Tóm tắt luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu về Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh - Pdf 38

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do, mục đích chọn đề tài:
1. Đổi mới, cách tân là quy luật, là nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ.
Thơ Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt từ sau 1986 đến nay đã có sự đổi mới cơ bản theo nhiều xu
hướng khác nhau: Có xu hướng trở về với nền thơ truyền thống; có xu hướng đi tìm cái mới trên cơ
sở tiếp thu những lý thuyết mới; có xu hướng tìm tòi, cách tân đổi mới trên cơ sở truyền thống thơ
dân tộc kết hợp một cách khoa học sáng tạo truyền thống và hiện đại. Hữu Thỉnh là một cây bút tiêu
biểu của xu hướng này.
2. Là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh sớm khẳng định được
vị trí và phong cách sáng tạo độc đáo. Sau 1975 Hữu Thỉnh tiếp tục sáng tâc và ngày càng khẳng
định được vị thế riêng qua nhiều giải thưởng cao quý, đặc biệt tạo được sự mến mộ thường trực của
nhiều thế hệ độc giả. Có thể nói, truyền thống và cách tân thực sự là hai giá trị thẩm thấu, hội tụ
trong thơ Hữu Thỉnh tạo nên cảm quan nghệ thuật và giá trị riêng của thơ ông.
3. Hữu Thỉnh sáng tác không nhiều nhưng thơ ông luôn tạo được sự quan tâm đặc biệt của
công chúng và giới nghiên cứu, phê bình. Số lượng bài viết về thơ Hữu Thỉnh khá nhiều trong đó
cũng có một số ý kiến quan tâm đến tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trong thơ
ông. Tuy nhiên đó mới chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, đan xen trong các bài viết về từng tập thơ, từng tập
trường ca và thơ chung của ông. Thực tế, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu
riêng về tính truyền thống và hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh. Bởi vậy chúng tôi chọn đi sâu nghiên
cứu về Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh với hy vọng góp phần nhận diện đánh giá
những nét đặc sắc của thơ Hữu Thỉnh và những đóng góp đáng trân trọng của ông đối với sự phát
triển của nền thơ Việt Nam hiện đại. Từ đó, đúc rút được những bài học kinh nghiệm thẩm mỹ quý
báu cho việc tìm tòi, đổi mới thơ.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Hữu Thỉnh là cây bút luôn thu hút được sự mến mộ, quan tâm của các nhà nghiên cứu
phê bình và đông đảo công chúng. Đến nay số bài viết, công trình nghiên cứu về thơ Hữu
Thỉnh khá nhiều. Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát những công trình,
bài viết về thơ Hữu Thỉnh trên hai phương diện chính: Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh và
tính truyền thống, hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh.
2.1. Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh

Lâm Huy Nhuận).
- Sức bền của đất, trường ca, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.
- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998 bao gồm:
+ Tiếng hát trong rừng, tập thơ
+ Đường tới thành phố, trường ca
+ Thư mùa đông, tập thơ
+ Trường ca Biển, trường ca
- Thơ với tuổi hoa, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000.
- Thương lượng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006.
Bên cạnh đó, để có cơ sở so sánh làm nổi bật những nét đặc sắc riêng trong thơ Hữu Thỉnh,
chúng tôi mở rộng khảo sát một số tập thơ và trường ca của các tác giả cùng thời với ông.

2


4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp so sánh.
5. Đóng góp mới của luận văn:

Luận văn đặt và khảo sát thơ Hữu Thỉnh trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại để từ
đó phát hiện, lý giải những thành công của nhà thơ trong việc kế thừa và phát huy những giá
trị truyền thống, những đóng góp tích cực nhằm hiện đại hóa thơ, bước đầu khẳng định giá trị
đặc sắc của Hữu Thỉnh trong nỗ lực đổi mới thơ.
- Luận văn góp phần đánh giá một phương diện quan trọng trong văn nghiệp của Hữu
Thỉnh, từ đó khẳng định được vai trò, đóng góp đáng trân trọng của nhà thơ trong công cuộc
sáng tạo và xây dựng nền thơ dân tộc.
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được

