ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ MỸ HẠNH PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ
CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng, các kết luận chưa được
công bố trong bất cứ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Đinh Thị Mỹ Hạnh
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới T.S Lương Thùy Liên, đã
tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt
luận văn này.
Xin cám ơn Khoa Triết học, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành
bảo vệ tốt luận văn thạc sĩ.
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên tôi, cổ
vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 42
Chƣơng 2. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG,
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP 43
2
2.1. Thực trạng phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời trong phát triển
bền vững ở Việt Nam hiện nay 43
2.1.1. Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở
Việt Nam hiện nay: Những thành tựu đã đạt được 43
2.1.2. Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triền bền vững ở
Việt Nam hiện nay: Những mặt còn hạn chế 51
2.2. Phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời trong phát triển bền vững ở
Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra 58
2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời
trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay 70
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm trong nước)
GNP Gross National Product (Tổng sản phẩm quốc gia)
HDI Human Development Index (Chỉ số phát triển con người)
IUCN International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources
- xã hội, là một khó khăn rất lớn đối với Việt Nam trong tiến trình thực hiện
mục tiêu phát triển bền vững. Vấn đề gốc rễ là làm sao khắc phục những khó
khăn trên một cách có hiệu quả, điều đó phụ thuộc chủ yếu vào việc phát huy
vai trò của nhân tố con người.
Nhận thức được quy luật đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai
trò của con người trong phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề môi
trường, nhằm thực hiện thành công chiến lược PTBV. Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng chỉ rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời
5
là chủ thể phát triển” [26, 76]; “Phát triển, nâng cao chất lƣợng nguồn lực,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định
sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [26, 41]. Từ những nhận định trên,
chúng tôi đi đến khẳng định: Con ngƣời thực sự là nhân tố, là nguồn lực
nội sinh quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của chiến lƣợc
phát triển bền vững. Với vai trò quan trọng như vậy, nhân tố con người cần
được tập trung phát huy tối đa, để đạt được hiểu quả cao nhất. Mặc dù vậy,
trên cơ sở tổng quan một số công trình nghiên cứu về nhân tố con người, phát
huy vai trò nhân tố con người, chúng tôi thấy rằng, tuy đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu công phu và hệ thống về nhân tố con người, nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề phát huy vai trò của nhân
tố con người trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề phát
huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện
nay là cần thiết. Hơn nữa, việc làm rõ thực trạng phát huy vai trò của nhân tố
con người và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò nhân tố con
người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần được
quan tâm sâu sắc. Không những thế, đây là một vấn đề mới, có giá trị và cần
được khuyến khích cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, mà học viên
Hà Nội, 1996. Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển
lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [49], Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2007.
Trong đó“Nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam
hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học của Hoàng Thái Triển. Trong luận án
7
này, tác giả đề cập chủ yếu đến vấn đề phát huy có hiệu quả nhân tố con
người trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để
phát huy vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, luận án chủ yếu đề cập tới vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc
đưa ra những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Đồng
thời, nhấn mạnh vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện
có hiệu quả, hiện thực hóa những quan điểm mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra
để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
“Vai trò quản lý Nhà nước đối với nhân tố con người trong quá trình
phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn
Thị Phi Yến. Trong luận án, tác giả đã nêu ra một cách khái quát vai trò quản
lý của Nhà nước đối với nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế,
nhấn mạnh đến tác động biện chứng giữa sự quản lý của Nhà nước với việc
phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế.
Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Cuốn sách này đề cập
đến đặc điểm, vai trò nguồn lực con người; khảo sát thực trạng và đề xuất một
số giải pháp phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực
lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
Nội dung cuốn sách này thể hiện vai trò quan trọng của nhân tố con người
trong lực lượng sản xuất; thực trạng và giải pháp nhằm phát triển lực lượng
vấn đề phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt
Nam hiện nay.
9
Nhóm những nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam và phát
huy nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam.
