LUẬN văn THẠC sĩ bản sắc văn hóa dân tộc TRONG PHÁT TRIỂN bền VỮNG ở NGHỆ AN HIỆN NAY - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

Bản sắc văn hóa

BSVH

Bản sắc văn hóa dân tộc

BSVHDT

Phát triển bền vững

PTBV

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

Trang
3

VAI TRÒ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG
10

1.1.


dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An hiện nay.
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

66
81
82
87

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững (PTBV) là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát
triển của mọi quốc gia dân tộc nói chung và Việt Nam nói riêng, đó là quá
trình kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển
xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật
tự an toàn xã hội, nhằm tạo dựng một xã hội ổn định, văn minh và hạnh phúc
ở cả hiện tại và trong tương lai xa của đất nước.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới, hội nhập và phát
triển đất nước gần ba thập kỷ qua của nước ta, ngoài việc đem lại những
thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực theo hướng phát triển bền
vững, cũng đã và đang đặt ra nhiều thách thức không nhỏ: sự phát triển
“nhanh” và “nóng” của nền kinh tế, ô nhiễm môi trường đang trở nên ngày
càng bức xúc, nhất là ở đô thị và các khu công nghiệp đang gia tăng một
cách nhanh chóng. Đặc biệt, sự tác động của biến đổi khí hậu đang trở
thành một vấn đề nóng bỏng, đe dọa quá trình PTBV của cả đất nước. Vì

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tuy nhiên, những
thành tựu ấy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có. Sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh còn thiếu tính bền vững, nhiều giá trị
văn hóa các dân tộc bị xói mòn, biến dạng, lai căng. Đặc biệt, nhận thức về
vai trò, tầm quan trọng của BSVH, nhất là vai trò đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội các dân tộc trên địa bàn còn hạn chế, chưa phát huy được một cách
hiệu quả nội lực của toàn tỉnh nói chung, của từng cộng đồng tộc người sinh
sống trên địa bàn nói riêng, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển
nhanh và bền vững của Tỉnh. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải
phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay.
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Vai trò BSVHDT
trong phát triển bền vững ở Nghệ An hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
của luận văn.
4


2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề văn hóa, bản sắc văn hóa và vai trò của chúng trong quá trình
phát triển từ lâu được nhiều tổ chức, cá nhân các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu ở những cấp độ và góc độ khác nhau. Trên cơ sở phương pháp
luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của
Đảng ta về văn hoá và phát triển văn hoá trong các giai đoạn cách mạng, gần
đây có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã luận giải và
đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, bản sắc văn hóa và vai trò của
chúng đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Dưới đây là những công trình tiêu biểu, có liên quan trực tiếp đến đề
tài nghiên cứu của luận văn:
* Về BSVHDT và vai trò BSVHDT
Quan điểm mang tính định hướng, khái quát rất sâu sắc về văn hoá, bản
sắc văn hoá, mối quan hệ giữa văn hoá và đổi mới, được cố Thủ tướng Phạm

tác động ảnh hưởng tới các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội; trong đó văn
hoá là lĩnh vực bị ảnh hưởng lớn nhất, trực tiếp nhất. Trên cơ sở đó, hội thảo
đã trao đổi, đưa ra nhiều khía cạnh, nhiều góc tiếp cận về đề giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc, đưa ra một số kiến nghị về chủ trương, chính sách văn hoá
nhằm giữ gìn và phát huy BSVHDT trong xu thế toàn cầu hoá.
Đặc biệt, các công trình nghiên cứu: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”
(2006) của Trần Ngọc Thêm; “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại”
(2003) của Lê Như Hoa; “Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá trong văn hoá”
(2000) của Hoàng Trinh; “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (2001) của Nguyễn Khoa Điềm; “Một số vấn
đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hoá” (2005) của Giáo sư Nguyễn Đức
Bình; Thanh niên quôn đội với việc giữ gìn BSVHDT trong thời kỳ hội nhập
quốc tế hiện nay (2013) của Lưu Ngọc Khải và Nguyễn Văn Tùng; Giữ gìn
và phát huy BSVHDT trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập quốc
tế (2010) của Hoàng Thị Hương…Trong các công trình này, các tác giả đã đi
6


