ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU HỒNG DUYÊN
Tên đề tài:
“
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT TẠI XÃ
MỸ YÊN – HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: THS. TRƯƠNG THÀNH NAM
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt theo loại hình bể nước của xã
Mỹ Yên giai đoạn 2011 – 2013 40
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt theo lọai hình nước giếng của
xã Mỹ Yên giai đoạn 2011 - 2013 41
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt theo loại hình nước suối của xã
Mỹ Yên giai đoạn 2011 - 2013 42
Bảng 4.4: Hiện trạng môi trường nước giếng tại xóm Chùa 44
Bảng 4.5: Hiện trạng môi trường nước suối được lấy tại xóm La Hồng 45
Bảng 4.6: Hiện trạng môi trường nước máy tại xóm Đồng Khâm 46
Bảng 4.7: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân 47 DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BOD : Nhu cầu oxy sinh học
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1. Mục đích 2
1.2.2. Yêu cầu 2
1.3. Ý nghĩa 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu nguồn nước 4
2.1.1. Tầm quan trọng của nước 4
2.1.2. Nước và một số khái niệm liên quan 5
2.2. Cơ sở thực tiễn 5
2.3. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về tài nguyên nước 7
2.4. Các loại ô nhiễm nguồn nước 9
2.5. Nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước 9
2.5.1. Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt 10
2.5.2. Ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp và dịch vụ 11
2.5.3. Ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp 12
2.6. Tình hình nghiên cứu về nước trên thế giới và tại Việt Nam 12
2.6.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới 12
2.6.2. Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước 16
2.7.Tình hình nghiên cứu về nước tại Việt Nam 19
2.7.1. Tình hình sử dụng nước 19
2.7.2. Hiện trạng môi trường nước 20
2.7.3. Tình hình cung cấp nước sạch 22
2.7.4. Thực trạng quản lý chất lượng nước 26
2.7.4.1. Tích cực 26
2.7.4.2. Hạn chế trong công tác quản lý 27
2.7.5. Giải pháp trong tương lai 28
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 31
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
4.2.1. Tình hình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn 39
4.2.2. Các loại hình cung cấp nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên 39
4.2.2.1. Bể lọc nước 40
4.2.2.2. Nước giếng 41
4.2.2.3. Nước suối 42
4.3. Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên 43
4.3.1. Nước giếng 43
4.3.2. Nước suối 45
4.3.3. Nước máy 46
4.4. Một số giải pháp cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên 47
4.4.1. Cấp nước nhỏ lẻ ( theo quy mô hộ gia đình) 48
4.4.2. Cấp nước sinh hoạt tập chung 50
4.4.2.1. Phương án kỹ thuật 50
4.4.3. Kỹ thuật công nghệ 52
4.4.3.1. Phục hồi, nâng cấp, cải tạo và duy trì hoạt động các công trình cấp
nước hiện có 52
4.4.3.2. Áp dụng công nghệ thích hợp trên cơ sở ưu tiên các tiến bộ khoa học,
kỹ thuật và công nghệ mới trong cấp nước 53
4.4.4. Công tác quản lý 56
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1. Kết luận 57
5.2. Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
I. Tài liệu tiếng Việt 59
II. Tài liệu tiếng anh 60
III. Tài liệu trên mạng 60
PHỤ LỤC
bảo cho sinh hoạt. Chất lượng nước bị suy giảm đến mức có một số nguồn
nước khác không thể sử dụng làm nước sinh hoạt vì quá ô nhiễm.
Đứng trước thực tế như trên và do nhu cầu sử dụng nước sạch của
người dân tại địa bàn xã, tìm ra một số giải pháp để đáp ứng nhu cầu sử dụng
nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn trở nên cấp thiết.
Xuất phất từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của ban
giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa
Môi trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Trương Thành Nam, giảng viên
khoa Quản lý Tài Nguyên – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt
tại xã Mỹ Yên - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích, yêu cầu
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên.
- Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên.
- Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu
sử dụng nước sạch sinh hoạt của người dân địa phương.
1.2.2. Yêu cầu
- Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên.
- Đảm bảo số liệu, tài liệu đầy đủ, chính xác và khách quan.
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị phù hợp, mang tính khả thi đối
với thực tế điều kiện kinh tế xã hội địa phương.
