DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kinh tế - xã hội
Khoa học và công nghệ
Lực lượng sản xuất
Phân công lao động xã hội
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Tổng sản phẩn quốc nội
Ủy ban nhân dân
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
KT- XH
KH&CN
LLSX
PCLĐXH
TCCNNN
GDP
UBND
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1
Trang
3
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TÁI CƠ CẤU NGÀNH
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
3.1.
Quan điểm tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
3.2.
Thanh Hóa
Giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước theo hướng phát triển mạnh
mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng ở nước ta đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần phải
giải quyết. Chính vì vậy, để đáp ứng những đòi hỏi nâng cao sức cạnh tranh
của nền kinh tế, và cụ thể hóa quan điểm của Đảng về: "Phát triển mạnh mẽ
LLSX, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, hình thành đồng bộ thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ
các ngành về vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay.
Bài báo:"Nông nghiệp Việt Nam: Những thách thức và một số định
hướng cho phát triển bền vững" của Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung, Tạp
chí Kinh tế và Phát triển số 196 (10/2013). Tác giả đã tập trung luận giải một
số thành tựu và thách thức đặt ra cho nước ta khi tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Từ đó, tác giả đưa ra những quan điểm
và định hướng cho phát triển nông nghiệp bền vững, đáng chú ý trong định
hướng phát triển các tác giả nhấn mạnh đến: chiến lược quy hoạch nông
nghiệp dài hạn, bảo tồn quỹ đất nông nghiệp; tăng cường đầu tư cho nông
nghiệp và thu hút mạnh hơn đầu tư của toàn xã hội vào nông nghiệp, nông
thôn; gắn phát triển nông nghiệp với bảo vệ môi trường.
* Các nghiên cứu về cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Luận án tiến sĩ:"Đổi mới hoàn thiện một số chính sách nhằm đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp" của tác giả Nguyễn
Tiến Dũng, Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2002. Trong luận án, tác giả đã
phân tích quá trình đổi mới chính sách kinh tế, tình hình triển khai thực hiện
và sự tác động của chính sách đến sự chuyến dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
đồng thời đề xuất những phương hướng và giải pháp thích hợp để tiếp tục
hoàn thiện, đổi mới hệ thống chính sách thêm một bước mới, nhằm đẩy nhanh
quá trình chuyến dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới.
Đề tài:"Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam - Thông tin
chung" của Bùi Tất Thắng, Nxb Khoa học xã hội năm 2009. Trên cơ sở khái
quát vấn đề lý luận chung và những tiêu chí về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành, tác giả đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt
Nam trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới kinh tế. Trong đó, bao gồm
cả quá trình chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và trong nội bộ ngành; phân
tích, khái quát tác động của những nhân tố mới cả trên thế giới và trong nước
với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.
Luận văn thạc sỹ:"Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực miền núi Thanh Hóa hiện nay" của tác giả
ra những thách thức, khó khăn của nông nghiệp Việt Nam hiện tại và tương lai.
Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, định hướng, nội dung tái cấu trúc ngành, vùng
trong nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng và các giải pháp chiến lược.
6
Nguyễn Ngọc Toàn và Bùi Văn Huyền, "Tái cấu trúc kinh tế Việt Nam
nhìn từ cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế", Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2013. Trong cuốn sách, trên cơ sở làm rõ khái niệm, công cụ và nội
dung của tái cơ cấu kinh tế, kinh nghiệm tái cơ cấu của các nước trên thế giới,
từ đó các tác giả tập trung đi sâu phân tích cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu
thành phần kinh tế ở nước ta trong những năm gần đây; xác định quan điểm
và phương hướng tái cơ cấu ngành kinh tế và tái cơ cấu thành phần kinh tế.
Thông tin chuyên đề:"Tái cơ cấu kinh tế: một năm nhìn lại" của Trung
tâm thông tin tư liệu - số 3/2013 do Viện Friedrich - Ebert - Stiftung (FES)
xuất bản. Trong thông tin chuyên đề này đã tập trung làm rõ một số vấn đề
như: đưa ra quan niệm về tái cơ cấu kinh tế và bối cảnh tái cơ cấu kinh tế của
Việt Nam; thực trạng một năm triển khai tái cơ cấu kinh tế ở Việt Nam; đánh
giá chung sau một năm thực hiện tái cơ cấu và một số bài học rút ra.
Thông tin phục vụ lãnh đạo số 8 (534): "Cơ hội và thách thức trong
quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam", của tác giả La Thị Hường,
tháng 4/2014. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã tập hợp, phân tích số
liệu qua một năm triển khai thực hiện đề án TCCNNN của Việt Nam, tác giả
đã đánh giá những cơ hội và thách thức đến từ cả trong và ngoài nước của quá
trình tái cơ cấu. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp cần tập trung
thực hiện nhằm khắc phục những hạn chế, những rào cản, để quá trình
TCCNNN thành công.