1.1.2.1. Cách tân:
Theo Đại từ điển tiếng Việt, cách tân được định nghĩa là “quá trình vận động loại bỏ cái cũ,
sáng tạo cái mới như các hành vi hoặc quá trình sáng tạo trong khoa học kỹ thuật, quá trình sáng
tạo các sự vật. Cách tân là cải cách và càng làm mới thêm tất cả các sự vật, hiện tượng”. Trong cả
hai cuốn Từ điển văn học và Sổ tay từ Hán Việt, “Cách tân” đều có nghĩa là Đổi mới.
1.1.2.2. Cách tân trong văn học:
Trong văn học nói đến cách tân là nói đến sự đổi mói tìm kiễm cái mới, sáng tạo ra cái mới.
“Cách tân là lẽ sống” của sáng tạo văn học nghệ thuật. Những sự cách tân đích thực, “những cách
tân chân chính sẽ trở lại thành những truyền thống mới bồi đắp thêm cho kho tàng kinh nghiệm đã
vượt qua sự thử thách của thời gian của những thế hệ đi trước” [63, 230]
Nhìn như vậy có thể thấy, “kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật là những phương
diện không bao giờ tách rời của quá trình văn học” [64, 230]
1.2. Khái lược thơ Hữu Thỉnh:
1.2.1. Quan niệm của Hữu Thỉnh về thơ:
Đến với thơ, Hữu Thỉnh thực sự suy tư, trăn trở trong việc xác định một quan niệm sâu sắc
và nghiêm túc về thơ, về người “làm ra thơ”:
1.2.1.1. “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”
- Một trong những nét đặc sắc của thơ chống Mỹ là sự hiện diện đông đảo của nhà thơ –
chiến sĩ; trực tiếp đánh giặc và làm thơ. “Văn chương đối với học như một phương tiện nhập cuộc”
(Vũ Quần Phương). Từ trong “luồng xiết” của cuộc chiến tranh, như một nhu cầu tự tại – người lính
“làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”.
- Chính vì thế, thơ Hữu Thỉnh là thơ của “người trong trận”, là “bài ca người lính”, trở thành
cội nguồn sức mạnh của người lính chiến đấu và chiến thắng.
- Trong quan niệm của Hữu Thỉnh, thơ không thể là “dây bìm trang trí”, không thể thờ ơ, xa
lạ với cuộc sống và con người.
1.2.1.2. “Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống”
Với Hữu Thỉnh, thơ phải được viết bằng chính sự từng trải, và “bằng những trải nghiệm của
mình ở chiến trường”. Hữu Thỉnh khẳng định “con người ta không từng trải với cuộc đời khó mà
viết hay. Thơ sẽ rất nhạt nếu đời người cầm bút không trải qua những thăng trầm, thách thức, cam
go... Kinh nghiệm cá nhân của người cầm bút là đặc biệt quan trọng. Phải có những kinh nghiệm từ

Mảng thơ của Hữu Thỉnh về chiến tranh bật lên từ hiện thực đời sống chiến trường với
những đói, những rét, những đổ máu, hy sinh nhưng cũng nhiều thương cảm, thấm đẫm tình đời.
Bởi vậy nó mang đậm dấu ấn của hiện thực cuộc sống chân thực và cụ thể. Tiêu biểu bộc lộ trong
hai trường ca Sức bền của đất và Đường tới thành phố.
Sức bền của đất là những tâm tình, suy tư đằm sâu và thấm thía của những người lính về cội
nguồn sức mạnh của mình và đồng đội được truyền dẫn từ lòng mẹ, từ đất đai quê hương, từ các thế
hệ đi trước và truyền thống dân tộc.
Trường ca Đường tới thành phố là tác phẩm quan trọng nhất của đời thơ Hữu Thỉnh và cũng
là tác phẩm giá trị của nền thơ Việt Nam hiện đại. Tác phẩm viết về giai đoạn cuối của cuộc chiến
tranh chống Mỹ, được coi là bản “tổng phổ” của biết bao số phận, cảnh ngộ, cùng những hy sinh

