Tìm hiểu tục cưới xin của dân tộc sán dìu ở tam đảo tỉnh vĩnh phúc - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ÔN THỊ LAN HƢƠNG

TÌM HIỂU TỤC CƢỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU
Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ÔN THỊ LAN HƢƠNG

TÌM HIỂU TỤC CƢỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU
Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: Bùi Thị Nguyệt Quỳnh

SƠN LA, NĂM 2015


Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh - giảng viên

1.1.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân Tam Đảo ....................................... 10
1.2. Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. ......................... 12
1.2.1. Nguồn gốc lịch sử và quá trình tộc người. ................................................ 12
1.2.2 Đặc trưng văn hoá truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc ..................................................................................................................... 13
CHƢƠNG 2: TỤC CƢỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM
ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC ................................................................................. 24
2.1. Chọn con dâu của người Sán Dìu................................................................. 24
2.2. Quan niệm về hôn nhân và cưới hỏi của người Sán Dìu ............................. 25
2.3. Chọn ông bà mối (Sgoi Moi nhin) ............................................................... 26
2.4. Các bước tiến hành cưới hỏi ........................................................................ 27
2.4.1. Lễ dạm hỏi (Hị Sú Nghen Shang) ............................................................. 27
2.4.2. Lễ đón Lục Mệnh (Hị Hạ Thênh) ............................................................. 27
2.4.3. Lễ ăn hỏi (Mun nghen cạ) ......................................................................... 28
2.4.4. Lễ sang bạc (Cộ nghen)............................................................................. 28


2.4.5. Lễ gánh gà (Tam cay) ............................................................................... 29
2.4.6. Lễ cưới chính thức (Shênh ca chíu) .......................................................... 30
2.5. Nghi lễ sau khi cưới ..................................................................................... 40
2.5.1. Lễ lại mặt (Thap quác chéc) ...................................................................... 40
2.5.2. Lễ nhận mặt ông, bà mối (Sgêch chuy thooi chíu) ................................... 41
2.6. Một số bài hát giao duyên (sọong cô) được hát trong đám cưới ................. 41
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NÉT CẢI BIẾN TRONG ĐÁM CƢỚI CỦA DÂN
TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN ...................................................................................................... 43
3.1: Một số cải biến trong tục cưới xin hiện nay của người Sán Dìu huyện Tam
Đảo tỉnh Vĩnh Phúc ............................................................................................. 43
3.2. Một số nhận xét về tục cưới xin của người Sán Dìu huyện Tam Đảo – Vĩnh
Phúc ..................................................................................................................... 46

nghĩa là việc tìm hiểu nghiên cứu về văn hóa dân tộc là quan trọng, đặc biệt là
quốc gia đa dân tộc như Việt Nam.
Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, tồn tại và phát triển đã
tạo nên nền văn hoá phong phú đặc sắc có bề dày lịch sử. Đóng góp vào “tấm
thảm dệt màu sắc văn hoá hài hoà ấy” dân tộc Sán Dìu là một trong những dân
tộc thiểu số có vai trò và vị trí nhất định tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam.
Dân tộc Sán Dìu không phải là dân tộc bản địa, mà là dân tộc thiên di từ
Trung Quốc xuống Việt Nam từ khoảng hơn 300 năm cách ngày nay theo nhiều
1


con đường khác nhau. Theo thống kê năm 2003, thì người Sán Dìu cư trú ở
nhiều tỉnh thuộc khu vực Trung du niền núi Bắc Bộ như: Tuyên Quang, Thái
Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang và Vĩnh Phúc. Ở Vĩnh Phúc cư dân Sán Dìu
sống tập trung chủ yếu ở huyện Tam Đảo, ở đây chiếm khoảng 90% dân tộc Sán
Dìu của toàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuy là một dân tộc thiểu số nhưng dân tộc Sán Dìu đã góp phần không
nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế cho tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và
cả nước nói chung. Tuy nhiên cho đến nay những hiểu biết sâu sắc về phong tục
tập quán của người Sán Dìu vẫn còn hạn chế, nhất là vấn đề cưới xin. Vì thế ta
cần phải đi sâu tìm tòi, nghiên cứu đề có những hiểu biết căn bản để khắc phục
những hiểu biết chưa cụ thể về tục cưới xin của người Sán Dìu ở Tam Đảo –
Vĩnh Phúc.
Từ nhận thức lí luận, ý nghĩa khoa học cũng như giá trị thực tiễn. Trên cơ
sở tư liệu thu thập được và bản thân là một người con của dân tộc Sán Dìu đã
được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của văn hoá Sán Dìu, tôi cảm nhận được sự
giản dị, giàu tình cảm của nền văn hóa ấy. Tuy nhiên, một số văn hoá truyền
thống của dân tộc không được giới trẻ trong cộng đồng dân tộc Sán Dìu chú ý
đến, điều này có thể ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy truyền thống dân
tộc của văn hoá Sán Dìu. Vì lí do trên đã thôi thúc tôi mạnh dạn tìm hiểu và lựa