sâu phân tích và đưa ra các quan niệm khoa học khác nhau trong tiếp cận văn
hoá, vai trò, cấu trúc, chức năng của văn hoá; luận giải cội nguồn hình thành ý
thức dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam; khẳng định sức mạnh
của văn hoá, của bản sắc văn hoá trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam; mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và phát
triển, văn hoá với các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là kinh tế, chính trị,
xã hội; khẳng định trong tình hình hiện nay, hiện đại hoá chỉ có thể thành
công nếu bản sắc dân tộc được sử dụng như một động lực chủ yếu, đồng thời
BSVHDT cũng chỉ có thể được phát huy trong một đất nước hiện đại hoá.
* Về PTBV và vai trò của văn hóa, bản sắc văn hóa trong PTBV
Bàn về PTBV và vai trò của yếu tố văn hóa, bản sắc văn hóa trong
PTBV tiêu biểu có các công trình như: Phương pháp luận về vai trò của văn

phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Cuốn sách được coi
như một chiến lược PTBV Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020.
Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề bản sắc văn hóa và vai trò của nó đối với sự
phát triển xã hội được quan tâm nghiên cứu từ lâu, với niều công trình có giá trị lý
luận và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách trực tiếp và
luận giải có tính hệ thống về vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò BSVHDT trong PTBV
ở Nghệ An, trên cơ sở đó xác định những định hướng cơ bản, đề xuất một số giải
pháp nhằm phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về PTBV và vai trò BSVHDT trong
PTBV ở Nghệ An.
- Đánh giá thực trạng vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay.
- Xác định những định hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp phát
huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay.
8


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò BSVHDT nói chung trong PTBV
ở Nghệ An. Số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư

từ 18o33' đến 20o00' vĩ độ Bắc và từ 103o52' đến 105o48' kinh độ Đông. Phía
Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, Tây giáp nước bạn Lào,
phía Đông giáp với biển Đông. Với diện tích 16.487 km 2, dân số hơn 3 triệu
người, là nơi sinh sống lâu đời của cộng đồng các dân tộc: Việt (Kinh), Khơ
Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu và tộc người Đan Lai. Nghệ An hội tụ đầy
đủ các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển,
đường thuỷ nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng như một Việt Nam
thu nhỏ, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Bắc - Nam, xây
dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế.
Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ
tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng
3 năm sau), có địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi,
sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam. Đỉnh núi cao nhất là
đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện
Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước
biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu). Đồi núi chiếm 83% diện tích
đất tự nhiên của toàn tỉnh; hệ thống sông ngòi dày đặc, tổng chiều dài sông suối
trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2. Sông lớn nhất là
10


sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào),
có chiều dài là 532 km. Bờ biển Nghệ An dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho
việc vận tải biển, phát triển cảng biển.
Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam (Quốc lộ 1A và
đường Hồ Chí Minh), đồng thời nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối
liền Myanma - Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông (Cảng Cửa Lò), cũng
như các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế. Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng
vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, văn hóa, thương mại, du lịch ở trong

suốt hơn một trăm năm chống các thế lực xâm lược phương Tây, từ giữa thế
kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, người Nghệ An luôn luôn sát cánh với đồng bào
cả nước và tiên phong chiến đấu vì nền độc lập dân tộc. Rất nhiều người con
ưu tú của Nghệ An đã trở thành những ngôi sao sáng trong công cuộc cứu
nước vĩ đại đó như Phan Bội Châu, Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân
Ôn, Lê Doãn Nhã, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Lê Hồng Sơn, Lê
Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…và tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
Thiên nhiên khắc nghiệt, lịch sử lắm gian nan, thử thách đã tạo nên nhân
cách con người xứ Nghệ cần cù và sáng tạo, kiên trung và nghĩa hiệp, cầu thị
và hiếu học. Trên mảnh đất này “thời nào cũng có danh nhân, vùng nào cũng
có nhiều bậc anh hùng tài cao chí lớn” đã làm rạng danh quê hương đất nước.
Trải qua bao đời từ thời tiền sơ sử đến nay, người xứ Nghệ không chỉ có
nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử dân tộc mà đã kiến tạo nên
một vùng văn hoá đặc sắc. Với 6 dân tộc cùng chung sống, văn hoá Nghệ An
đa dạng, độc đáo, với nhiều bản sắc riêng trong sự hài hoà thống nhất của nền
văn hoá Việt Nam. Nghệ An ngày nay không chỉ có sự hiện diện một nền văn
hoá đương đại sống động mà còn có một kho tàng di sản văn hoá vô cùng
phong phú, đặc sắc. Đó là khoảng 1000 di tích lịch sử văn hoá và rất nhiều giá
trị văn hoá phi vật thể như văn học thành văn và văn học dân gian, âm nhạc
12