5


chịu đựng và suy tư trăn trở của cả một dân tộc trên chặng đường “dằng dặc đau đớn mất mát” để đi
tới chiến thắng. Tác phẩm đi sâu vào những phần chìm khuất của hiện thực đời sống, kết hợp nhuần
nhị giữa chất triết lý, chính luận với chất trữ tình nồng hậu đằm thắm, không dễ lẫn, không dễ nhạt
nhòa.
1.2.2.2. Thơ viết về đời sống hậu chiến
Thơ viết về đời sống hậu chiến của Hữu Thỉnh gồm hai tập Thư mùa đông, Thương lượng
với thời gian và Trường ca Biển. Ghi lại những số phận với những cung bậc cảm xúc đậm chất thân
phận, phần ẩn lấp trong tâm hồn con người sau chiến tranh.
Trường ca Biển là số phận cá nhân của những người lính đảo thời bình, luôn gồng mình
vượt qua mọi gian lao, hiểm nguy để giữ vững chủ quyền đất đai của Tổ quốc. Đó là hành trình gian
lao của người lính để đi tới và “neo” được ở nơi “mịt mù biển mịt mù trời”.
Thư mùa đông là hành trình đi “tìm người”, tìm kiếm những giá trị nhân bản. Tập thơ đậm
dấu ấn cá nhân với sự cô đơn, lạc lõng trong tâm hồn và những trăn trở luôn thường trực về nhân
tình, thế thái.
Thương lượng với thời gian tiếp tục là những trăn trở, suy tư đằm sâu của Hữu Thỉnh về cõi
nhân sinh, về nhân tình thế thái; là những tâm sự, trăn trở, thao thức về cuộc đời, vê tình yêu, về đạo

Với Hữu Thỉnh, đất nước trường tồn trong những giá trị chìm khuất, sâu thẳm nhất, đó là
những giá trị không nhìn thấy được, không hiện hữu, không trực tiếp bộc lộ, nhưng lại hiển hiện
trong từng hình ảnh giản dị, cụ thể. Đất nước tiềm ẩn những giá trị không thể đánh giá, đó là âm
vang, là dư vị, là hồn cốt của những gì đau xót nhất, thiêng liêng nhất, vang dội nhất, là mạch ngầm
thẩm thấu trong từng con chữ.
Đất nước gắn với gia đình người thân, là nơi gửi gắm tình mẫu tử, tình bạn, tình đồng chí,
đồng đội, tình yêu...
2.1.2. Cốt cách của con người Việt Nam
2.1.2.1. Trọng tình nghĩa, nhân nghĩa
Từ xa xưa, tư tưởng trọng tình nghĩa, nhân nghĩa đã là một trong những truyền thống quý
báu của dân tộc. Hữu Thỉnh đã kế thừa và góp phần làm sâu đậm tư tưởng nhân văn đó qua những
câu thơ chan chứa cảm xúc, sâu nặng ân tình. Con người tình nghĩa trong thơ Hữu Thỉnh luôn mang
một tấm lòng thơm thảo với quê hương, hiếu nghĩa với cha mẹ và nhân nghĩa với bạn bè, đồng bào
đồng chí.
Hữu Thỉnh viết về mẹ, bạn bè, đồng chí, đồng đội với những rung cảm xúc động nhất , với
tấm lòng trắc ẩn. Nhà thơ rung động một cách mãnh liệt và phản ánh sâu đậm những khía cạnh thể
hiện phẩm chất, tình nghĩa cao đẹp của con người Việt Nam, góp phần khắc đậm phẩm chất truyền
thống cao đẹp... trọng tình nghĩa của con người Việt Nam.
2.1.2.2. Sống đồng cảm, hy sinh, nhường nhịn, xẻ chia:
Phẩm chất này bộc lộ rõ hơn cả ở hai hình tượng: người lính và người mẹ trong thơ Hữu
Thỉnh. Ông viết về họ như một trong những nét đẹp đáng khâm phục, tự hào của những người lính
bộ đội cụ Hồ, những người mẹ tần tảo, anh hùng. Nhà thơ ghi lại một cách chân thực và dung dị về
sự chia sẻ, nhường nhịn, nâng niu, che chở, bảo vệ và đỡ đần của con người trong chiến tranh vượt

7


qua mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc chiến, thậm chí cả những người không quen biết, không
chung cội nguồn lí tưởng.
2.1.2.3. Sống lạc quan, tin tưởng, bền bỉ, dẻo dai:

8


một cách hài hòa và tao nhã. Điều đặc biệt là Hữu Thỉnh rất tài tình trong việc khai thác vận dụng:
chỉ với một nét của những giá trị truyền thống đó, đã có thể mường tượng, hiểu được giá trị của
những trầm tích lịch sử, văn hóa đó.
Chính sự kế thừa, tiếp nhận và khai thác sáng tạo những trầm tích lịch sử văn hóa truyền
thống tạo nên những điểm nhấn, sự hấp dẫn đặc biệt cho thơ Hữu Thỉnh, đồng thời tạo khoảng rộng
cho sự liên tưởng đầy sáng tạo của người đọc. Đây cũng là một trong những phương diện tạo nên
phong cách sáng tạo độc đáo cho thơ Hữu Thỉnh.
2.2.2. Tiếp nhận sáng tạo từ nghệ thuật thơ truyền thống
2.2.2.1. Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, gợi cảm:
Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ thấm nhuần giá trị truyền thống dân gian một cách
sâu sắc và toàn diện. Bởi vậy thơ ông luôn mang lại cảm nhận giản dị, gần gũi, gợi cảm nhưng hàm
ẩn chiều sâu ngữ nghĩa.
Trong thơ Hữu Thỉnh tràn ngập những hình ảnh của cuộc sống đời thường giản dị, gần gũi
nhưng đầy gợi cảm, lôi cuốn. Trong thơ viết về chiến tranh là những hình ảnh bom đạn, đường
rừng, con suối, hầm đất, giấc ngủ chập chờn trên đường ra trận, nắm cơm ăn vội, cháy than, những
đống lửa hắt hiu, giường chiếu chăn tạm bợ, máu lửa, chết chóc, hy sinh… tất cả đều tái hiện hiện
thực một cách chân thực, sinh động theo guồng quay của chiến trận dưới một nhãn quan tinh tế và
đầy ý nhị.
2.2.2. Giọng điệu thơ truyền thống
2.2.2.1. Giọng tâm tình, giãi bày
Nói về giọng thơ Hữu Thỉnh, điều đầu tiên độc giả cảm nhận ở trong những vần thơ ông là
lối dẫn dắt mang âm hưởng thơ trữ tình sâu lắng và giãi bày.Giọng thơ trữ tình, nhẹ nhàng, man
mác. Chất giọng này giữ vai trò chủ đạo trong thơ Hữu Thỉnh giai đoạn sáng tác trong chiến tranh.
Chất giọng trữ tình ngọt ngào, đó là những dòng thơ viết về người lính, người mẹ, về cuộc chiến
tranh…
2.2.2.2. Giọng chiêm nghiệm, triết lý:
Đây là một giọng điệu đặc sắc của thơ ca truyền thống. Nếu trước và trong chiến tranh,

cả trường ca Sức bền của đất với rất nhiều liên tưởng mới đến được tầng nghĩa sức bền của đất –
sức bền bỉ của dân tộc. Những liên tưởng thể hiện một kiểu tư duy thơ hiện đại của Hữu Thỉnh
“mang lại các phát hiện rất bất ngờ, khiến cho những câu thơ tài hoa của anh phát sáng ở nhiều
chiều kính” (Nguyễn Việt Chiến).
3.1.2. Khả năng chuyển đổi cảm giác
Chuyển đổi cảm giác là sự tương giao giữa các giác quan: “Mùi hương, màu sắc, âm
thanh”. Hữu Thỉnh đã vận dụng thành công thủ pháp này trong việc gia tăng sức gợi – tả trong thơ.
Vận dụng sự tương giao của các giác quan, Hữu Thỉnh đã đem đến một cái nhìn mới, tạo dựng được
một kiểu tư duy mới, hiện đại để biểu hiện những cung bậc đa dạng của cảm xúc. Cảm nhận bằng
vị giác đã tạo nên những hình tượng thơ mới mẻ, những câu thơ trở nên tinh tế, diễn tả tài tình các