tục cưới xin của người Sán Dìu nói chung và nhất là người Sán Dìu ở Tam Đảo
tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Vì vậy đề tài “Tìm hiểu tục cƣới xin của dân tộc Sán Dìu huyện Tam
Đảo tỉnh Vĩnh Phúc” sẽ góp phần làm rõ vấn đề ta quan tâm, đề tài cũng góp phần
giáo dục truyền thống văn hoá, ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc Sán Dìu
cho thế hệ trẻ người Sán Dìu ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
3. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích, phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành lịch sử Việt Nam, lĩnh vực lịch sử
địa phương, cụ thể hơn là đề tài tập trung nghiên cứu phong tục cưới xin và các
nghi thức trong cưới xin của người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đi sâu tìm hiểu một số nội dung của đề tài. Đề tài chủ yếu nghiên cứu về
tục cưới xin của người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi tập trung
vào các xã như: Đạo Trù, Yên Dương, Bồ Lý, Đại Đình, Hồ Sơn.
3


3.3. Mục đích nghiên cứu
Dân tộc Sán Dìu trên phạm vi cả nước đã được giới nghiên cứu dân tộc
học và văn hoá học chú ý, nghiên cứu bởi những nét độc đáo, khác biệt trong
sinh hoạt văn hoá của họ. Tuy nhiên, văn hoá là một phạm trù vô cùng rộng lớn,
và đặc trưng văn hoá của người Sán Dìu ở mỗi vùng miền lại có nhiều điểm
khác biệt. Vì vậy, em đã chọn đề tài này với mong muốn góp phần gìn giữ
những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc trên mọi miền Tổ quốc Việt
Nam. Đề tài tập trung tìm hiểu về tập quán cưới xin truyền thống của người Sán
Dìu ở Tam Đảo và đặc biệt là giải pháp góp phần khôi phục và bảo tồn những
nét đặc trưng trong tập quán này. Đề tài sẽ trả lời các câu hỏi mà thực tiễn đặt ra
là: Tập quán này có ý nghĩa gì trong cộng đồng người Sán Dìu ở Tam Đảo? Xu
hướng biến đổi hiện nay là gì? Cần phải làm gì để khôi phục và bảo tồn tập quán

cứu về văn hoá Sán Dìu nói chung và tập quán cưới xin nói riêng. Kết quả
nghiên cứu của đề tài này có thể sẽ là cơ sở giúp các cơ quan quản lý văn hoá tham
khảo trong quá trình điều chỉnh, bổ sung, rà soát để thực hiện công tác khôi phục,
bảo tồn tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo.
5. Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thì nội dung khoá luận gồm có ba chương
Chương 1:
Khái quát về nguồn gốc lịch sử và đời sống văn hoá của dân tộc Sán Dìu
ở huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 2:
Tìm hiểu về tục cưới xin của dân tộc Sán Dìu ở huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc
Chương 3:
Một số nét cải biến trong đám cưới của dân tộc Sán Dìu ở huyện Tam
Đảo tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay, một vài nhận xét

