ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ NHÂM
Tên đề tài:
“
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ HÀ VỊ HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề. 1
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Mục đích nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. 2
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn. 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học 3
2.1.1. Cơ sở lý luận 3
2.1.2. Cơ sở pháp lý 14
2.2. Tình hình môi trường nước ở Việt Nam 17
2.2.1. Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam 17
2.2.2. Hiện trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.2.1. Địa điểm 21
3.2.2. Thời gian tiến hành 21
3.3. Nội dung nghiên cứu 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 21
3.4.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn 22
3.4.3. Phương pháp lấy mẫu, phân tích mẫu 22
3.4.4. Phương pháp khảo sát thực địa 23
3.4.5. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 23
3.4.6. Phương pháp tổng hợp, so sánh đối chiếu 23
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 23
Bảng 4.1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã Hà Vị
huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn năm 2013. 27
Bảng 4.2: Một số giống vật nuôi chính của xã Hà Vị năm 2013 28
Bảng 4.3: Dân cư xã Hà Vị 31
Bảng 4.4: Hiện trạng trạm biến áp 33
Bảng 4.5: Loại hình sử dụng nước cho sinh hoạt 35
Bảng 4.7: Kết quả phân tích chất lượng nước giếng tại khu Bắc Hà Vị 38
Bảng 4.9: Kết quả phân tích chất lượng nươc giếng tại khu trung tâm Hà Vị 39
Bảng 4.11: Kết quả phân tích chất lượng nước giếng tại khu Nam Hà Vị 40
Bảng 4.12: Ý kiến của người dân về hiện trạng chất lượng nước mặt tại xã Hà Vị 45
Bảng 4.13: Một số vấn đề của nguồn nước mặt tại xã Hà Vị 46
Bảng 4.14: Chất lượng nước giếng xã Hà Vị 46
Bảng 4.15: Nguồn tiếp nhận nước thải chăn nuôi của các hộ gia đình 47
Bảng 4.16: Tình hình bón phân cho cây trồng của người dân trong xã 49
Bảng 4.17: Phương pháp xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật 49
Bảng 4.18: Nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình 51
Bảng 4.19: Tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình ở xã Hà Vị 52
67
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện loại hình sử dụng nước sinh hoạt 35
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện giá trị pH giữa các khu trong xã Hà Vị 41
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện hàm lượng sắt trong nước giếng giữa các khu trong xã
Hà Vị 41
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện hàm lượng Amoni trong nước giếng giữa các khu
trong xã Hà Vị 42
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện số lượng Coliform trong nước giếng giữa các khu
trong xã Hà Vị 43
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện độ cứng trong nước giếng giữa các khu trong xã Hà Vị 44
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề.
Nước là nguồn gốc sự sống, nước luôn giữ vai trò mang tính sống còn
trong lịch sử phát triển của loài người và phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia. Con người sử dụng nước vào nhiều mục đích khác nhau như sinh hoạt, nông
nghiệp, công nghiệp, Hiện nay do sự bùng nổ dân số, do sự phát triển mạnh mẽ
của các ngành kinh tế trên thế giới, chất lượng cuộc sống con người ngày càng
được nâng cao vì thế nhu cầu sử dụng nước ngày càng nhiều hơn. Những hoạt
động tự phát không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh
tác nông, lâm nghiệp không hợp lý và thải trực tiếp chất thải và môi trường,… đã
và đang làm nguồn nước bị ô nhiễm; vấn đề khan hiếm nước ngọt ngày càng trở
nên nghiêm trọng hơn nhất là ở các vùng ít mưa.
Bạch Thông là một huyện thuộc tỉnh Bắc Kạn, kinh tế còn chậm phát
triển chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, trong thời gian qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đã
nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường. Môi trường đất, không khí, nước ngầm,
nước mặt đang bị ô nhiễm. điều này đã gây ảnh hưởng đến đời sống và sức
khỏe người dân. Trên địa bàn huyện có nhiều hệ thống sông, suối lớn nhỏ
phục vụ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh….tuy nhiên do các
hoạt động của con người nên nước đang bị ô nhiễm. Việc lạm dụng phân bón,
hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải chăn nuôi, nước thải sinh hoạt chưa được
thu gom, xử lý, rác thải rắn bừa bãi đã làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm.