1.3. Ý nghĩa
- Củng cố lý thuyết kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập.
3
- Đánh giá vấn đề thực tế về hiên trạng môi trường nước sinh hoạt,
công tác cung cấp nước sinh hoạt của xã.
- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm
đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương.
tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km
3
), còn lại trong khí quyển và
thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong
băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ. Lượng nước
trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối
0,00007% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng
xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km
3
/năm). Lượng
nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km
3
, trong đó 8% cho
5
sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp). Hiện
nay trong quá trình khai thác và sử dụng con người đã làm cạn kiệt và ô
nhiễm các nguồn nước (Nguyễn Việt Phổ và cộng sự, 2004) [9].
2.1.2. Nước và một số khái niệm liên quan
- Trong tự nhiên nước tồn tại ở cả 3 dạng rắn, lỏng, khí, nước đóng
băng ở 0
0
C và 4
0
C nước có khối lượng riêng lớn nhất.
- Nước tham gia vào rất nhiều phản ứng hóa học ở nhiệt độ bình
thường nước không màu, không mùi, không vị.
- Nguồn nước: Là nước dùng để ăn uống, vệ sinh của con người “ nước
sạch” là nước đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nước sạch của tiêu chuẩn
Việt Nam
- Nguồn nước sinh hoạt: Là nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc
Vì vậy nước uống không chỉ đơn thuần là giải khát. Hàng ngày, nếu
lượng nước nạp vào cơ thể không đủ, hoặc bị mất nước do tiêu chảy, nôn mửa,
sốt cao, xuất huyết… sẽ sinh ra chủng mất nước. Khi ấy các cơ quan cảm thụ
sẽ chuyển đi chất kích thích, tác động vào “trung khu” khát nước của não
dưới lam cho người ta có cảm giác khát nước, cơ thể mất nước sẽ gây ra tình
trạng bứt rứt, không yên, kém ăn dẫn đến tay chân tê dại, thở dốc, tim đập
nhanh, thân nhiệt tăng cao, thậm chí cơ bắp co giật. Khi mất nước đến một
mức độ nhất định có thể gây ra tử vong (mất nước 5% có thể hôn mê, mất
nước 10 -15% có thể tử vong). Nước được coi là một phần tất yếu của cuộc
sống (Vũ Quang, 2006) [10].
- Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất
7
+ Đối với đời sống sinh hoạt: Nước được sử dụng cho nhu cầu ăn uống,
tắm giặt, hoạt động vui chơi giải trí (bơi lội, lướt ván…)
+ Đối với công nghiệp: Nước được sử dụng trong các khâu của quá
trình sản xuất như công nghiệp sản xuất giấy, công nghiệp hóa chất và kim
loại, xử lý rác thải.
+ Đối với hoạt động nông nghiệp: Trồng lúa, hoa màu… nước là yếu
tố không thể thiếu. Dân gian có câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
+ Nước có vai trò đối với các hoạt động nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi,
giao thông vận tải, thủy điện.
2.3. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về tài nguyên nước
Luật pháp của mỗi quốc gia về bảo vệ tài nguyên nước thường là một
hệ thống phức tạp tạo các quy chuẩn pháp lý về sử dụng, bảo vệ, khôi phục,
cải thiện các nguồn nước, tạo môi trường thuận lợi cho sự rộng và hoạt động
sản xuất của con người. Tùy theo điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, địa lý và
lịch sử mà luật pháp và quản lý nhà nước ở mỗi quốc gia khác nhau.
Ở nước ta, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã có những quy chẩn để các
cấp thực hiện công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước ở địa phương mình
như các điều 45, 46,47, 48 đã quy định các tiêu chuẩn để bảo vệ tài nguyên
chuẩn vệ sinh nước sạch tới chất lượng nước.
- Một số TCVN, QCVN liên quan:
+ TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu;
+ TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3:1985) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu;
9
+ QCVN 02:2009/BYT“Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt”;
+ QCVN 01:2009/BYT “ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước ăn uống”;
2.4. Các loại ô nhiễm nguồn nước
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nguồn nước: Dựa vào nguồn gốc ô
nhiễm gồm, ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt. Dựa vào
môi trường nước có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Dựa vào
tính chất của ô nhiễm gồm ô nhiễm sinh học, hóa học hạy vật lý.
- Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm do các nguồn thải đô thị hay
công nghiệp bao gồm các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy
đường…
- Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ: Do thải vào nước các chất nitrat,
photphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công
nghệ khác như Zn, Mn, Cu, Hg.
- Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp: Do hydrocacbon, nông dược,
chất tẩy rửa…
- Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm
tăng lượng chất lơ lửng, làm tăng mức độ đục của nước. Các chất này có thể
là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn
và các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ
xuyên thấu của ánh sáng (Thu Trang, 2006) [13].
2.5. Nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước
xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải. Do đó nhiều sông
hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng.
Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỷ lệ người chết do các
bệnh liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư ngày
càng tăng lên. Ngoài ra tỷ lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn
nước là rất cao (Thu Trang) [13].
11
2.5.2. Ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp và dịch vụ
Tốc độ đô thị hóa, công nghiêp hóa ngày càng phát triển kéo theo hàng
loạt các khu công nghiệp được thành lập. Do vậy, lượng rác thải do các hoạt
động công nghiệp ngày càng nhiều và chưa được xử lý triệt để, ví dụ: tại các
khu vực Hà Nội mỗi ngày có khoảng 260.000m
3
rác thải công nghiệp và chỉ
có 10% được xử lý đều được đổ trực tiếp ra các con sông vùng Châu thổ sông
Hồng và sông Mê Kông.
Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví như ở các ngành
công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường
có độ pH trung bình từ 9 - 11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu
ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1, hàm lượng chất
rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng
nề các nguồn nước bề mặt trong vùng dân cư.
Đã có những khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì,
giấy, dệt nhuộm ở một số địa phương cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn
m
3
/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu
vực. Không chỉ ở các thành phố lớn mà ở hầu hết các đô thị khác, nước thải
do các cơ sở công nghiệp cũng không được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi
tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP). Mặt khác, còn
2.6.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới
Tổng sản lượng nước trên thế giới gồm: 97,5% nước biển và chỉ có
2,5% nước ngọt. Trong 2,5% này chỉ có 0,4% nước mặt gồm sông ngòi, ao
hồ và hơi nước trong không khí, 30,1% nước ngầm và phần còn lại là những
tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực và sau cùng trong 0,4% nước mặt đó có
67,4% nước ao hồ, 1,6% sông ngòi 12,2% nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi
nước trong không khí và phần còn lại gồm các vùng đất ngập nước.
13
- Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao
của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc
biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy,
luyện kim, hóa chất , chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng
lượng nước sử dụng cho công nghiệp.
- Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất
nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng
đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao. Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương
lai do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên
toàn thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km
3
/năm. Phần lớn nhu cầu về nước
được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ
sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa
khô. Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng
sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: Để sản xuất 1 tấn lúa mì
cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải
cần đến 10.000 tấn nước.
- Nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5 - 10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị
vực này.
Còn tại Nhật Bản, dù có lượng nước mưa cao nhưng ô nhiễm nguồn
nước cung cấp nước ngọt đang là vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, trong khi tại
Mỹ một số khu vực rộng lớn đã và đang sử dụng nhiều nguồn nước hơn
những gì mà nguồn nước tự nhiên có thể cung cấp được. Tình hình này sẽ trở
15
nên càng trầm trọng khi tình trạng ấm lên toàn cầu sẽ dẫn đến lượng mưa thấp
hơn. Nước bốc hơi nhiều hơn và làm thay đổi hình thức tan băng (Nguyễn
Văn Tuấn và cộng sự ,1991) [15].
