Đánh giá hiện trạng môi trường nước trên địa bàn xã Pom Lót huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẶNG THỊ HẬU
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ POM LÓT HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thanh Hải
Đặng Thị Hậu DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 20
Bảng 4.1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã Pom Lót
huyện Điện Biên năm 2013 25
Bảng 4.2: Một số vật chăn chính của xã Pom Lót năm 2013 26
Bảng 4.3: Các thôn, bản xã Pom Lót 32
Bảng 4.4: Hiện trạng trạm biến áp 34
Bảng 4.5: Loại hình sử dụng nước cho sinh hoạt 36
Bảng 4.6: Vị trí lấy mẫu nước giếng tại khu vực phía Bắc xã Pom Lót 39
Bảng 4.7: Kết quả phân tích chất lượng nước giếng tại khu vực phía Bắc xã Pom Lót 39
Bảng 4.8. Vị trí lấy mẫu nước giếng tại khu vực phía Tây xã Pom Lót 40
Bảng 4.9: Kết quả phân tích chất lượng nước giếng tại khu vực phía Tây của xã

trong xã Pom Lót 46
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện ý kiến của người dân về chất lượng nước mặt tại xã Pom Lót 47
Hình 4.7: Biểu đồ thể hiện nguồn tiếp nhận nước thải chăn nuôi của các hộ gia đình 49
Hình 4.8: Biểu đồ thể hiện phương pháp xử lý bao bì thuốc BVTV 51
Hình 4.9: Biểu đồ thể hiện nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình 52
Hình 4.10: Biểu đồ thể hiện hình thức xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia
đình ở xã Pom Lót 53 DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu
BQLHTX : Ban quản lý hợp tác xã
BVTV : Bảo vệ thực vật
CTR : Chất thải rắn
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
GHTĐCP : Giới hạn tối đa cho phép
GTNT : Giao thông nông thôn
HĐND : Hội đồng nhân dân
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
LVS : Lưu vực sông
QCCP : Quy chuẩn cho phép
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
QSDĐ : Quyền sử dụng đất
TDĐKXDĐSVH : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
TDĐKXDĐSVHƠKDC : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở

2.2. Tình hình nghiên cứu về môi trường nước trong và ngoài nước 12
2.2.1. Hiện trạng môi trường nước trên thế giới 12
2.2.2. Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam 14
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 18
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 18
3.2.1. Địa điểm 18
3.2.2. Thời gian tiến hành 18
3.3. Nội dung nghiên cứu 18
3.4. Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 18
3.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa 19
3.4.3. Phương pháp điều tra, phỏng vấn 19
3.4.4. Phương pháp lấy mẫu, phân tích mẫu 19
3.4.5. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 20
3.4.6. Phương pháp tổng hợp, so sánh đối chiếu 20
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Pom Lót huyện Điện Biên tỉnh
Điện Biên. 21 4.1.1. Điều kiện tự nhiên 21
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 24
4.2. Nguồn nước và tình hình sử dụng nguồn nước tại xã Pom Lót huyện Điện
Biên tỉnh Điện Biên 35