Hiện nay, công tác quản lý nhà nước về môi trường nói chung và môi
trường nước nói riêng trên địa bàn xã, huyện chưa được quan tâm, chú trọng. Sự ô
nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu
cận và thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học.
- Nâng cao kiến thức và kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra
những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học sau này.
- Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn.
- Biết được chất lượng môi trường nước và các nguồn gây ô nhiễm
nguồn nước của xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Cung cấp số liệu cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn xã, huyện
và từ đó đưa ra giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường phù hợp.
3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.1. Một số khái niệm liên quan
* Khái niệm về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống con người, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ Môi trường - 2005).
* Khái niệm về nước mặt
Nước mặt bao gồm các nguồn nước trong các hồ chứa, sông suối hoặc
nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Do kết hợp từ các dòng chảy trên bề mặt
và thường xuyên tiếp xúc với không khí nên các đặc trưng của nước mặt là:
- Chứa khí hòa tan, đặc biệt là oxy.
- Chứa nhiều chất rắn lơ lửng (riêng trường hợp nước trong ao, hồ, đầm
lầy chứa chất răn lơ lửng và chủ yếu ở dạng keo).
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao.
- Có sự hiện diện của nhiều loại tảo.
- Chứa nhiều vi sinh vật.
* Khái niệm nước ngầm
hoặc mạch nước trên sườn núi dẫn bằng đường ống về các bể hay vòi tiêu thụ
trong khu dân cư. Đây là loại hình cấp nước khá phổ biến ở các tỉnh miền núi
với số lượng lớn công trình đã được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn, nhiều
chương trình dự án khác nhau. Tùy theo quy mô, các công trình này có thể
cung cấp nước sinh hoạt cho một vài hộ hoặc cả thôn. Nước máy được bơm từ
giếng khoan hay song, hồ và đã được lọc qua giàn mưa, bể lắng, bể lọc, khử
khuẩn rồi bơm nước lê tháp cao hoặc đẩy thẳng vào đường ống dẫn đễn bể
chứa của tập thể hoặc gia đình. Nước được lấy từ hai hệ thống trên được coi
là hợp vệ sinh.
* Khái niệm ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật
lý - hóa học - sinh học của nước với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn
làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ
5
đa dạng sinh học trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng
thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
* Khái niệm tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất
lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất
thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và
bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường 2005).
2.1.1.2. Nguồn gốc và chất lượng nước
a, Nguồn nước mặt
* Nguồn gốc nước mặt
Nước mặt là loại nước tồn tại lộ thiên trên mặt đất như sông, suối,
hồ, đầm,…Nguồn bổ sung cho nước mặt là nước mưa và trong một số
trường hợp cả nước ngầm. Nguồn nước mặt ở nước ta rất phong phú và
được phân bổ ở khắp mọi nơi. Đây là nguồn nước quan trọng được sử dụng
vào mục đích cấp nước.
* Đặc tính chung của nước mặt
với đất bằng các lực dính, ở điều kiện bình thường không thể tách ra được.
+ Ở thể màng mỏng: Nằm bao quanh các phần tử đất cát bằng lực phân
tử, có thể di chuyển trong lòng đất dưới ảnh hưởng của lực phân tử nhưng
không thể truyền được áp suất.
+ Nước mao dẫn: Chứa đầy trong các lỗ hổng nhỏ của đất, chịu tác
dụng của sức căng mặt ngoài và trọng lực. Nước mao dẫn có thể di chuyển
trong đất và có thể truyền được áp suất. Vùng nước mao dẫn nằm trên mực
nước trọng lực.
+ Nước trọng lực hay nước thấm: Chứa đầy trong các lỗ hổng của đất,
chuyển động dưới tác dụng của trọng lực và có thể truyền được áp suất.
Trong các dạng trên chỉ có nước thấm là có trữ lượng đáng kể và có
khả năng khai thác được.