Bài báo: "Tái cơ cấu nông nghiệp – nhìn từ vựa lúa quốc gia" của tác giả
Trần Hữu Hiệp, Tạp chí Cộng sản, số 98 (2 - 2015). Theo tác giả vấn đề
kiến nghị: muốn gỡ nút thắt của mọi nút thắt trong TCCNNN là Chính phủ
phải tập trung giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để hợp tác xã củng cố và phát triển.
Bài báo:"Tái cơ cấu nông nghiệp: 5 vấn đề chú ý" của Hồ Văn Hoành,
/>new=356&item=19&ba=19&tai-co-cau-nong-nghiep--5-van-de-chu-y.html.
Trong bài viết, trên cơ sở chỉ ra những tồn tại, yếu kém của sản xuất nông
nghiệp nước ta trong những năm gần đây, tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải giáp:
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và đội ngũ làm công tác quy hoạch;
tổ chức lại bộ máy quản lý nông nghiệp ở địa phương; đổi mới tư duy, cải
thiện môi trường sống cho người nông dân; chuyển đổi cây trồng, vật nuôi
thích hợp theo hướng xuất khẩu; xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp
cho thích hợp với từng vùng: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển và hải
đảo.
Các công trình nghiên cứu nói trên, đều ít nhiều liên quan đến hướng
nghiên cứu của đề tài theo nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, tác giả có thể kế
thừa, làm tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, đề tài: "Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
8
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", có hướng đi hoàn toàn độc lập, chưa có đề tài nào
nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của TCCNNN trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh TCCNNN trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về TCCNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Đánh giá đúng thực trạng TCCNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, chỉ
ra nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
1.1. Nông nghiệp và cơ cấu ngành nông nghiệp
1.1.1. Những vấn đề chung về nông nghiệp
* Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai
để trồng trọt và chăn nuôi; khai thác cây trồng vật nuôi làm tư liệu và nguyên
liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho
công nghiệp. Hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan niệm khác nhau về nông nghiệp:
Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm hai phân ngành chính là: trồng trọt
và chăn nuôi. Trong trồng trọt được phân ra: cây lương thực, cây công nghiệp
lâu năm, cây công nghiệp hàng năm, cây dược liệu… thỏa mãn nhu cầu lương
thực, thực phẩm cho con người, gia súc, gia cầm và nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến. Chăn nuôi bao gồm: gia súc, gia cầm, nuôi ong, nuôi tằm… đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người; nguyên liệu
cho công nghiệp và một phần làm dược liệu bào chế thuốc chữa bệnh… Giữa
chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn
nuôi, đảm bảo chăn nuôi phát triển, ngược lại chăn nuôi cung cấp phân bón, sức
kéo để tăng sức sản xuất.
trình độ nhất định, sẽ là tiền đề để cho các ngành kinh tế khác ra đời và phát
triển, C.Mác khẳng định: "Lao động nông nghiệp là cơ sở tự nhiên không phải
chỉ riêng cho lao động thặng dư trong lĩnh vực của bản thân ngành nông
nghiệp, mà còn là cơ sở tự nhiên để biến tất cả các ngành lao động khác thành
những ngành độc lập, và do đó nó là cái cơ sở tự nhiên cho giá trị thặng dư
được tạo ra ở các ngành đó" [28, tr.33].
Ngày nay các nước trên thế giới dù là nước phát triển hay đang phát
triển và chậm phát triển cũng đều quan tâm đến phát triển nông nhiệp với
những mức độ khác nhau. Đối với những nước nền kinh tế còn lạc hậu khi
nạn đói và suy dinh dưỡng đang đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của
quốc gia, dân tộc thì điều quan tâm hàng đầu của những nước này là phát triển
nông nghiệp. Song chúng ta cũng nhận thấy, một nước không thể làm giàu
được từ một nền nông nghiệp chỉ đủ nuôi sống cho dân cư của đất nước ở
mức độ không đói và đủ dự trữ tối thiểu. Một nền nông nghiệp đem lại sự
giàu có trong thời hội nhập phải là một nền nông nghiệp hàng hóa đa canh,
12
năng suất, chất lượng cao ở các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản trong các
lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và phải hướng mạnh vào xuất khẩu.