lịch sử phát triển loài người và phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Con người sử
dụng nước cho nhiều mục đích khác nhau như sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp…
Hiện nay, do sự bùng nổ dân số, do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế trên thế
giới, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng nâng cao vì thế nhu cầu sử dụng
nước ngày càng lớn, việc khai thác và sử dụng các nguồn nước ngày càng nhiều hơn.
Những hoạt động tự phát không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi,
canh tác nông, lâm nghiệp không hợp lý và thải trực tiếp chất thải vào môi trường,… đã
và đang làm cho nguồn nước bị ô nhiễm; vấn đề khan hiếm nước sạch ngày càng trở nên
nghiêm trọng hơn nhất là các vùng ít mưa.
Điện Biên là một huyện thuộc tỉnh Điện Biên, kinh tế còn chậm phát triển chủ
yếu là trồng trọt và chăn nuôi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy,
trong thời gian quan cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, vấn đề môi trường của
huyện đã bộc lộ nhiều bất cập thậm chí đáng báo động. Môi trường đất, môi trường
không khí , nguồn nước mặt, nước ngầm đang bị ô nhiễm. Điều này đã gây ảnh hưởng
trực tiếp tới đời sống và sức khỏe người dân.
Trên địa bàn huyện có sông Nậm Rốm chảy qua, là một thủy vực rất quan trọng
trong việc cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt cũng như các hoạt động khác.
Tuy nhiên do tiếp nhận nguồn nước thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhà máy
công nghiệp… từ Thành phố Điện Biên nên nước đang bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, là
một huyện thuần nông, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Do lạm dụng phân bón, hóa
chất BVTV cùng với chất thải chăn nuôi, nước thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử
lý, rác thải rắn bừa bãi đã làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm.
Hiện nay, công tác quản lý nhà nước về môi trường nói chung và môi trường
nước nói riêng trên địa bàn xã, huyện chưa được quan tâm, chú trọng. Sự ô nhiễm
nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có biện
pháp quản lý tốt chất lượng tài nguyên nước. Để khắc phục, giảm thiểu được ảnh
hưởng của ô nhiễm nước đến đời sống và sức khỏe người dân công việc quan trọng là
đánh giá chính xác mức độ và nguyên nhân gây ô nhiễm nước trên địa bàn xã, huyện
để đưa ra giải pháp khắc phục, giảm thiểu một cách hữu hiệu và phù hợp. Xuất phát từ
yêu cầu thực tiễn đó, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa Môi

nguồn nước của xã Pom Lót huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên.
- Cung cấp số liệu cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn xã, huyện và
từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường phù hợp. 3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.1. Một số khái niệm liên quan
∗ Khái niệm về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống con người, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật [ 7].
∗ Khái niệm về nước mặt
Nước mặt bao gồm các nguồn nước trong các hồ chứa, sông suối hoặc nước
ngọt trong vùng đất ngập nước. Do kết hợp từ các dòng chảy trên bề mặt và thường
xuyên tiếp xúc với không khí nên các đặc trưng của nước mặt là:
- Chứa khí hòa tan, đặc biệt là oxy.
- Chứa nhiều chất rắn lơ lửng (riêng trường hợp nước trong ao hồ, đầm lầy
chứa chất rắn lơ lửng và chủ yếu ở dạng keo).
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao.
- Có sự hiện diện của nhiều loại tảo.
- Chứa nhiều vi sinh vật [4].
∗ Khái niệm nước ngầm
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích

công nghiệp giấy, dệt và nhiệt điện.
+ Độ đục cao nên xử lý phức tạp và tốn kém.
+ Nước sông cũng chính là nguồn tiếp nhận nước mưa và các loại nước thải.
Vì vậy nó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường bên ngoài. So với nước ngầm,
nước mặt có độ nhiễm bẩn cao hơn.
- Nước suối: đặc điểm nổi bật của nước suối là không ổn định về chất lượng
nước, mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy giữa mùa lũ và mùa kiệt. Về mùa lũ,
nước suối thường đục và có những dao động đột biến về mực nước và vận tốc dòng
chảy. Mùa khô nước suối lại rất trong nhưng mực nước lại thấp.
- Nước hồ đầm: thường trong, có hàm lượng cặn nhỏ. Nước hồ đầm thường
có vận tốc dòng chảy nhỏ nên rong rêu và các thủy sinh vật phát triển. Điều đó làm
cho nước hồ có màu, mùi và dễ bị nhiễm bẩn [8].
b, Nguồn nước ngầm
∗ Nguồn gốc nước ngầm
Nước mưa, nước mặt và hơi nước trong không khí ngưng tụ lại thẩm thấu
vào lòng đất tạo thành nước ngầm. Nước ngầm được giữ lại hoặc chuyển động
trong các lỗ rỗng hay khe nứt của các tầng đất đá tạo nên tầng ngậm nước. Khả
năng ngậm nước của các tầng đất đá phụ thuộc vào độ nứt nẻ. Các loại đất sét,
hoàng thổ không chứa nước. Ở nước ta, một số nơi phát hiện nước ngầm phong phú
trong các trầm tích biển, trầm tích sông và tầng đá vôi nứt nẻ.
Các trạng thái tồn tại của nước ngầm: 5
+ Ở thể khí: cùng với không khí nằm trong các lỗ hổng của đất đá.
+ Ở thể bám chặt: bao quanh các hạt đất bằng một lớp rất mỏng, gắn chặt với đất
bằng các lực dính, ở điều kiện bình thường không thể tách ra được.