5


NỘI DUNG
CHƢƠNG1
KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
1.1. Khái quát về huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Huyện Tam Đảo nằm chính giữa phía bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, gần ngã ba
ranh giới của tỉnh Vĩnh Phúc với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, phía
nam giáp huyện Bình Xuyên, tây nam giáp huyện Tam Dương, phía tây giáp
huyện Lập Thạch, phía tây bắc giáp huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang,
phía bắc và đông bắc giáp huyện Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên. Bản đồ huyện

quanh năm có sương mù tạo cảnh quan đẹp. Khí hậu tiểu vùng miền núi mang
sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế trong phát triển nông nghiệp với các sản
vật ôn đới và hình thành các khu nghỉ mát, phát triển du lịch sinh thái, du lịch
nghỉ dưỡng vào mùa hè.
Tiểu vùng khí hậu vùng thấp, bao gồm phần đồng bằng của các xã Minh
Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù và toàn bộ diện tích của các xã
còn lại. Tiểu vùng khí hậu của vùng mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí
tuyến vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Nhiệt độ của tiểu vùng trung bình ở mức 22 0C230C, độ ẩm tương đối trung bình khoảng 85 - 86%, lượng mưa trung bình
2.570mm/năm và thường tập trung vào tháng 6 đến tháng 9 trong năm.
Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ nên chịu ảnh
hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm. Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến
sản xuất và đời sống. Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam,
mùa đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc.
Cảnh quan môi trường
Huyện Tam Đảo có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có thế mạnh trong
phát triển du lịch và xây dựng các khu nghỉ mát như: Vùng núi tự nhiên Tam
Đảo quanh năm có mây mù bao phủ tạo ra cảnh quan thiên nhiên nên thơ, huyền
bí. Có các công trình tự nhiên và nhân tạo, tạo cảnh quan đẹp như: Một số thác
nước và mặt nước các công trình thuỷ lợi Thác Bạc, Hồ Xạ Hương, Hồ Vĩnh
Thành. Cột phát sóng truyền hình Tam Đảo ở độ cao trên 1200m là một công
7


trình kiến trúc có thể phát triển thành khu tham quan du lịch. Ngoài ra, trong
vùng còn có các khu rừng tự nhiên, có vườn quốc gia Tam Đảo rất thuận lợi cho
phát triển du lịch sinh thái. Từ điều kiện thời tiết, khí hậu và các cảnh quan tự
nhiên đẹp, đầu thế kỷ XX, người Pháp đã phát hiện và xây dựng ở vùng núi Tam
Đảo một khu nghỉ mát ở độ cao 900m - 950m và từ đó đến nay, Tam Đảo đã trở
thành một địa danh du lịch nổi tiếng ở Việt Nam.
Sông ngòi

Hiện nay huyện gồm có 9 đơn vị hành chính gồm : một thị trấn Tam Đảo và 8 xã
( Đạo Trù, Bồ Lý, Đaị Đình, Hồ Sơn, Tam Quan, Hợp Châu, Minh Quang, Yên
Dương).
Tình hình dân cư, kinh tế, xã hội huyện Tam Đảo:
Về dân cư, Tam Đảo là nơi cư trú của các dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Cao
Lan mỗi dân tộc với những nét độc đáo riêng về văn hóa và những nét tương
đồng nhau sau quá trình sống đan xen nhau tạo nên tính đa dạng về văn hóa trên
địa bàn huyện cùng nhau xây dựng và phát triển kinh tế của huyện.
Dân số năm 2010 dân số của toàn huyện Tam Đảo là 71.528 người, mật
độ dân số trung bình là 303 người/km2, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên
41,9%. So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Vĩnh Phúc thì Tam Đảo là
một trong các huyện có mật độ dân số thấp. Mật độ dân số không đều giữa các
xã trong huyện, dân cư tập trung cao ở các xã vùng thấp và thưa thớt tại vùng thị
trấn Tam Đảo, các thôn, xóm vùng ven núi của các xã vùng đồng bằng.
Các dân tộc với những nét văn hóa riêng sống cộng cư với nhau tạo nên
tính đa văn hóa trên địa bàn huyện. Các dân tộc trong huyện cùng nhau sản xuất
xây dựng và phát triển kinh tế. Do địa hình đa dạng nên hoạt động sản xuất khá
phong phú. Ngoài làm ruộng là nghề truyền thống thì bên cạnh đó còn một số
nghề thủ công cũng phát triển như làm ngói, đúc gang, nghề mộc, đan lát, thêu
thùa. Ở Tam Đảo do được thiên nhiên ưu đãi thời tiết mát mẻ nên ngoài những
cây nông sản như lúa, ngô, khoai, sắn, thì còn chú trọng sản xuất các loại rau
quả có lợi thế như rau su su, măng tre, nhiều đặc sản khác như dứa, chè, vải, mít,
các loại thú quý như hươu, nai, hoẵng…
Cư dân nơi đây dựng lên những công trình văn hóa độc đáo và sáng tạo.
Rải giác trong toàn huyện có nhiều công trình văn hóa vừa mang tính chất lịch