dân gian, múa dân gian, triết lý dân gian, phong tục tập quán…tạo nên nền
tảng tinh thần phong phú, đa dạng và là động lực to lớn trong phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại trên địa bàn Tỉnh.
* Phát triển bền vững ở Nghệ An
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong
Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi
trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được

các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ
Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ
chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới
xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về PTBV cấp quốc gia và 6.416
Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã
thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này. Việt
Nam và các địa phương trong cả nước là một trong số những quốc gia tích cực
xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.
Chính phủ Việt Nam đã cử các đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói
trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực
hiện "Kế hoạch quốc gia về Môi trường và PTBV giai đoạn 1991 - 2000"
(Quyết định số 187 - CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình
PTBV ở Việt Nam. Quan điểm PTBV đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36
- CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác
bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể
tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền
vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Quan điểm PTBV đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại
14


biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và
bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải
thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi
trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học". PTBV đã trở thành đường lối,

công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền.
Về phương hướng, mục tiêu phát triển:
Huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn nhân
lực, ưu tiên đầu tư khai thác tiềm năng miền Tây, vùng Biển và đô thị. Đẩy
nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Từng
bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó ưu tiên cho các vùng
kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế khó khăn; chủ động hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế; giữ gìn và phát huy các truyền thống, bản sắc văn hoá xứ
Nghệ; kiểm soát, kìm giữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội phạm; giữ vững ổn
định chính trị, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã
hội. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Xây dựng
Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng vững
mạnh, đưa Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm
2015; tạo cơ sở để đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; phấn
đấu xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc
Trung bộ. Phương hướng, mục tiêu cụ thể trên các phương diện như sau:
Thứ nhất, về PTBV kinh tế:
Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, phấn đấu tốc độ tăng GDP bình quân
đạt 11 - 12% giai đoạn 2011 - 2015, 11,5 - 12% giai đoạn 2016 - 2020 và
khoảng 7% giai đoạn 2020 - 2030. Trưởng giá trị sản xuất công nghiệp hàng
năm từ 17 - 18%. Ưu tiên các nhóm sản phẩm có lợi thế của tỉnh, như: công
nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, đồ uống; công nghiệp khai thác và chế
16


biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, điện, điện tử, công nghệ thông
tin, dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ; ưu tiên phát triển các dự án công nghiệp
công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, phục vụ cho các dự án công nghiệp quy
mô lớn của tỉnh và các Khu kinh tế Nghi Sơn, Vũng Áng.

hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng. Củng cố các mối quan hệ truyền
thống, bản sắc văn hoá Xứ Nghệ. Bảo tồn và phát huy có hiệu quả các di tích
lịch sử, văn hoá gắn với phát triển du lịch. Phấn đấu năm 2015 có 82 - 85%
gia đình văn hoá; 45 - 50% làng, bản, khối phố văn hoá; đảm bảo 100% xã
phường có thiết chế văn hoá, trong đó có 60 - 65% đạt chuẩn quốc gia; 30 35% số dân thường xuyên tham gia luyện tập thể dục thể thao, 20 - 25% số hộ
đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao. Phấn đấu đến năm 2015 Nghệ An trở thành
một trong 10 trung tâm thể thao mạnh của cả nước.
Xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật tiến tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống,
lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới của quê hương, đất nước. Quan tâm đào
tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hoá, văn
học nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ
thuật. Thực hiện tốt việc phát sóng phát thanh - truyền hình Nghệ An qua
kênh Vinasat, từng bước chuyển đổi phát sóng truyền hình theo hướng số hoá,
nhằm tăng chất lượng hưởng thụ của người dân và diện phủ sóng phát thanh
truyền hình quốc gia và đài tỉnh ở vùng sâu, vùng xa, vùng lõm.
Nâng cao chất lượng giáo dục ở miền núi, chú trọng chất lượng giáo dục
toàn diện, xây dựng và đưa các nội dung giáo dục truyền thống lịch sử, truyền
thống cách mạng, văn hoá Xứ Nghệ… vào các trường học. Phấn đấu đến năm
2015 nâng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ lên 25%, trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp
mẫu giáo đạt 85%; 99,5% trẻ em trong độ tuổi tiểu học được đến trường, 60%
số học sinh lớp 3 được học ngoại ngữ theo chương trình mới; 75% thanh niên
trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; tỷ lệ
hoàn thành cấp học được duy trì ở mức 90% trở lên đối với cả ba cấp học.
18