* Đặc tính chung của nước ngầm
Nước ngầm của nước ta được phân bố gần như khắp mọi nơi và nằm ở
độ sâu không lớn. Tầng chứa nước rất dày, trung bình 15 - 30 mét, có nhiều
nơi tới 50 - 70 mét.
7
Do nước ngầm nằm sâu trong lòng đất và được bảo vệ bởi các tầng cản
nước nên nước ngầm ở nước ta có chất lượng tốt; hàm lượng cặn nhỏ, ít vi trùng,
nhiệt độ ổn định, công nghệ xử lý nước đơn giản nên giá thành sản xuất rẻ.
Tùy thuộc vào hóa địa của tầng chứa nước và chất lượng của nguồn bổ
xung nước mà trong tầng nước ngầm thường có hàm lượng muối khoáng lớn,
nhất là các muối cứng, nếu dùng để cấp nước cho nồi hơi, thường phải làm mềm.
Đặc điểm nổi bật của nước ngầm là có hàm lượng sắt tương đối lớn,
đặc biệt là sắt hóa trị hai. Ở một số vùng, trong tầng nước ngầm còn chứa một
lượng mangan đáng kể. Công nghệ xử lý nước ngầm chủ yếu là khử sắt, đôi
khi kèm theo cả khử mangan, silic,…
Nước ngầm vùng ven biển thường bị nhiễm mặn, nếu sử dụng để cấp
nước thì việc xử lý sẽ rất khó khăn, tốn kém. Các vùng biển ở nước ta như
Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định,… mặc dù nguồn nước ngầm rất dồi dào
khoa học kỹ thuật, văn hóa - xã hội, dân cư,… đều nằm dọc theo các vùng
tập trung nước.
Sự thay đổi cán cân phân phối nước hoặc sự phá hoại nguồn nước có
thể làm tàn lụi các vùng trù phú, biến các vùng đất màu mỡ thành các vùng
đất khô cằn. Trong những thập niên sắp tới, chiến tranh xung đột giữa các
quốc gia và các vùng, khu vực có thể do nguyên nhân tranh giành tài nguyên
nước quý báu này.
2.1.1.4. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước
a, Ô nhiễm do tự nhiên
Do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão,… hoặc do các sản phẩm hoạt động
sống của vi sinh vật, kể cả các xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi,
chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng
đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm
hòa vào dòng lớn.
Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nghiệp, kỹ
nghệ hoặc do các tác nhân độc hại của các khu phế thải. Công nhân thu
dọn lân cận các công trường kỹ thuật bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô
nhiễm hóa chất
Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão lũ,…) có
thể rất nghiêm trọng nhưng không thường xuyên và không phải là nguyên
nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu.
9
b, Ô nhiễm do nhân tạo
* Từ sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ hộ gia đình, bệnh viện,
khách sạn, cơ quan, trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt,
vệ sinh của con người.
Thành phần cơ bản của chất thải sinh hoạt là chất hữu cơ dễ bị phân
hủy sinh học (cacbonhydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (nito,
photpho), chất rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước
xét nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là, rửa thực phẩm,
bát đĩa, từ việc làm vệ sinh phòng,… cũng có thể từ các hoạt động sinh hoạt
của bệnh nhân, người nuôi bệnh nhân, và cán bộ công nhân viên làm việc
trong bệnh viện. Điểm đặc thù của nước thải y tế có khả năng lan truyền rất
mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải được xả ra từ bệnh viện hay
khoa truyền nhiễm, lây nhiễm. Những nguồn nước thải bị nhiễm các vi khuẩn
gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước,
qua các loại rau được tưới bằng nước thải.
Nước thải bệnh viện chứa vô số loại vi trùng, virus và các mầm bệnh
sinh học khác trong máu, mủ, dịch, đờm, phân của người bệnh, các loại hóa
chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị, thậm chí cả chất phóng xạ. Do đó,
được xếp vào danh mục chất thải nguy hại, gây nguy hiểm cho người tiếp xúc.