Phát triển bền vững là yêu cầu đặt ra trong mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội hiện nay, vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền
vững. Một số công trình, bài báo nghiên cứu như: “Phát triển xã hội bền vững
và hài hòa – những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu hiện nay” Lương Đình
Hải (Tạp chí Triết học số 2/ 2007), [32]. Nguyễn Đức Chiên, “Phát triển bền
vững – tiền đề lịch sử và nội dung khái niệm” [8] (Tạp chí con người, số 1,
2005). Lê Văn Khoa (2009), Môi trường và phát triển bền vững [38], NXB
Giáo dục, Hà Nội. Phát triển bền vững trên nền tảng sự đồng tiến hóa giữa
con người với tự nhiên [36] (Tạp chí Triết học, số 3/2007) của Nguyễn Đình
Hòa. Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý Nhà nước đối với tự nhiên và môi
trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn [66] (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội); Hoàng Chí Bảo với “Dân chủ, đoàn kết và đồng
thuận xã hội trong phát triển bền vững” [4] (Tạp chí triết học, số 7, 2008) ;
Nguyễn Ngọc Hà, “Đảm bảo công bằng xã hội vì sự phát triển bền vững”
[29] (Tạp chí triết học số 2, 2007)… Trong đó có thể chú ý tới một số công
trình tiêu biểu như sau:
Hoàng Chí Bảo với “Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong
phát triển bền vững” đã đưa ra và luận giải nền tảng của phát triển bền vững
chính là vấn đề dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội, và với tư cách như
những giá trị văn hóa trong phát triển bền vững, xây dựng và thực hành văn
hóa phát triển theo hệ dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội, trong đó phát
triển bền vững có kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội. “Tăng trường kinh tế là điều kiện thiết yếu của phát triển nhưng kinh tế
không phải là sự cứu cánh, nó phải hướng tới công bằng xã hội, làm cho con
11
“… có thể hiểu phát triển bền vững là sự phát triển mà trong đó, bảo đảm sự
kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ môi
trường” [36, 32].
Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam chủ yếu
nghiên cứu làm rõ nội dung khái niệm phát triển bền vững. Nhấn mạnh tầm
quan trọng của chiến lược phát triển bền vững, đồng thời khẳng định sự phát
triển bền vững về mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có kinh tế, văn hóa,
xã hội, môi trường. Phát triển bền vững là một nội dung lớn, cần được tiếp tục
nghiên cứu và bổ xung hoàn thiện về mặt lý luận để ngày càng phù hợp, cũng
như phản ánh một cách sâu sắc hơn nữa tầm quan trọng của chiến lược phát
triển bền vững trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu vấn đề phát huy nhân tố con người trong phát triển bền
vững ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực
tiễn, mặc dù vậy chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào một cách hệ thống
về nó, chỉ có một số bài báo nhỏ liên quan đến vấn đề này, chẳng hạn như bài
báo: “Lấy việc phát huy con người làm nhân tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững” [30] của Phạm Minh Hạc (Tạp chí xây dựng Đảng số
7/1995). Tác giả Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh quan điểm xuyên xuốt của
Đảng và Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững, trong đó con người là
nhân tố quyết định.
Như vậy, có thể thấy những công trình, bài báo, sách chuyên khảo
nghiên cứu về vấn đề nhân tố con người, đã và đang được quan tâm nhiều
trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực
tiếp và hệ thống về phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền
vững. Vì vậy, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Phát huy vai trò của nhân
tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay”. Hi vọng luận
văn sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề này.
13
chặt chẽ với những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát huy
nhân tố con người trong quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, tác giả sử dụng các
phương pháp như: phương pháp biện chứng duy vật, và các phương pháp
khác, tiêu biểu như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh,
phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp khái quát hoá.