o
C). So với nước mặt, nước ngầm
ấm vào mùa rét nhưng mát về mùa nóng, ngoài ra nước ngầm thường được khai 6
thác phân tán ít ảnh hưởng khi có chiến tranh, các khu xử lý phân bố đều, mạng lưới
đường ống ít tốn kém [8].
2.1.1.3. Vai trò của nước
Nước là yếu tố hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát triển của sinh giới,
không có nước lập tức cuộc sống bị rối loạn, ngưng lại và bị tiêu diệt.
Nước chiếm thành phần chủ yếu trong cấu tạo cơ thể thực vật và động vật.Con
người có khoảng 65 - 75 % trọng lượng nước trong cơ thể, cây trên cạn có 50 - 70 %
nước, trong rêu và trong các loài thủy sinh vật khác có 95 - 98 % là nước [10].
Muốn có thực phẩm cho người và cho gia súc cần có nước: muốn có 1 tấn
lúa mì cần có 300 - 500 m
3
nước, 1 tấn gạo cần tiêu thụ 1.500 - 2.000 m
3
nước [10].
Lượng nước trên trái đất là một máy điều hòa nhiệt và làm cho cán cân
sinh thái được cân bằng. Sự sống thường tập trung ở các nguồn nước, phần lớn
các nền văn minh, các trung tâm kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ
thuật, văn hóa xã hội dân cư,… đều nằm dọc theo các vùng tập trung nước.
Sự thay đổi cán cân phân phối nước hoặc sự phá hoại nguồn nước có thể làm
tàn lụi các vùng trù phú, biến các vùng đất màu mỡ thành các vùng đất khô cằn.
Trong những thập niên sắp tới, chiến tranh xung đột giữa các quốc gia và các vùng

trong khu đô thị. Nước thải đô thị thường được thu gom vào hệ thống cống thải
thành phố, đô thị để xử lý chung. Thông thường ở các đô thị có hệ thống cống thải,
khoảng 70 % đến 90 % tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải
đô thị và chảy vào đường cống [2].
∗ Từ hoạt động công nghiệp
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, giao thông vận tải. Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị,
nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào
ngành sản xuất công nghiệp cụ thể. Ví dụ: nước thải của xí nghiệp chế biến thực
phẩm thường chứa lượng lớn chất hữu cơ; nước thải của xí nghiệp thuộc da ngoài các
chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sunfua,…
Hàm lượng nước thải của các ngành công nghiệp này có chứa xyanua, H
2
S,
NH
3
vượt hàng chục lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn
nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế
xuất, cụm công nghiệp tập chung là rất lớn.
Điều nguy hiểm hơn là trong số các cơ sở sản xuất công nghiệp, các khu chế
xuất đa phần chưa có trạm xử lý nước thải, khí thải và hệ thống cơ sở hạ tầng đáp
ứng yêu cầu bảo vệ môi trường [2].
∗ Từ y tế
Nước thải bệnh viện bao gồm các nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét
nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là, rửa thực phẩm, bát đĩa, từ
việc làm vệ sinh phòng,… cũng có thể từ hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người
nuôi bệnh nhân và các cán bộ công nhân viên làm việc trọng bệnh viện. Điểm đặc thù
của nước thải y tế có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước
thải được xả ra từ những bệnh viện hay những khoa truyền nhiễm, lẫy nhiễm. Những
nguồn nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người

tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là nguồn gốc vô cơ hay hữu cơ,
có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của các vi khuẩn và các vi sinh vật khác lại
càng làm tăng tốc độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng.
Nhiều nước thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu
cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra, các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hóa học như
muối, sắt, mangan, clo tự do, hydro sulfua, phenol,… làm cho nước có vị không
bình thường. Các chất ammoniac, sulfua, cyanua, dầu làm cho nước có mùi lạ.
Thanh tảo làm cho nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm cho nước có mùi
tanh của cá [2]. 9
b, Ô nhiễm sinh học của nước
Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao gồm
các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy,…
Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên
men được, chất thải sinh hoạt hoặc công nghiệp có chứa cặn bã sinh hoạt, phân tiêu,
nước rửa của các nhà máy đường, giấy, lò sát sinh,…
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng. Các
bệnh cầu trùng, viên gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia chưa kể
đến các trận dịch tả. Các nước thải từ lò sát sinh chứa một lượng lớn mầm bệnh.
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều có
nước thải chứa protein. Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị phân
hủy cho ra acid amin, acid béo, acid thơm, H
2
S, nhiều chất chứa S và P,… có tính

các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu là do vô ý vãi xăng dầu. Tốc độ
thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm [2].
∗ Chất tẩy rửa: Bột giặt tổng hợp và xà bông
Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có cực và
không có cực. Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic và non-ionic. Bột giặt anionic
được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS (tetrazopylerne benzene sulfonate),
không bị phân hủy sinh học.
Xà bông là tên gọi chung có muối kim loại với acid béo. Ngoài các xà bông
natri và kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các xà bông
không tan thì chứa canxi, sắt, nhôm,… sử dụng trong kỹ thuật (các chất bôi trơn,
sơn, verni,…) [2].
∗ Nông dược
Người ta phân biệt:
- Thuốc sát trùng
- Thuốc diệt nấm
- Thuốc diệt cỏ
- Thuốc diệt chuột
- Thuốc diệt tuyến trùng
Các nông dược tạo nên một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực nước.
Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông hoặc do
việc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, Làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm
và các vùng cửa sông, bờ biển.
Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trông nông nghiệp nhưng hậu
quả cho môi trường và sinh thái cũng rất đáng kể.
Có ba loại thông số phản ánh đặc tính khác nhau của chất lượng nước và
thông số vật lý, thông số hóa học và thông số sinh học [2].
2.1.1.6. Cơ sở để đánh giá chất lượng nước
Có ba loại thông số phản ánh đặc tính khác nhau của chất lượng nước là
thông số vật lý, thông số hóa học và thông số sinh học.


kiềm, lượng chứa các ion Mangan (Mn), clo (Cl
-
), đồng (Cu), kẽm (Zn), các hợp
chất chứa N hữu cơ, ammoniac (NH
3
, NO
2
, NO
3
) và phosphate (PO
4
) [6].
∗ Thông số sinh học
Thông số sinh học của chất hượng nước gồm loại và mật độ các vi khuẩn
gây bệnh, các vi sinh vật trong mẫu nước phân tích. Đối với nước cung cấp cho
sinh hoạt yêu cầu chất lượng cao, trong đó đặc biệt chú ý đến thông số này [6]. 12
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006;
- Luật tài nguyên nước năm 2012 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 06 năm 2012 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013;
- Nghị định số 80/2006/NĐ - CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính Phủ về
13
Lượng nước trong thủy quyển 1.386 triệu km
3
(100 %): Lượng nước ngọt
chiếm 35 triệu km
3
(2,5 %), lượng nước mặn 1.351 triệu km
3
(97,5 %).
Trong thành phần nước ngọt thì nước ở dạng rắn chiếm 24,3 triệu km
3
(69,4
%), dạng lỏng 10,7 triệu km
3
(30,6 %) [8].
Trong thành phần nước lỏng 10,7 triệu km
3
(100 %) thì nước ngầm chiếm
đại bộ phận 10,5 triệu km
3
(98,3 %); hồ và hồ chứa là 0,102 triệu km
3
(0,95 %), thổ
nhưỡng 0,047 triệu km
3
(0,44 %); sông ngòi 0,020 triệu km
3
(0,19 %), khí quyển