* Từ hoạt động nông nghiệp
Các loại phân hóa học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,… là những nguồn gây ô
nhiễm đáng kể đối với nguồn nước ngầm và nước mặt. Trong quá trình sản
xuất nông nghiệp, đa số nông dân đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gấp ba
lần khuyến cáo. Chẳng những thế, nông dân còn sử dụng những thuốc trừ sâu
đã bị cấm trên thị trường như Aldrin, Thiodol, Monitor,… trong quá trình bón
phân, phun xịt thuốc, người nông dân không hề trang bị đầy đủ bảo hộ lao
động. Đa số nông dân không có kho cất giữ, bảo quản thuốc, vỏ bao bì thì vứt
ngay ra bờ ruộng.
Chất thải động vật: phân và nước tiểu động vật là nguồn gây ô
nhiễm khá lớn đối với các nguồn nước, đặc tính ô nhiễm của chất thải
động vật là chứa hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy và mang nhiều loại
vi sinh vật gây bệnh.
Nước chảy tràn trên mặt đất: Nước chảy tràn trên mặt đất do nước mưa
hoặc do thoát nước từ đồng ruộng là nguồn ô nhiễm nước sông, hồ, nước rửa
trôi qua đồng ruộng có thể cuốn theo thuốc trừ sâu, phân bón.
11
2.1.1.5. Các dạng ô nhiễm nước
S, nhiều chất chứa S
12
và P,… có tính độc và mùi khó chịu. Mùi hôi của phân và nước cống chủ yếu
do indol vào dẫn xuất chứa methyl.
c, Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ
Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và
các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn Mn, Cu, Hg là
những chất độc cho thủy sinh vật.
Đó là chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các kim loại
khác như đồng, kẽm, crom, niken, cacdimi rất độc đối với sinh vật thủy sinh.
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng
lo ngại. Khi phân bón được sử dụng hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng
và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt. Nhưng các cây trồng
chỉ sử dụng được khoảng 30-40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các
dòng nước mặt hoặc nước ngầm gây hiện tượng phì nhiêu hóa sông hồ, gây
yếm khí ở các lớp nước ở dưới.
d, Ô nhiễm hóa học do chất hữu cơ tổng hợp
Ô nhiễm này chủ yếu là do hydrocacbon, nông dược, chất tẩy rửa…
* Hydrocacbon
Hydrocacbon là hợp chất của các nguyên tố cacbon và hydro. Chúng ít
tan trong nước nhưng tan nhiều trong dầu và trong dung môi hữu cơ. Chúng
là một trong những nguồn ô nhiễm của nền văn minh hiện đại. Vấn đề hết sức
nghiêm trọng ở những vùng nước lợ và thềm lục địa có nhiều cá.
Sự ô nhiễm Hydrocacbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận
chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu. Các tai nạn đắm tàu chở
dầu xảy ra tương đối thường xuyên.
Các khu vực nước ở đất liền cũng bị nhiễm bẩn bởi các hydrocacbon.
Sự thải của các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu do vô ý vãi xăng
dầu. Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước sẽ làm cho các lớp
nước ngầm bị ô nhiễm.
của nước. Nước tự nhiên không màu, khi nhiễm bẩn thường ngả sang màu sẫm.
Còn lượng các chất rắn trong nước được phản ánh qua độ đục của nước.
* Thông số hóa học
Thông số hóa học phản ánh những đặc tính hóa học hữu cơ và vô cơ
của nước:
14
- Đặc tính hóa hữu cơ của nước thể hiện trong quá trình sử dụng oxy hòa
tan trong nước của các loại vi khuẩn, vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ.
Nước tự nhiên tinh khiết hoàn toàn không chứa những chất hữu cơ nào
cả. Nước tự nhiên đã nhiễm bẩn thì thành phần các chất hữu cơ tăng lên các
chất này luôn bị tác dụng phân hủy của vi sinh vật. Nếu lượng chất hữu cơ
càng nhiều thì lượng oxy cần thiết cho quá trình phân hủy càng lớn, do đó
lượng oxy hoà tan sẽ giảm xuống, ảnh hưởng đến quá trình sống của các vi
sinh vật trong nước.