Xây dựng, mở rộng quy mô Đại học Vinh, Đại học Y khoa Vinh, Đại học sư
phạm kỹ thuật, Đại học công nghệ Vạn Xuân; sớm hoàn thành nâng cấp các
trường cao đẳng thành Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Đại học Văn hoá.

đầu tư. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nghiêm cấm việc nhập ngoại
các dây chuyền, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng và đã lạc
hậu. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên
nhiên trên cơ sở thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt. Tăng
cường công tác kiểm tra, tổ chức tốt việc khai thác, chế biến khoáng sản.
Như vậy, từ phương hướng, nội dung, mục tiêu PTBV ở Nghệ An, trên
cơ sở quan niệm chung của thế giới, có thể quan niệm: PTBV ở Nghệ An là
quá trình vận động, biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo
hướng hiệu quả lâu dài, vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng an
ninh và môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Để PTBV kinh tế - xã hội cần khơi dậy và phát huy tất cả các nguồn lực:
tài nguyên, vốn, khoa học - công nghệ, trong đó phát huy vai trò BSVHDT
với tư cách là giá trị cốt lõi, căn bản trong nền tảng tinh thần xã hội được coi
là một trong những động lực quyết định, góp phần PTBV trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở Nghệ An hiện nay.
1.1.2. Vai trò bản sắc văn hóa dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An
* Biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc ở Nghệ An
- Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc ở Nghệ An
BSVHDT là hệ thống các giá trị văn hóa được cộng đồng các dân tộc
sáng tạo nên trong quá trình tồn tại và phát triển, là những nét độc đáo, riêng
biệt, thể hiện cốt cách, bản lĩnh của dân tộc, chứa đựng sức mạnh tinh thần to
lớn, trở thành động lực để mỗi dân tộc vươn lên và khẳng định mình trong
quan hệ với các dân tộc khác.
Bản sắc văn hoá dân tộc ở Nghệ An là tổng hoà những giá trị văn hoá
ổn định, bền vững, phản ánh cốt cách, bản lĩnh và diện mạo của cộng đồng
20