Đối với Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc gắn bó
chặt chẽ, hữu cơ với nền văn minh nông nghiệp. Do vậy, vai trò của kinh tế
nông nghiệp rất quan trọng trong đời sống KT- XH. Chủ tịch Hồ Chí Minh
người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, rất coi trọng nông
nghiệp. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Người đã viết: "Việt Nam
là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm
gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông
dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta
giàu, nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh" [29, tr.215]. Từ đó người khẳng
định: "Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy
một cơ cấu ngành nông nghiệp mới.
Hiệu quả kinh tế. Nó được thể hiện ở mức lợi nhuận thu được tính trên
một đồng vốn đầu tư đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh nông nghiệp,
hoặc mức thu nhập trên đồng vốn đầu tư của các hộ gia đình sản xuất nông
nghiệp. Nếu xem xét trên tầm vĩ mô, hiệu quả kinh tế được thể hiện một cách
chung nhất ở tốc độ tăng trưởng hàng năm của sản xuất nông nghiệp. Đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân luôn là
mục đích đầu tiên của sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất nông nghiệp
nói riêng. Vì vậy, mọi vấn đề về đổi mới sản xuất, công nghệ, thiết bị hoặc
chuyển dịch cơ cấu đều phải quán triệt quan điểm lấy hiệu quả kinh tế làm
thước đo đánh giá cơ cấu ngành nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội. Được thể hiện ở mức độ giải quyết các vấn đề lao
động, việc làm, thu nhập của dân cư nông nghiệp, cũng như các vấn đề trật tự,
an toàn xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hoá và xác lập cơ cấu ngành
nông nghiệp một cách hợp lý. Đô thị hoá nhanh gây căng thẳng về lao động
và việc làm do suy giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Tác động của
việc thay đổi cơ cấu ngành nông nghiệp sẽ làm cho một bộ phận nông dân
giàu lên nhanh chóng nhưng cũng làm cho một bộ phận nông dân khác thất
nghiệp, nghèo đi hoặc vi phạm tệ nạn, kỷ cương pháp luật, tiềm ẩn nguy cơ
kém bền vững cho sự phát triển KT - XH. Do vậy, một cơ cấu nông nghiệp
hợp lý, hiện đại phải gắn được hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội. Việc tạo
ra một môi trường xã hội tốt, ổn định, công bằng, lành mạnh sẽ góp phần
quan trọng phát huy ưu thế của các nông sản phẩm trên thị trường.
Hiệu quả môi trường. Quá trình xác lập cơ cấu ngành nông nghiệp
cũng tạo ra một vấn đề nan giải cho sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư
là vấn đề ô nhiễm môi trường. Việc các sản phẩm có năng suất và giá trị kinh
tế cao, người dân có việc làm, đời sống được cải thiện sẽ không có ý nghĩa
15
gần với khái niệm cải cách kinh tế hay đổi mới kinh tế. Cũng theo đó, TCCNNN
16
được dùng để chỉ những thay đổi lớn về cơ chế, chính sách, không chỉ là những
điều chỉnh chính sách kinh tế ở quy mô nhỏ mà chúng ta thường gặp.
Thứ hai, TCCNNN là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan
hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định.
Nghĩa là trên cơ sở các quy luật kinh tế khách quan, chủ thể kinh tế sử dụng
các công cụ và chính sách kinh tế để tác động, điều chỉnh nhịp độ phát triển
nền nông nghiệp sao cho đem lại hiệu quả cao nhất gắn với bảo vệ môi trường
theo các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường đã đề ra trong phát triển nông
nghiệp. Như vậy, quan niệm này cho rằng thực hiện TCCNNN không chỉ làm
thay đổi quy mô, tỷ trọng giữa các bộ phận, mà còn làm thay đổi vị trí, vai trò
và mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó. Quan niệm này mới chỉ đề cập
được sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, mà chưa phân biệt được việc
thực hiện TCCNNN.
Thứ ba, TCCNNN chính là quá trình thực hiện việc chuyển dịch, quá
trình thay đổi của cơ cấu ngành nông nghiệp cũ bằng một cơ cấu kinh tế mới,
phù hợp hơn. Trên cơ sở lý luận rằng, phát triển kinh tế nông nghiệp là quá
trình vận động liên tục, không ngừng của các bộ phận kinh tế và điều đó cũng
làm cho cơ cấu ngành nông nghiệp thay đổi hay là sự chuyển dịch của cơ cấu
ngành nông nghiệp trong nền kinh tế. Theo quan niệm này, TCCNNN sẽ
trùng với quan niệm là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu
ngành kinh tế.