6. Ý nghĩa nghiên cứu
Về lý luận:
Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về phát huy
vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay,
đồng thời đã góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước luôn quan tâm và ưu tiên phát
huy vai trò nhân tố con người, đặc biệt là trong tiến trình phát triển bền vững,
đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò của nhân tố con người
thực hiện thành công chiến lược phát triển vững ở Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn:
Nội dung nghiên cứu của luận văn góp phần nhìn nhận rõ vai trò quan
trọng của nhân tố con người, thực trạng phát huy vai trò của nhân tố con
người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, giúp ích cho những ai
quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề nhân tố con người và vai trò của nhân tố con
trong việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững hiện nay. Đồng thời, luận
văn cũng là tài liệu tham khảo trong các chuyên đề nghiên cứu về con người,
nhân tố con người, phát triển bền vững…
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 5 tiết.
14
một giá trị sử dụng nào đó” [41, 251]. Như vậy, theo C. Mác, chính “lao động
là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến
một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng
tạo ra bản thân con người” [42, 641].
Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, vai trò quyết định của
nhân tố con người ngày càng được khẳng định. Đó cũng chính là lý do mà
nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm nghiên cứu về
vấn đề này. Do xuất phát từ các góc độ, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu
khác nhau nên có nhiều quan điểm khác nhau về nhân tố con người.
Ở Việt Nam trong những năm qua, một số quan điểm về nhân tố con
người chẳng hạn: “Nhân tố con người với tư cách là một phạm trù triết học xã
hội (gắn liền với thực tiễn), nói lên vai trò, vị trí và những ảnh hưởng của con
người trong hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo thế giới hiện thực, đồng thời tự
biểu hiện, tự khẳng định những sức mạnh tiềm năng của bản thân con người
trong quá trình phát triển và hoàn thiện bản chất xã hội của nó” [50, 32]. Hay
“Nhân tố con người là một hiện tượng nhiều mặt và phức tạp, liên quan đến
toàn bộ các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [76, 30]. Theo
PGS. T.S Phạm Công Nhất, “Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên
quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và
khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình
thành và phát huy tác dụng vào thực tiễn sản xuất vật chất hay trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn
lịch sử nhất định” [49, 25].
Kế thừa và tiếp thu chọn lọc các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng:
Nói đến nhân tố con người là nói đến vai trò chủ thể của con người trong
quá trình phát triển và biến đổi xã hội. Qua đó, thể hiện rõ nhân tố con
16
người là tổng hòa những năng lực, phẩm chất của con người được khai
thác và sử dụng cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, nhân tố con người với tư cách là tổng hòa các năng lực, phẩm
chất kết hợp với hoạt động lao động tạo thành một bộ chỉnh thể thống nhất là
động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Cần biết sử dụng và khai thác
một cách hợp lý những năng lực, phẩm chất vốn có của con người mới đáp
ứng kịp thời yêu cầu đã đặt ra của chiến lược phát triển bền vững. Vai trò của
nhân tố con người được hiện thực hóa khi con người tham gia vào hoạt động
thực tiễn, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an
ninh quốc phòng. Đặc biệt phát triển kinh tế cần quan tâm đến vấn đề bảo vệ
môi trường, nhằm đảm bảo cho con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, và
phát triển một cách toàn diện.
Nhân tố con người được xem xét thông qua các tiêu chí bao gồm: thể
lực, trí lực và đạo đức.
Thể lực là năng lực thể chất của con người, đây là tiêu chí khá quan
trọng về chất lượng nhân tố con người, thường bao gồm tiêu chí về tình trạng
sức khỏe của con người như: chiều cao, cân nặng, bệnh tật, tuổi thọ, trạng thái
thoải mãi về tinh thần cũng như thể chất và xã hội của con người.
Trí lực biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực, tinh thần, thái độ, tác phong làm
việc đây là một tiêu chí có vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng
nhân tố con người.
Đạo đức biểu hiện thông qua hệ thống những giá trị và chuẩn mực.
Những giá trị, chuẩn mực đó phản ánh bản chất xã hội, lý tưởng đạo đức mà
xã hội vươn tới, được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trong đời sống của mình,
nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống và nếp sống hàng ngày. Các
18
giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thành hiệu quả công việc, đóng góp vào sự
phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách của cá nhân, của chất lượng
nguồn nhân lực từ phương diện cá thể đến phương diện xã hội.