10


xao động trong tâm tình của con người. Những suy nghĩ vốn trừu tượng, nhưng qua cảm nhận của
nhà thơ lại được hình khối hóa. Đặc biệt thủ pháp nhân cách hóa sự vật được vận dụng phổ biến
trong thơ Hữu Thỉnh. Nhân cách hóa kết hợp với sự giao thoa của các giác quan, đem đến một cái
nhìn mới; một cách tạo hình mới cho thơ Hữu Thỉnh.
Có thể thấy, nghệ thuật chuyển đổi cảm giác đem đến cho thơ Hữu Thỉnh một sự tinh tế và
điểm nhấn lạ thường trong việc tạo hình ảnh thơ, đặc biệt là bộc lộ chiều sâu tâm hồn một cách tế
nhị mà thấm nhuần tư tưởng nhân văn đồng thời mang đến cho thơ Hữu Thỉnh dáng dấp tạo hình và
một kiểu tư duy thơ hiện đại, mới mẻ.
3.1.3. Bút pháp tạo hình hiện đại:
Nói đến nghệ thuật tạo hình là nói đến các yếu tố nhận thức của thị giác: hình khối, đường
nét, hình dạng, màu sắc, chất liệu, không gian và sắc độ. Để đưa được những nét tinh tế của nghệ
thuật này vào thơ không phải dễ. Với những nỗ lực tìm tòi sáng tạo, Hữu Thỉnh đã có được những
thành công trong bút pháp tạo hình.
Thơ Hữu Thỉnh giàu hình ảnh và phương thức tạo dựng hình ảnh cũng rất đa dạng. Hình ảnh
có khi được tạo bằng cảm giác, khi bằng ảo giác có khi được kết hợp tinh tế giữa cái vô hình và cái
hữu hình, giữa cảm giác và ảo giác, nhờ thế đã sáng tạo được những hình ảnh mới lạ và bất ngờ, độc

lịch sử. Cái tôi cá nhân được đề cao nhưng cái mà họ hướng đến là dân tộc và thời đại chứ không
phải để thể hiện những tình cảm cá nhân. Đây chính là điểm đặc biệt, chất hiện đại của yếu tố trữ
tình trong trường ca Hữu Thỉnh.
Chất trữ tình trong trường ca Hữu Thỉnh còn bộc lộ ở sự phân mảnh vấn đề, sự việc, sự kiện,
câu chuyện, dòng cảm xúc. Đó là sự xen kẽ, đan cài nhiều sự việc với nhau.
Tựu trung lại, dưới góc độ nào trường ca Hữu Thỉnh cũng đều phản ánh hai vấn đề mang
tính thời cuộc rõ nét.
3.2.1.2. Thơ tự do – thơ văn xuôi
Trong các tập thơ của Hữu Thỉnh, thơ tự do chiếm tỉ lệ cao. Ở tập Tiếng hát trong rừng có
13/22 bài. Trong tập Thư mùa đông có 22/36 bài. Trong tập Thương lượng với thời gian là 17/49
bài. Thơ tự do linh hoạt trong từng từ, câu thơ, ý thơ cho đến bài thơ. Sự co dãn linh hoạt của câu
thơ được nhà thơ tận dụng một cách triệt để, trong việc bộc lộ ý đồ, cảm xúc. Sự biến hóa trong thể
loại không chỉ giúp cho nhà thơ thỏa sức thể hiện, bộc bạch, mà sự khoáng đạt về ngôn ngữ, nhịp
điệu còn làm cho câu thơ trở nên linh loạt, tránh cảm giác sáo mòn, cứng nhắc, đơn điệu. Diễn đạt
phóng khoáng, thể hiện phóng khoáng, nhưng bộc lộ sâu sắc và tô đậm sự cảm nhận của người đọc
chính là hiệu quả của thể thơ này.
Thơ văn xuôi được sử dụng đan xen trong các sáng tác của Hữu Thỉnh, chỉ có 1 bài thơ viết
hoàn chỉnh dưới thể loại này là Văn xuôi một người lính. Với của thể thơ này nhà thơ có thể bộc lộ
những tâm sự chất chứa được viết lên dưới hình thức thơ một cách trọn vẹn.
3.2.2. Sáng tạo trên những thể thơ truyền thống
3.2.2.1. Thể lục bát

12


Khảo sát về thơ Lục Bát trong thơ Hữu Thỉnh ta thấy: Trong tập Tiếng hát trong rừng có
2/22 bài, tập Thư mùa đông là 3/36 bài. Tập Thương lượng với thời gian là 5/49 bài, Hữu Thỉnh
dùng Lục bát như một chiếc cầu nối duyên.
Nét đặc trưng của thơ Lục bát Hữu Thỉnh chính là ở sự giản dị, dung nạp nguyên liệu từ
chính môi trường sống một cách tự nhiên, giản dị. Thơ Hữu Thỉnh cũng hài hòa, mượt mà và sâu