Phản ánh đặc tính của quá trình trên, có thể dùng một số thông số sau:
+ Nhu cầu oxy sinh học BOD (mg/l)
+ Nhu cầu oxy hóa học COD (mg/l)
+ Nhu cầu oxy tổng cộng TOD (mg/l)
Các thông số trên được xác định qua phân tích trong phòng thí nghiệm
mẫu nước thực tế. Trong các thông số, BOD là thông số quan trọng nhất, phản
ánh mức nhiễm bẩn nước rõ rệt nhất.
- Đặc tính vô cơ của nước bao gồm độ mặn, độ cứng, độ pH, độ acid,
độ kiềm, lượng chứa các ion mangan (Mn), clo (Cl), đồng (Cu), kẽm (Zn), các
hợp chất chứa Nito hữu cơ, amoniac (NH
3
, NO
2
, NO
3
,) và phosphat (PO
- QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước ăn uống.
- QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt.
- QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước mặt.
- QCVN 09:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước ngầm.
- TCVN 6663-3:2008 - Chất lượng nước. Lấy mẫu. Phần 3: Hướng dẫn
bảo quản và xử lý mẫu;
- TCVN 6663-1:2011 - Chất lượng nước - Lấy mẫu. Phần 1: Hướng
dẫn lập chương trình lấy mẫu và Kỹ thuật lấy mẫu;
- TCVN 6663-11:2011 - Chất lượng nước - Lấy mẫu. Phần 11: Hướng
dẫn lấy mẫu nước ngầm;
16
2.1.2.2. Bảng tiêu chuẩn về chất lượng nước của Việt Nam
Bảng 2.1: Giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước sinh hoạt
TT
Tên chỉ tiêu
Đơn
vị
tính
Giới hạn
tối đa cho phép
Phương pháp thử
Mức
độ
giám
sát
Trong
khoảng
6,0 - 8,5
Trong
khoảng
6,0- 8,5
TCVN 6492:1999
hoặc SMEWW 4500 - H+
A
6
Hàm lượng
Amoni(*)
mg/l 3 3
SMEWW 4500 - NH3 C
hoặc SMEWW 4500 -
NH3 D
A
7
Hàm lượng
Sắt tổng số
(Fe2+ +
Fe3+)(*)
mg/l 0,5 0,5
TCVN 6177 - 1996
(ISO 6332 - 1988)
hoặc SMEWW 3500 - Fe
B
8
Chỉ số
Pecmanganat
B
12
Hàm lượng
Asen tổng số
mg/l 0,01 0,05
TCVN 6626:2000 hoặc
SMEWW 3500 - As B
B
13
Coliform
tổng số
Vi
khuẩn/
100ml
50 150
TCVN 6187 - 1,2:1996
(ISO 9308 - 1,2 - 1990)
hoặc SMEWW 9222
A
14
E. coli hoặc
Coliform
chịu nhiệt
Vi
khuẩn/
100ml
0 20
* Nước mặt
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn
trung bình từ 1800 - 2000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều lượng mưa và
dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán
thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng và tài sản, ảnh hưởng đến nền
kinh tế quốc gia, gây nhiều trở ngại cho việc trị thủy, khai thác dòng sông.
Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hàng năm trên lãnh thổ khoảng
640km
3
, tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313 km
3
. So với
nhiều nước, Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình
quân cho mỗi đầu người đạt tới 17000m
3
/người/năm. Do nền kinh tế nước
ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay
mới chỉ khai thác được 500m
3
/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3%
lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là khai thác lớp nước mặt
của các dòng sông và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp.(Cao
Liêm - Trần Đức Viên, 1990).
* Nước ngầm
Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của
nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam. Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử
dụng cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay; tuy nhiên việc điều tra nghiên cứu
nguồn tài nguyên này một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến
hành trong khoảng chục năm gần đây. Hiện nay, hoạt động đào giếng khai
thác nước ngầm được thực hiện ở nhiều nơi nhất là ở vùng nông thôn bằng