9


sử vừa có giá trị nghệ thuật cao. Ví dụ quần thể đình ở xã Tam Canh, hệ thống



kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của dân tộc và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ngay trên
quê hương mình. Tuy số đảng viên ít nhưng những người cộng sản Tam Đảo đã
trở thành hạt nhân lãnh đạo quần chúng đứng lên cùng với cả nước làm cuộc
cách mạng thần thánh.
Bước vào giai đoạn 1945 - 1954, cả nước bắt tay vào xây dựng và củng cố
chính quyền, giải quyết nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm. Giai đoạn này, Chi bộ
Đảng được thành lập ở hầu hết các xã trong huyện, nhiều đảng viên mới được
kết nạp, hàng nghìn thanh niên Tam Đảo lên đường bảo vệ quê hương, đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của các Chi bộ Đảng chủ trương đưa giáo viên lên các xã miền
núi, vùng sâu xoá nạn mù chữ được thực hiện có hiệu quả.
Giai đoạn 1954 - 1975 đất nước tạm thời chia thành hai miền, miền Bắc từ
vĩ tuyến 17 được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm tồn tại dưới chính quyền
tay sai của đế quốc Mỹ. Cùng với nhân dân cả nước, các chi bộ Đảng và nhân
dân Tam Đảo khắc phục khó khăn thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, hoàn
thành cải cách ruộng đất, sản xuất được khôi phục, lòng tin của nhân dân vào
chế độ mới được củng cố, văn hóa – xã hội có bước phát triển mới, nhất là giáo
dục đã góp phần củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, hoàn thành kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), chính sách hậu phương chi viện cho
tiền tuyến được nhân dân trong huyện hưởng ứng mạnh mẽ…
Từ 1964 - 1968 Đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc,
trong đó có nhiều điểm của huyện nằm trong kế hoạch đánh phá của giặc Mỹ
như Yên Dương, Đạo Trù, Tam Đảo, Tam Quan… Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ,
các Chi bộ Đảng và nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện lấy phòng là
chủ yếu, còn lực lượng vũ trang thì lấy chống và đánh là chủ yếu. Kết quả đã
đào được hàng trăm hầm trú ẩn trên trục đường giao thông, hố tránh máy bay,
các gia đình, trường học đều có hầm trú ẩn… Tam Đảo còn được tiếp đón nhiều
bộ, ngành Trung Ương, của tỉnh về sơ tán tại Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Bồ
Lý, Yên Dương… Tiếp nối truyền thống anh dũng quân và dân Tam Đảo dưới

định cư ở nhiều khu vực khác nhau. Như vậy là người Sán dìu ở Việt Nam nói
chung và người sán dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng có nguồn gốc từ
Trung Quốc di cư sang.

12


Năm 1960 nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức công nhận
tên gọi của tộc người này là dân tộc Sán Dìu. Hiện nay người Sán Dìu ở Vĩnh
Phúc cư trú xen kẽ với tộc người Kinh, sống tập trung thành các làng xóm. Trải
qua nhiều biến động của Lịch sử, dân tộc Sán Dìu vẫn giữ được những nét văn
hóa tốt đẹp, truyền thống của dân tộc mình.
Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Sán Dìu nằm trong ngữ hệ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ Hán, dựa vào chữ Hán người Sán Dìu sáng tạo ra chữ
Nôm Sán Dìu để ghi chép. Trong giai đoạn hiện nay người Sán Dìu đã biết dùng
hệ thống chữ cái La tinh ghép vào để phiên âm tiếng nói của mình, vì vậy dễ
dàng hơn trong việc ghi chép cũng như truyền bá văn hóa của mình so với hệ
thống chữ nôm.
Người Sán Dìu ở Tam Đảo sống thành các làng nhỏ (Son) ven chân núi
Tam Đảo, họ đến đây từ rất sớm.
Theo tác giả StéPhane Leguc viết trong bài: “Vài nhận xét về cư dân và sự
tiến triển của dân số vùng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) trong nửa đầu thế kỉ XX”
nghiên cứu lịch sử số 2,3 tháng 3 và tháng 5 năm 1999 đã khẳng định: “ Vùng
chân núi Tam Đảo đa phần là người Sán Dìu chọn để sinh sống. Họ đã đến định
cư từ rất sớm trên mảnh đất Vĩnh Phúc, người Sán Dìu coi đây là một vùng đất
có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý nên đồng bào đã sinh cơ lập nghiệp và sống
định cư ở vùng đất này” [12 ; 44, 49]
1.2.2 Đặc trưng văn hoá truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo
tỉnh Vĩnh Phúc
Văn hoá vật chất
Người Sán Dìu thường sống thành các làng gọi là Son. Mỗi làng có