Hữu Thỉnh bộc lộ. Nếu thơ năm chữ của nhà thơ có nhịp thơ 2/3 hoặc 3/2 nghiêng về những mạch
thơ có đôi phần là những vần thơ chiêm nghiệm, thường là nói về những khía cạnh chìm khuất có
chút đượm buồn của chiến tranh, tình cảm, giọng thơ cũng có sự chiêm nghiệm, đúc kết, trầm lắng
thì thơ sáu chữ là một sự bổ sung hài hòa và hợp lý, nhịp thơ chẵn nhẹ nhàng uyển chuyển, giọng
thơ đa phần thể hiện sự lạc quan, hai thể thơ này đã tạo nên một sự tổng hòa, một bảng màu hoàn
chỉnh.
Thơ 6 chữ có số lượng không nhiều trong thơ Hữu Thỉnh, chủ yếu được xen kẽ trong các bài
thơ để làm mới cho thơ. Tuy nhiên những điểm nhấn ấy cũng phần nào thể hiện cái mới đầy tính kế
thừa và phát triển của thơ Hữu Thỉnh.
3.2.2.4. Sự đan xen sáng tạo các thể thơ
Bên cạnh các thể thơ chính, ở thơ Hữu Thỉnh còn có sự đan xen tổng hợp các thể thơ trong
một bài thơ. Trong bài Gửi từ đảo nhỏ, có sự đan xen của hai thể thơ: Thể tám chữ và Đường luật;
trong Tự thuật của người lính (Trường ca Biển) nhà thơ đã liên tiếp xen kẽ nhiều thể thơ trong toàn
bài thơ với mật độ dày đặc.
Trước sự thay đổi linh hoạt và điêu luyện của thể thơ, giọng thơ, mạch thơ, tâm trạng của
nhân vật trữ tình dường như cũng thay đổi, mỗi sự đổi thay là một sự cải biến đầy mới lạ mà vẫn hài
hòa và phù hợp với mạch nguồn của cảm xúc, tâm trạng, tạo được hiệu quả nghệ thuật.
3.3. Nỗ lực hiện đại hóa ngôn ngữ thơ
3.3.1. Mở rộng trường ngôn ngữ của thơ
3.3.1.1. Gia tăng vốn từ vựng
Thơ Hữu Thỉnh dành một số lượng lớn viết về chiến tranh, bởi vậy ngôn ngữ chiến tranh
được Hữu Thỉnh sử dụng một cách triệt để và phong phú. Vốn từ vựng sử dụng cho mảng sáng tác
này cũng phong phú và mở rộng hơn về trường ngữ nghĩa và sức gợi, nội dung biểu đạt.
Sự gia tăng về vốn từ vựng bộc lộ rõ nhất khi chiến tranh qua đi, ngôn ngữ thế sự, đời tư
chuyển sang sự trăn trở, suy tư, trước những thăng trầm của cuộc sống. Nổi bật chính là sự suy tư
trong mối quan hệ về tình người, đúng hơn là giữa người với người, về đạo đức xã hội qua bài thơ
(Hỏi, Bất hạnh). Hữu Thỉnh tạo được sự kết hợp đầy mới lạ, mở ra sự cân xứng mới cho ngôn ngữ
Việt.
Có thể thấy sự đan xen giữa ngôn ngữ của chiến trường và thế sự, đời tư đã đem lại nhiều
cái mới, đặc biệt, nhiều cảm nhận mới mẻ, độc đáo và chắt lọc, làm nên nét riêng của thơ Hữu

Hữu Thỉnh sử dụng phép lặp từ vựng dưới rất nhiều hình thức, song chủ yếu là kiểu lặp
cách quãng, lặp đầu và lặp từ; lặp vòng tròn, lặp đầu – cuối và lặp ngữ chiếm tỉ lệ thấp hơn. Hữu
Thỉnh sử dụng nhiều phép lặp đủ.
Ở cấp độ thứ nhất, điệp nguyên khổ thơ, với cấu trúc đặc biệt, bài thơ Hỏi mang một giá trị
nhân sinh sâu sắc, mỗi khổ thơ cấu trúc theo lối hỏi đáp, đặc biệt câu hỏi ở khổ cuối lặp lại đến 3
lần nhưng đều khuyết lời đáp.