các dân tộc, được hình thành, hun đúc và phát triển trong suốt chiều dài lịch


BSVHDT là nền tảng, động lực mạnh mẽ của quá trình PTBV ở Nghệ
An. Đây là đặc trưng căn bản, phản ánh giá trị và vai trò của BSVHDT ở
Nghệ An. Đảng ta nhiều lần khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội,
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Bởi nói đến văn hóa là nói
đến con người, đến nguồn nhân lực - yếu tố căn bản, quyết định sự phát triển
của một đất nước cũng như một địa phương. Bầu sữa văn hóa xứ Nghệ với
bản sắc riêng của mình, qua hàng nghìn năm lịch sử, đã nuôi dương, bồi đắp,
xây dựng nhân cách văn hóa con người Nghệ An cần cù, chịu khó, kiên trung,
sẵn sàng cống hiến cho sự phát triển chung của xã hội trên tất cả các lĩnh vực.
- Nội dung biểu hiện BSVHDT ở Nghệ An
Văn hóa xứ Nghệ là một bộ phận hữu cơ của văn hóa dân tộc, song điều
kiện địa lý, tự nhiên, môi trường và hoàn cảnh lịch sử xã hội nơi đây đã tạo
nên những dấu ấn riêng biệt, làm phong phú và đa dạng thêm nền văn hóa dân
tộc Việt Nam.
Xứ Nghệ có một kho tàng văn hoá dân gian phong phú, độc đáo về hình
thức, thể loại như truyện cổ tích, huyền thoại, truyền thuyết, ca dao, dân ca,
vè, thành ngữ, tục ngữ; kiến trúc, điêu khắc, trang trí, các hình thức dân ca,
dân nhạc, dân vũ, trò diễn, sân khấu. Hiện nay, các di tích kiến trúc tín
ngưỡng, tôn giáo phần do môi trường địa lý, phần do ý thức của con người,
phần khác do sự tàn phá của chiến tranh nên hầu như không còn gì đáng kể.
Tuy nhiên, văn học truyền miệng, các hình thức diễn xướng và tri thức dân
gian được lưu giữ lại khá phong phú. Ví, Dặm là hai hình thức dân ca rất phổ
biến, độc đáo của xứ Nghệ. Hát dặm độc đáo không chi gắn với tiếng nói xứ
Nghệ, mà còn cả về phương diện âm nhạc. Nội dung của hát dặm bày tỏ thái
độ, tâm tư, tình câm, tư tưởng của người xứ Nghệ, dưới hình thức các câu
thơ, thể năm câu, bắt vần lưng. Hát ví cũng là một hình thức dân ca quen
thuộc của người dân nơi đây, không nơi nào ở xứ Nghệ là không có hát ví.
Ở Quỳnh Lưu, Thanh Chương gọi hình thức hát này là hát ghẹo. Khác với
22

23


nêu lên một vài khía cạnh tâm lý khác của con người xứ Nghệ: Lý tưởng
trong tâm hồn, khắc khổ trong sinh hoạt, cứng cỏi trong giao tiếp. Ninh Viết
Giao - nhà “xứ Nghệ học” nổi tiếng lại khái quát cái bản ngã của xứ Nghệ:
“Không có miền nào lại có bản ngã rõ rệt như miền này... Có thể nói rằng có
một tinh thần Nghệ Tĩnh. Tinh thần đó làm lộ một cách rõ rệt lòng phụng thờ,
sự cố gắng cùng tỉnh thần nhẫn nại, kiên quyết của một dân tộc nông nghiệp
chật vật giành lấy một chỗ sống dưới mặt trời". [35, tr.15].
Người Nghệ An mang đầy đủ những phẩm chất chung, tiêu biểu của
người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn, ý chí tự
cường, tự tôn dân tộc và tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng; sống nhân ái,
vị tha, trọng nghĩa tình, trọng đạo lý; lối sống giản dị, cần cù, tiết kiệm, chịu
thương, chịu khó, sáng tạo trong lao động, hiếu học, cầu tiến bộ…người
Nghệ còn mang những dấu ấn đặc trưng riêng biệt. Yếu tố thiên nhiên, lịch
sử - xã hội đã ảnh hưởng đến con người nơi đây. Có thể nói, người xứ Nghệ
đã tự tạo cho mình một tính cách riêng, dễ phân biệt với các vùng miền khác.
Bởi vậy, “tinh thần Nghệ Tĩnh” của người dân nơi đây có thể cảm nhận rất rõ
rệt, không chỉ từ những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử mà còn ở ngay cả
những người dân lao động bình thường.
Trước hết, người xứ Nghệ rất giàu lý tưởng, lý tưởng vươn tới đích
cao, vượt lên thực tại. Người dân bình thường chăm lo sản xuất, dù gặp phải
hoàn cảnh khó khăn, mùa màng thất bát, cũng không nản lòng, buông xuôi
mà luôn tìm cách khắc phục để vượt qua. Trong lịch sử văn hóa Việt Nam
ghi đậm dấu ấn của lớp nhà Nho xứ Nghệ thành đạt trên đường quan lộ hay
chỉ là ông đồ nghèo thì họ vẫn miệt mài trên con đường tri thức, tu dưỡng
đạo đức bản thân. Tuy nhiên, nét tính cách này của người Nghệ cũng dễ tạo
ra tâm lý chủ quan, nóng vội hay phiêu lưu, mạo hiểm.
Thứ hai, người Nghệ An rất trung kiên. Trung kiên ở đây là sự chất

hoạt, thậm chí cản trở tầm nhìn xa trông rộng.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, người
Nghệ An với tính cách đặc trưng của mình luôn có mặt trong mọi cuộc đấu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status