Một số thành phố khan hiếm nước trên thế giới như Harstom và Sydney
đang sử dụng nhiều nước ngọt hơn cả khẳ năng cung cấp, tại London sự dò rỉ
và thất thoát nước mỗi ngày ước tính bằng vớ lượng nước cấp cho 300 bể bơi
và tiêu chuẩn Olypic do hệ thống đường ống dẫn nước đã quá cũ…
Đó là những thông tin trong bản báo cáo mới đây của tổ chức bảo tồn
toàn cầu mang tên “những nước giàu thiếu nước”. theo đó, sự thay đổi
khí hậu khô hạn và mất di các khu đất ngập nước để dự trữ nước cùng với sự
đầu tư nghèo nàn cho cơ sở hạ tầng của hệ thống nước và quản lý yếu kém
nguồn nước đang khiến cho cuộc khủng hoảng này thực sự là vấn đề của toàn
cầu. Cuộc khủng hoảng tại các quốc gia giàu đã chứng minh cho sư giàu cơ sở
hạ tầng không thể đảm bảo có thể chống lại dược sự khan hiếm, ô nhiễm, khí
hậu thay đổi và hạn hán, rõ ràng đến giờ vẫn chưa có các biện pháp thay thế
nào để bảo vệ các dòng sông và khu vực đất ngập nước và phục hồi các vùng
đồng bằng ngập lũ.
Ông Jamie Pichick, giám đốc chương trình nước ngọt toàn cầu của Quỹ
thiên nhiên thế giới (WWF) nhấn mạnh: “Nền kinh tế giàu không có nghĩa là
có nhiều nước ngọt. Việc khan hiếm và ô nhiễm đang ngày càng gia tăng và
trách nhiệm tìm ra những giải pháp thuộc về quốc gia cả giàu lẫn nghèo”.
Cũng theo ông JamineDiithick, tuần lễ nước sạch thế giới đang tới gần
(20 - 26/8) các quốc gia hãy quay trở về bảo vệ thiên nhiên, vì chính đó là
phần cung cấp nước ngọt. Chính phủ các nước cần phải đưa ra các giải pháp
thành một vấn đề nóng bỏng ở một số nơi thì vẫn còn nhiều quốc gia trên thê
17
giới có rất nhiều nước. Có điều, nước này thường không an toàn trong thực
tế, 90% trường hợp tử vong do mắc các bệnh liên quan đến nước là xuất phát
từ việc dùng nước ô nhiễm (G. Tyler Miler. Jr,1998) [19]
Ủy ban kiểm soát ô nhiễm bang Punjab (Ấn Độ) vừa công bố một kết
quả làm rung mình: Hóa chất độc hại trong nguồn nước đang làm biến đổi gen
của dân chúng. Theo nhật báo New York TUNES (Mỹ), kết quả ban đầu của
nghiên cứu cũng cho thấy hàm lượng thạch tín, và hàm lượng thủy ngân trong
nước máy ở Punjab rất cao. Punjab nằm ở phía tây bắc ấn độ, được ví như
vành đai xanh của nước này. Đây cũng là bang thu hút nhiều nhà đầu tư nước
ngoài thiết lập xưởng sản xuất vì có cơ sở hạ tầng thuộc loại tốt nhất Ấn Độ.
Gần đây, một số ngôi làng ở Punjab đã bắt đầu có những biểu hiện như tóc
bạc, già trước tuổi… các nhà khoa học này nghi ngờ bệnh lý này có liên quan
đến hàm lượng hóa chất nguy hiểm trong nước uống. Hiện nay, giới chức
trách ấn độ đang điều tra mối liên hệ giũa những căn bệnh trên với hóa chất
dùng trong nông nghiệp và công nghiệp ở Punjab. Vào ngày 25/11, các nhà
khoa học về đất ở trường đại học Nông nghiệp Pujab công bố 80% nước
ngầm ở Punjab không thích hợp cho người sử dụng, một số nguồn nước có
hàm lượng thạch tín cao, có nguy cơ chết người. Theo ông J.S.Thakus, người
đứng đầu cuộc nghiên cứu trên, khi con người bị phơi nhiễm thuốc trừ sâu và
khi đồng ruộng được tưới tiêu bằng nước ô nhiễm thì nguy cơ mắc các bệnh
về gen, hệ thần kinh và đường sinh sản cao. Đáng lo ngại hiện nay là chỉ có
một nhà máy xử lý nước thải hoạt động ở Punjab, theo nguồn tin của ủy ban
kiểm soát ô nhiễm bang này (Chias. Daniel D,1991) [18].
Ngoài hậu quả về bệnh tật, hành tinh của chúng ta càng ngày càng khát
nước, do dân số tăng nhanh, hạn hán kéo dài, có thể dẫn tới xung đột và chiến
tranh, đe dọa hòa bình và ổn định thế giới.