15


Ở cấp độ thứ hai, Bên cạnh hiện tượng điệp toàn vẹn, còn bắt gặp những hiện tượng tương
tự trong cả khổ thơ, dòng thơ.
Ở cấp độ thứ ba, tập trung điệp câu thơ liền nhau hoặc cách quãng trong từng bài thơ gợi lên
dư âm vọng lại, rải rác, man mác tạo cảm giác gợi sâu cho độc giả như một sự nuối tiếc, vấn vương,
buồn lưu luyến.
Ở cấp độ thứ tư, xuất hiện hiện tượng lặp cấu trúc câu, có thể là nửa câu thơ, có thể là mô típ
dẫn dắt của câu thơ, khổ thơ trong bài tạo điểm nhấn cho toàn bài. Đây là hiện tượng phổ biến và
rộng khắp trong thơ Hữu Thỉnh, có thể thấy, xuyên suốt hầu hết các tập thơ đều sử dụng biện pháp
này như một sự nhấn mạnh, nhấn mạnh ý thơ toàn bài nói chung, nhấn mạnh chủ đề toàn tập thơ,
bài thơ đồng thời nhấn mạnh một ý thơ độc đáo trong từng tác phẩm.
Ở cấp độ nhỏ nhất là điệp từ trong câu thơ, trong khổ thơ nhằm gây sự chú ý cho yếu tố
được nói đến trước đó, nhấn mạnh vấn đề đề cập trong câu thơ, bài thơ như một sự lưu tâm. Cấp độ
này và cấp độ bốn mang tính phổ quát và rộng khắp các tập thơ Hữu Thỉnh.
Trùng điệp là biện pháp nghệ thuật hết sức quan trọng trong thơ Hữu Thỉnh, góp phần tạo
nên tính nhạc và nhịp điệu hài hòa cho câu thơ, tạo nên giá trị miêu tả, tạo sức gợi cho toàn tác
phẩm, đồng thời qua đó nhấn mạnh thêm chủ đề, nội dung, ý đồ, tư tưởng của nhà thơ trong bài thơ,
hoặc cấu tứ câu thơ, giúp người đọc cảm nhận chính xác và đi sâu vào ý đồ nghệ thuật thể hiện của
tác giả.
3.3.2.3. Ẩn dụ, hoán dụ
Nhờ sử dụng những thủ pháp nghệ thuật này câu thơ Hữu Thỉnh không trở nên khô khan,

về âm và nghĩa đã tạo nên một sự kết hợp hài hòa. Đây có thể coi là nguyên tắc cơ bản quan trọng
trong việc xây dựng ý thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ trong thơ Hữu Thỉnh.
Ở cấp độ thứ hai đã có sự mở rộng trong phạm vi thể hiện, đối tượng giao tiếp ở đây chính là
với đồng đội, đồng chí, giữa những con người với con người có cùng chí hướng, có cùng con
đường, nghị lực, quyết tâm, ở họ có sự đồng cảm, có những điểm chung , đối thoại là sự sẻ chia,
nhường nhịn, là sự thống hiểu. Tiêu biểu trong trường ca Đường tới thành phố và Trường ca biển.
Hình thức đối thoại trên nhiều phương diện, cấp độ đem đến một cái nhìn sâu rộng về những
giá trị sống. Đó là cách tinh tế để bộc lộ thế giới nội tâm qua lăng kính ưu tư mang nặng tâm trạng
nhân tình thế thái.
3.4. Nghệ thuật xây dựng biểu tượng
3.4.1. Biểu tượng con đường
Biểu tượng con đường trong thơ Hữu Thỉnh được bộc lộ rõ trên hai khía cạnh: con đường
trong thời chiến và con đường trong thời bình.
Con đường trong thời chiến chính là “con đường cụ thể” mang trong mình những biểu tượng
khái quát, nó trải dài trên tất cả các tập thơ, hầu như bài thơ nào cũng ghi dấu con đường của tác