[9].
Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo rằng trong 30 năm tới dân số thế giới có
thể đạt đến 8 tỷ, sẽ làm tăng nhu cầu nước lên 65 % khiến cho 26 quốc gia với 250
triệu dân sẽ lâm vào tình cảnh thiếu nước căng thẳng. Người ta tính rằng cứ sau 21
năm, nhu cầu sử dụng nước lại tăng gấp đôi. Trong khi đó, hiện nay ô nhiễm nước
vẫn không ngừng tăng lên. Ước tính 1/4 số hồ của Trung Quốc bị ô nhiễm, hàng
ngàn hồ của Thụy Điển bị axit hóa, 3/4 lượng nước sông của Balan bị nhiễm bẩn
đến mức chỉ sử dụng cho nhu cầu công nghiệp cũng không đạt. Việc sử dụng quá
mức nước sông Amu Daria và Sông Daria để tưới bông trên lãnh thổ Liên Xô cũ đã
làm giảm 75 % lượng nước ngọt chảy vào biển Aral khiến biển này trở nên khô cạn
và tăng độ mặn, lượng cá đánh được hàng năm khoảng 50.000 tấn đã hoàn toàn cạn
kiệt khiến cho 60.000 người mất việc làm đe dọa cuộc sống của 50 triệu dân sống
xung quanh biển Aral.
Thiếu nước đã làm nghèo thêm những cộng đồng nghèo. Dân nghèo ở thủ đô
Haiti phải chi 20 % thu nhập để mua nước, 1/3 dân số Jacarta (Indonesia) khoảng
2,6 triệu người phải mua nước từ xe bồn với giá 1,5 - 5,2 USD/1m
3
. Tình trạng tưng
tự cũng xảy ra ở Pakistan, Mauritania, Bangladesh, Nigeria và Hondura, Bắc Kinh
(Trung Quốc) đang xem xét dự án chuyên tải nước từ nguồn xa 1.000 km để cung
cấp cho thành phố. Gần toàn bộ nước sinh hoạt ở Bỉ phải tải theo đường ống từ 14
vùng biên giới với nước Pháp do toàn bộ hệ thống nước mặt và nước ngầm bị nhiễm
bẩn vì phân súc vật và nhiễm mặn. Hiện nay, 40 % dân số thế giới chung sống trong
250 lưu vực sông [3].

về mùa khô, lũ lụt về mùa mưa gây nhiều thiệt hại về người và của trên nhiều vùng.
Vài năm gần đây, mùa mưa thường kết thúc sớm và đến muộn gây hạn hán tại nhiều 15
vùng trên cả nước. Đặc biệt việc cạn kiệt nguồn nước thể hiện rõ nhất trong năm
nay, khi các vùng ĐBSH, miền Trung, Tây Nguyên và ĐBSCL đều gặp hạn [1].
2.2.2.2. Diễn biến ô nhiễm nước mặt
Đối với các LVS, ô nhiễm chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều đoạn sông,
tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu. Có nơi, ô nhiễm đã ở mức nghiêm trọng, điển
hình như vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại khu vực hạ lưu các sông và hệ thống
hồ ao, kênh mương và các sông nhỏ trong khu vực nội thành, nội thị.
Tuy nhiên mức độ ô nhiễm còn phụ thuộc vào yếu tố thủy văn của dòng
chảy. Mức độ ô nhiễm cũng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ về các
con sông giảm. Ngoài ra, mức độ ô nhiễm nước còn phục thuộc mạnh vào hiệu quả
kiểm soát các nguồn thải đổ vào nguồn nước. Thực tế hiện nay, do các nguồn thải
đổ vào LVS hầu như chưa được kiểm soát làm cho vấn đề ô nhiễm nước đang ngày
càng trở nên nghiêm trọng.
- Diễn biến ô nhiễm nước mặt các sông chính:
Nhìn chung, các đoạn sông chảy qua các khu đô thị, khu vực tập trung các
hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng, sau khi tiếp nhận các nguồn nước thải
chưa qua xử lý của các đô thị và của các cơ sở sản xuất thì chất lượng nước thường
giảm sút đáng kể. Theo kết quả quan trắc các hệ thống sông chính trên cả nước,
nhiều chất ô nhiễm trong nước có nồng độ vượt quá quy chuẩn cho phép, dao động
từ 1,5 đền 3 lần. Tình trạng ô nhiễm này đã kéo dài trong nhiều năm, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của cư dân và làm mất mỹ quan các khu vực.
- Diễn biến ô nhiễm nước mặt khu vực nội thành, nội thị:

Hiện tại tổng trữ lượng khai thác nước dưới đất toàn quốc đạt gần 20 triệu m
3
,
tổng công suất của các nhà máy cấp nước đô thị trên toàn quốc khai thác nguồn nước
dưới đất khoảng 1,47 triệu m
3
/ngày. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các nhà máy mới
chỉ khai thác được 60 - 70 % so với công suất thiết kế.
Ở các vùng nông thôn, nguồn sử dụng nước được lấy chủ yếu từ giếng
khoan đường kính nhỏ kiểu UNICEF, giếng khơi, giếng đóng và hệ thống nước
tự chảy. Tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nguồn nước sạch đã được cải thiện
đáng kể theo thời gian.
Hiện nay, lượng nước dưới đất phục vụ cấp nước sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong tổng lượng nước dưới đất được khai thác hàng năm. Ở miền Bắc, do hàm
lượng sắt trong nước cao nên hầu hết các công trình khai thác nước dưới đất đều được
xử lý sắt trước khi đưa vào sử dụng với tỷ lệ sử dụng đạt 60 - 70 %. Tại các nhà máy
nước ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, nước dưới đất được khai thác từ giếng và
đưa thẳng vào đường ống, không thông qua xử lý, hoặc chỉ xử lý sơ bộ bằng các công
nghệ truyền thống [1].
2.2.2.4. Hiện trạng ô nhiễm nước dưới đất
Các nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm chất lượng nước dưới đất bao
gồm: đặc tính địa chất vùng chứa nước dưới đất, thẩm thấu và rò rỉ nước bề mặt
đã bị ô nhiễm, do thảy đổi mục đích sử dụng đất và khai thác nước bất hợp lý;
ngoài ra còn do nước biển dâng dẫn đến hiện tượng xâm nhập vào các tầng chứa
nước ven biển.
mức cho phép của QCVN, thường trên 1 mg/l, có nơi đạt trên 15 - 20 mg/l, tập
trung quanh các mỏ khai thác sunphua.
Ngoài ra việc khai thác nước quá mức ở tầng holoxen cũng làm cho hàm
lượng asen trong nước dưới đất tăng lên rõ rệt, vượt mức giới hạn cho phép 10 mg/l.
Đặc biệt vùng ô nhiễm asen phân bố gần như trùng với diện phân bố của vùng có
hàm lượng amoni cao. Hiện tượng này thấy nhiều ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ
và ĐBSCL [1]. 18
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt, nước ngầm trên địa bàn xã Pom
Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về kinh phí thực hiện nên đề tài chỉ tập trung vào một số phạm vi sau:
- Đề tài chỉ đánh giá chất lượng môi trường nước mặt bằng cảm quan.
- Đánh giá chất lượng nước ngầm tại xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện
Biên bằng cảm quan và lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu như pH, Sắt, Amoni và Coliform.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1. Địa điểm
Xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
3.2.2. Thời gian tiến hành
Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status