mới tốt đẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô
tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng.
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và
càng ngày càng phát triển như vũ bão. Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra
đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng
này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Ðô thị trở thành những nơi tập trung
dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước
càng ngày càng trở nên nan giải.
Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công
nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người. Theo sự ước
tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp
được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10%cho sinh hoạt.
Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của
14
mỗi quốc gia. Ví dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công
nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí. Ở

trong nông nghiệp trong những năm tới sẽ tăng lên 3.400 km
3
/năm, chiếm
58% tổng nhu cầu về nước trên toàn thế giới.
15
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị
lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn.
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác
của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền,
trượt ván, bơi lội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội.
2.6.1.2. Hiện trạng môi trường nước trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh
hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử
lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là
thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại “Tuần lễ Nước thế
giới” (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5
tháng 9.
Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát
triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu
nước) và các bệnh liên quan đến nước.Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là
nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lương
Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống
tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị
thiếu nước.[4].
* Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước
Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt

không được sử dụng nước sạch.Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới năm
tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong cho 4.500 trẻ em mỗi
ngày).[4].
2.6.2. Tình hình sử dụng nước tại Việt Nam
2.6.2.1. Tình hình sử dụng nước
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn
trung bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập
trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải
Trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng.
17
Sự phân bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời
gian là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt
hại lớn đến mùa màng và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, ngoài ra
còn gây nhiều trở ngại cho việc trị thủy, khai thác dòng sông.
Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ
khoảng 640 km
3
, tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313
km
3
. Nếu tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai
con sông lớn là sông Cửu long (550 km
3
) và sông Hồng ( 50 km
3
) thì tổng
lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240 km
3
và lượng nước mà
các con sông đổ ra biển hằng năm khoảng 900 km

Trung bộ, Phần lớn nước khoáng cũng là nguồn nước nóng, gồm 63 điểm
ấm với nhiệt độ từ 300°C – 400 °C, 70 điểm nóng vừa với nhiệt độ từ 41 °C –
60 °C và 36 điểm rất nóng với nhiệt độ từ 600°C – 1000°C, hầu hết là mạch
ngầm chỉ có 2 mạch lộ thiên thuộc loại ấm gặp ở trung Trung bộ và ở đông
Nam bộ. Từ những số liệu trên cho thấy rằng tài nguyên nước khoáng và nước
nóng của Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại và phong phú có tác dụng chửa
bệnh, đồng thời có tác dụng giải khát và nhiều công dụng khác.
Trong những năm gần đây nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp và
sinh hoạt không ngừng tăng lên theo đà phát triển của công nghiệp, sự gia
tăng dân số, mức sống của người dân không ngừng được nâng cao và sự phát
triển của các đô thị.
Nước sử dụng cho nông nghiệp cũng tăng lên do việc mở rộng diện tích
đất canh tác và sự thâm canh tăng vụ. Theo sự ước tính của các nhà chuyên
môn thì từ nay đến năm 2020 để đưa diện tích tưới cho nông nghiệp lên 6,5
triệu ha thì tổng lượng nước cần khoảng 60km
3
, cho chăn nuôi khoảng 10 -15
km
3
, nhu cầu về nước cho 80 triệu dân khoảng 8 km
3
, tính chung nhu cầu về
nước sẽ tăng lên khoảng từ 90 - 100 km
3
. Như vậy đến năm 2020 lượng nước
cần cho sự phát triển đạt xấp xỉ khoảng 30% lượng nước được cung cấp trên
toàn lãnh thổ. Ðiều đặc biệt là nhu cầu nầy phần lớn tập trung vào mùa khô
trong khi mực nước trong các sông ngòi xuống thấp nên có nơi nước sẽ không
đủ dùng, điều nầy cho thấy nếu không quản lý và phân phối tốt sẽ xảy ra tình
trạng thiếu nước gay gắt như hiện nay.[4].

400.000 ha mặt nước lợ và 1.470 000 ha mặt nước sông ngòi có hơn 14 triệu
ha mặt nước nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới sử dụng 12,5%
diện tích mặt nước lợ, nước mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt.
Nhiều hồ và đập nhỏ hơn trên khắp toàn quốc phục vụ tưới tiêu như
Cấm Sơn (Bắc Giang), Bến En và Cửa Đạt (Thanh Hóa), Đô Lương (Nghệ
An),… Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện có hơn 3.500 hồ chứa nhỏ và
khoảng 650 hồ chứa cỡ lớn và trung bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm
soát lũ lụt, giao thông đường thủy thủy lợi và nuôi trồng thủy sản.[4].
- Tình hình khai thác sử dụng nước trong đời sống sinh hoạt
Đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người sử dụng rất nhiều nước
sinh hoạt. Về mặt sinh lý mỗi người cần 1 - 2 lít nước/ ngày. Và trung bình
nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của một người trong một ngày 10 - 15 lít cho
vệ sinh cá nhân, 20 - 200 lít cho tắm, 20 - 50 lít cho làm cơm, 40 - 80 lít cho
giạt bằng máy,…
+ Ở khu vực thành thi: Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố
trực thuộc trung ương, 86 thành phố và thị xã thuộc tỉnh, 617 thị trấn với
21,59 triệu người chiếm 26,3% dân số toàn quốc . Có trên 240 nhà máy cấp
nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu m
3
/ ngày. Trong đó 92
nhà máy sử dụng nguồn nước mặt với tổng công suất khoảng 1,95 triệu
m
3
/ngày và 148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với tổng công suất
khoảng 1,47 triệu m
3
/ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status