17


giả. Con đường trong chiến tranh gắn liền với người lính nơi trận mạc chứng kiến bao lớp người,
bao khó khăn gian khổ cho sự nghiệp chung của dân tộc
Hòa bình trở lại, con đường lại tiếp tục sứ mệnh của nó trong việc định hướng những bước
đi. Con đường trong thời bình chính là con đường của kỷ niệm, con đường của những khát khao hy
vọng, mục tiêu của người lính, cách mạng, con đường của “thử thách bạc màu/ Bàn chân lính đánh
vần trên đất đai Tổ quốc”.
Nếu trong thời chiến, con đường nối đoàn quân ra trận, con đường nối liền ranh giới tiền
tuyến hậu phương, con đường nối liên một dải bờ cõi đất nước... thì ở thời bình, “con đường” nối
liền từ đất liền với các đảo xa, nơi ngọn nguồn của Tổ quốc, con đường đã nối lại những ký ức tuổi
thơ, đã đưa con người về với những giá trị vĩnh hằng, bất tử của cuộc chiến hào hùng, oanh liệt.
Nếu con đường trước đây là “đường ra trận mùa này đẹp lắm” thì nay con đường trở thành đường

1. Hữu Thỉnh đã khẳng định được bản lĩnh, phong cách và tiếng nói nghệ thuật riêng của mình. Góp
phần vào công cuộc hiện đại hóa thơ dân tộc vừa khẳng định một hướng tìm tòi, cách tân thơ giàu
hiệu quả - cách đổi mới trên cơ sở kế thừa sáng tạo những tinh hoa của truyền thống thơ dân tộc.
2. Phong cách sáng tạo của Hữu Thỉnh được hình thành từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
nhưng trước hết từ chính quan niệm đầy tâm huyết và nghiêm túc của nhà thơ về thơ, về những
người “làm ra thơ”. Bên cạnh đó, Hữu Thỉnh tìm về với những giá trị văn hóa truyền thống của quê
hương đã ăn sâu trong ký ức, đã thấm hòa trong ông từ nhỏ. Kinh nghiệm sống chiến trường cùng
với vốn văn hóa truyền thống đã thăng hoa, chuyển hóa nhuần nhị , khẳng định bản lĩnh, tài năng và
sức sống của thơ Hữu Thỉnh.
3. Trở về với truyền thống, Hữu Thỉnh không xô bồ mà cẩn trọng chắt lọc, gạn khơi phần hồn cốt,
tinh túy của truyền thống, từ tư tưởng nhân văn cao đẹp đến những nguồn thi liệu, cảm hứng vốn đã
ăn sâu trong tình cảm, tiềm thức của con người Việt Nam. Nhờ thế hồn điệu dân gian đã được “biến
tấu” và “chuyển hóa” thành những phức điệu nghệ thuật mới mẻ mà hấp dẫn trong thơ Hữu Thỉnh.
4. Hữu Thỉnh tìm về tiếp nhận văn học dân gian truyền thống để học hỏi, tái tạo nó, từ đó làm mới,
làm phong phú cho thơ. Bởi thế, đến với thơ Hữu Thỉnh, người đọc vừa được cảm nhận những dư vị
truyền thống đậm đà, đằm thắm, vừa được hấp dẫn bởi những cách tân mới mẻ đầy sáng tạo và tinh
tế của nhà thơ.
Về tư duy nghệ thuật, Hữu Thỉnh cố gắng sáng tạo trường liên tưởng độc đáo với nhiều cấp
độ liên tưởng tạo chiều sâu cho thơ và mở rộng khả năng đồng sáng tạo cho người tiếp nhận; chú
trọng đến cảm giác và chuyển đổi cảm giác; sử dụng bút pháp tạo hình hiện đại bằng nhiều phương
thức: cảm giác, ảo giác và kết hợp cảm giác, ảo giác; tạo dựng những kiểu cấu trúc hình khối mới,
đa dạng... Hữu Thỉnh có những tìm tòi đổi mới tâm huyết và hiệu quả vào sự phát triển thể loại thơ
truyền thống: Thơ Lục bát, thơ năm chữ, sáu chữ, tám chữ, thơ Đường luật.. Hữu Thỉnh cũng rất
dụng công góp phần hoàn thiện những thể thơ mới: trường ca, thơ văn xuôi... kết hợp đan xen một
cách hiệu quả giữa các thể thơ trong trường ca. Hữu Thỉnh đã xây dựng thành công nhiều biểu

19


tượng thơ ấn tượng và ám ảnh, đặc biệt là biểu tượng: con đường, biển và đất. Đây cũng là ba chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status