Thứ tư, TCCNNN là qúa trình Chính phủ chủ động thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đó là việc Chính phủ sử dụng chính sách
hay biện pháp quản lý tác động trực tiếp vào các yếu tố đầu vào của sản xuất
nông nghiệp (vốn, lao động, công nghệ) để có được một cơ cấu kinh tế mới
phù hợp hơn, vững chắc hơn.
TCCNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa không chỉ đơn thuần là việc
thay đổi tỷ trọng giữa nông, lâm nghiệp, thủy sản hay giữa trồng trọt và chăn
nuôi mà bên cạnh đó còn tập trung đổi mới, cải cách mô hình sản xuất kinh
doanh nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn.
Đồng thời huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: vốn đầu tư,
KH&CN, lực lượng lao động... Đó là những nội dung cốt lõi thực hiện mục
tiêu TCCNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Để thực hiện thành công TCCNNN bao gồm nhiều biện pháp, trong đó
cần phải kể đến như: điều chỉnh quy hoạch, tổ chức lại quá trình sản xuất, huy
18
động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực... và tổ chức thực hiện đồng bộ,
hiệu quả hệ thống biện pháp cụ thể.
Cơ chế thực hiện tái cơ cấu: tuân theo cơ chế thị trường có quản lý của
Nhà nước, gắn xây dựng nông thôn mới và chủ động hội nhập quốc tế.
1.2.2. Nội dung tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa
* Tái cơ cấu các phân ngành trong nông nghiệp
Đây là nội dung cốt lõi trong TCCNNN trên địa bàn tỉnh Thanh hóa.
Bởi lẽ, thực chất TCCNNN là việc tổ chức, sắp xếp lại quá trình sản xuất kinh
doanh các phân ngành trong nông nghiệp cho phù hợp với điều kiện thực tiễn
của địa phương và xu hướng phát triển chung của cả nước trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Nếu quá trình này diễn ra đúng hướng sẽ đem lại hiệu
quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện một bước đang kể đời
sống người nông dân. Cụ thể như sau:
Về trồng trọt. Tái cơ cấu theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập
trung, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát
huy các sản phẩm lợi thế của Tỉnh. Đồng thời, áp dụng các biện pháp thâm canh
Về lâm nghiệp. Tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế trong
tổng diện tích rừng của Tỉnh, phát triển rừng sản xuất thành một hướng đi
quan trọng đem lại việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng;
làm tốt công tác giao đất, giao rừng cho người dân. Nâng cao hiệu quả kinh tế
rừng trồng theo hướng phát triển lâm nghiệp đa chức năng, chuyển đổi cơ cấu
sản phẩm từ khai thác gỗ non sản xuất dăm gỗ sang khai thác gỗ lớn nhằm tạo
vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến đồ gỗ.
Quản lý, sử dụng bền vững diện tích rừng tự nhiên, thay thế các diện
tích kém hiệu quả bằng rừng trồng có năng suất cao, đáp ứng tiêu chí bền
vững; điều chỉnh cơ cấu giống cây lâm nghiệp trồng trong rừng phòng hộ theo
hướng tăng cây đa tác dụng, đa mục tiêu tạo điều kiện tăng thu nhập cho
người làm nghề rừng.
Bảo vệ diện tích rừng phòng hộ hiện có, tỉa sưa, trồng bổ sung hoặc
làm giàu diện tích rừng trồng bằng cây bản địa tán rộng, ưu tiên đầu tư
trồng mới rừng phòng hộ đầu nguồn, chăn sóng, lấn biển… Phát triển và
tăng cường quản lý rừng đặc dụng, bảo vệ quỹ gen, bảo đảm đa dạng sinh
học và các mô hình bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp
20
các dịch vụ môi trường; khuyến khích phát triển mô hình kết hợp chăn
nuôi, trồng cây ăn quả và lâm sản ngoài gỗ với trồng rừng và khai thác rừng
bền vững để tăng thu nhập.
Về thủy sản. Tập trung sản xuất thâm canh các đối tượng nuôi chủ lực,
có giá trị kinh tế cao như: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, rô phi, ngao, các loại cá
trên hồ nước lớn. Đa dạng hóa đối tượng và phương pháp nuôi để khai thác cơ
hội thị trường; khuyến khích nuôi công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, quy
trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp với các tiêu chuẩn hiện hành; ưu tiên
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng nuôi thâm canh ở các huyện: Nga Sơn,
Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia…
nghiệp; đầu tư hệ thống tưới tiêu đầy đủ và đồng bộ; tăng cường công nghệ sau
thu hoạch, bảo quản, chế biến gắn với phát triển các vùng nguyên liệu.