* Đặc trưng nhân tố con người Việt Nam
thần đoàn kết dân tộc, truyền thống lao động cần cù, truyền thống hiếu học,
sáng tạo nhạy cảm với cái mới, linh hoạt ứng phó, mềm mỏng, biết thích nghi
và hội nhập, tinh thần tương thân tương ái, mang giá trị nhân văn nhân đạo…
Chỉ số (HDI) ở nước ta tăng nhanh, chất lượng con người Việt Nam
không ngừng tăng lên, vai trò chủ thể của nhân tố con người được tích cực
hóa trở thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước vững mạnh theo hướng
bền vững. Cùng với tính năng động và sức sáng tạo, cũng như truyền thống
lịch sử, nền văn hóa của dân tộc đã bồi đắp kết tinh trong mỗi cá nhân và cả
cộng đồng đã hun đúc nên bản lĩnh, ý chí tác phong của người lao động Việt
Nam. Bản lĩnh, ý chí đó giúp cho người lao động luôn sẵn sàng thích nghi,
vươn lên trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa
hiện nay.
Như vậy, trong hoạt động sản xuất việc sử dụng và khai thác, bồi
dưỡng cả về trí lực, thể lực, đạo đức sẽ giúp cho người lao động có được sự
bền bỉ, sức chịu đựng dẻo dai, có được kiến thức và tầm hiểu biết nhất định
nhằm đáp ứng mục tiêu đặt ra của chiến lược phát triển bền vững.
Ngoài ra, bên cạnh những yếu tố tốt đẹp, vẫn tồn tại những tiêu cực ảnh
hưởng đến tính tích cực của nhân con người Việt Nam như: tâm lý tiểu nông
trong nhân dân còn phổ biến và lối tư duy phiến diện, thể hiện trong định
hướng hoạt động cũng như cách thức giải quyết vấn đề thiếu tổng quát, thiếu
toàn diện, thiếu tầm nhìn xa. Vì vậy, cách giải quyết thường mang tính chắp
vá. Bên cạnh những mặt tích cực, trong điều kiện kinh tế thị trường, thời kỳ
20
hội nhập, con người đã nảy sinh lòng tham, bất chấp thủ đoạn vì lợi ích trước
mắt của cá nhân mà quên đi lợi ích lâu dài của cả cộng đồng xã hội. Trong
hoạt động sản xuất, còn một số đông người có lối sống thụ động, cầu may,
chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên. Dẫn đến việc thiếu sáng tạo, dựa vào lối
tư duy kinh nghiệm, tác phong tuỳ tiện, ý thức kỷ luật kém trong hoạt động
lao động. Vậy, cần có những biện pháp và phương hướng tiếp tục phát huy
tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ. Trong Tuyên ngôn Riô
1992 khẳng định rằng “Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội lành
mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp
ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi tới thế hệ
tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ” [1].
Xét về mặt nội dung: Theo Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới
của Liên Hợp Quốc (Ủy ban Brundtland) thì PTBV là sự đáp ứng các nhu cầu
của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương
lai trong việc đáp ứng các nhu cầu của họ. Với quan niệm này, PTBV phải là
sự kết hợp có hài hòa giữa sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại với cả nhu
cầu của tương lai, tuyệt đối không vì thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
vi phạm đến lợi ích của các thế hệ mai sau.
Theo quan điểm của các tổ chức IUCN, UNEF thì PTBV phải là sự
phát triển đem lại sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người nhưng nó
phải nằm trong khả năng chịu đựng của hệ sinh thái. Quan niệm này nhất
mạnh PTBV là sự cân bằng giữa việc cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc
sống con người với khả năng chịu đựng, giới hạn tồn tại của hệ sinh thái,
không hủy hại sự tồn tại của sinh thái.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững
nhóm họp tại Johannesburg, Hội nghị đã tổng kết, đánh giá lại 10 năm thực