Về phát triển mô hình nông nghiệp an toàn, nông nghiệp sạch và nông
nghiệp thân thiện với môi trường. Cần đẩy mạnh việc xây dựng mô hình sản
xuất nông, lâm ngiệp, thủy sản theo tiêu chuẩn ViêtGAP (ViêtGAP được
biên soạn dựa theo ASEAN GAP đề cập đến 4 hợp phần: (1). An toàn thực
phẩm; (2). Quản lý môi trường; (3). Bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người lao
động; (4). Chất lượng sản phẩm), trong sản xuất các vùng rau an toàn; nuôi
trồng và đánh bắt thủy, hải sản; các mô hình trang trại chăn nuôi tập trung,
quy mô lớn, được đầu tư tốt đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về khoa học, kỹ
thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm...
* Tái cơ cấu các thành phần kinh tế trong phát triển nông nghiệp
Để quá trình TCCNNN trên địa bàn Tỉnh đi đến thành công, đạt được
nhiều thành tựu đòi hỏi phải huy động, tổ chức, xắp xếp lại các thành phần
kinh tế tham gia trong sản xuất nông, lâm, nghư nghiệp một cách hợp lý, hiệu
quả. Theo đó, cần phải tập trung vào một số nội dung sau:
Chuyển dần từ trọng tâm phát triển kinh tế hộ trong sản xuất nông
nghiệp sang phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp để
nâng cao năng suất, chất lượng, tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp,
vừa bảo đảm khắc phục được tình trạng "được mùa rớt giá" vừa đảm bảo
đúng quy trình sản xuất nông nghiệp sạch.
Phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong quá trình từng bước
đổi mới tư duy sản xuất, kinh doanh nông nghiệp cho nhân dân địa phương; phát
triển hợp xã kiểu mới; tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển về cả số
22
lượng và chất lượng; có cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích các doanh
nghiệp tư nhân đầu từ vào trong lĩnh vực nông nghiệp.
* Tái cơ cấu các nguồn lực trong phát triển nông nghiệp
Vùng biển, hình thành các đội tàu có quy mô lớn để đánh bắt xa bờ,
ứng dụng công nghệ tiên tiến vào khai thác thủy hải sản; quản lý khai thác
theo kích cỡ, khuyến khích phát triển mô hình đồng quản lý nguồn lợi ven bờ
nhằm nâng cao khả năng tự phục hồi và tính bền vững của nguồn lợi thủy sản.
Vùng ven biển, chú trọng nghiên cứu, ứng dụng nhân rộng mô hình
nuôi thương phẩm các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao phù hợp với thổ
nhưỡng và khí hậu; làm tốt công tác cung cấp giống đảm bảo chất lượng cho
nuôi trồng. Mở rộng diện tích trồng cói...
Vùng đồng bằng, thực hiện dồn điền, đổi thửa hình thành các cánh
đồng mẫu lớn trong sản xuất cây lúa. Phát triển vùng chuyên canh các cây
công nghiệp ngắn ngày: ngô, lạc, vùng rau an toàn, hoa, cây cảnh... Chú trọng
và đẩy mạnh chăn nuôi: lợn hướng nạc, gà lông màu và con nuôi đặc sản (lợn
sữa xuất khẩu, gà ri, vịt...)
Trung du và miền núi, phát triển, mở rộng diện tích và nâng cao sản
lượng các vùng nguyên liệu: cây mía thâm canh; cây ăn quả; cây lâm nghiêp:
tre, luồng, nứa. Thu hút đầu tư để phát triển các dự án chăn nuôi: bò sữa, bò
thịt chất lượng cao...
1.2.3. Vai trò của tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa
* Cho phép khai thác và sử dụng hiệu quả những tiềm năng vốn có, để
thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Tỉnh
Thanh Hóa vẫn còn là một tỉnh nông nghiệp. Khu vực nông nghiệp,
nông thôn là nơi chứa đựng tiềm năng to lớn về phát triển nông, lâm nghiệp,
thủy sản (có diện tích đồng bằng đứng thứ ba cả nước; có kết cấu địa lý bao
gồm cả: vùng biển và ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi; dân số đông
tạo ra lực lượng lao động dồi rào và thị trường tiêu thụ rộng lớn…). Do vậy,
việc thực hiện TCCNNN sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa lớn, hiện đại phát triển. Trên cơ sở đó, tạo ra một khối lượng
Khi kinh tế nông nghiệp phát triển đời sống người lao động ngày càng được
nâng cao, các mục tiêu xóa đói giảm nghèo sẽ được thực hiện nhất là vùng sâu,
vùng xa, những nơi mà tỷ lệ hộ đói nghèo còn chiếm tới gần 50% [16].
* Góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ
nghĩa trong nông nghiệp, nông thôn của Tỉnh
25