mềm mại hình chữ "V" mở từ hai vai khép lại ở thắt lưng ngang eo bụng. Áo dài
có bốn thân, cổ bẻ có nẹp trơn. Và đặc biệt thông qua cách mặc áo có sự phân
biệt giữa người có chồng và người chưa có chồng. Với những bộ trang phục
truyền thống ngày xưa đều do bàn tay người phụ nữ tự khâu, xong cùng với sự
phát triển của khoa học, công nghệ dần thay thế sức lao động của con người thì
nó mới được may bằng máy. Những bộ váy áo này nhìn như có vẻ đơn giản như
vậy nhưng thực tế thì đòi hỏi người thợ may cũng phải có những kỹ năng và
cách may thật khéo léo làm sao cho những đường xếp của chiếc váy không co,
rúm. "Đặc biệt chiếc váy của người phụ nữ Sán Dìu thời xưa là váy xẻ miếng.
14


Người ta xếp những miếng vải chàm chồng lên nhau ở phần trên rồi khâu lại có
dây dải buộc vào eo lưng. Phần dưới để xếp, không khâu chỉ. Váy chỉ dài đến
đầu gối thường là năm hoặc bảy miếng vải xếp lại. Hiện nay họ may váy có hai
mảnh xếp phía trước và phía sau lồng vào nhau ở hai bên. Với kiểu váy này
khiến người phụ nữ luôn luôn phải giữ ý tứ khi lao động cũng như khi đi đứng.
Kèm theo bộ trang phục, người phụ nữ Sán Dìu còn một số đồ trang sức
như vòng cổ, vòng tay, xà tích nhẫn bạc, túi đựng trầu. Hầu hết phụ nữ Sán Dìu
ngày xưa nhuộm răng đen ăn trầu. Cái túi trầu cũng là một đồ trang sức với dây
đeo dài khoảng 15cm, túi được khâu hình múi bưởi, có dây luồn vào miệng túi
để rút đóng và mở túi ra khi ăn trầu. Hai quai túi được dệt bằng chỉ xanh đỏ
nhiều hoa văn đẹp, đầu quai có tua chỉ xanh đỏ thường được quàng vào cổ để
phía trước ngực thuận lợi khi ăn trầu cau. Khi đi đường họ vắt ra phía lưng hoặc
buộc vào thắt lưng cho tiện. Miệng túi trầu được thêu nhiều hoa văn đẹp.
Nam giới: Trang phục của đàn ông Sán Dìu lại đơn giản, mộc mạc hơn
nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp khoẻ khoắn, mạnh mẽ. Quần, áo có màu chàm, áo
được may theo kiểu bà ba, có hai túi rộng; quần dài, cạp chun, ống quần rất rộng
để thuận lợi cho việc leo núi, làm nương.
Những bộ trang phục đó được người Sán Dìu mặc thường ngày, trong các

truyền. Bữa sáng người sán dìu thường ăn cháo hoa hoặc cơm nguội vì theo
người Sán Dìu bữa sáng là bữa phụ, bữa trưa và tối mới là bữa chính. Bữa ăn
của người Sán Dìu được pha trộn với một số lương thực khác như: Ngô, đỗ, củ
từ, củ mài…, cách pha trộn này nhằm tiết kiệm gạo tận dụng lương thực phụ
trong thời kì khó khăn, thời kì giáp hạt.
Gạo nếp không được coi là lương thực chính hàng ngày của người Sán
Dìu, mà thường gạo nếp chỉ ăn ào dịp lễ tết, hoặc những ngày có khách tới chơi,
đặc biệt người Sán Dìu có món cơm lam (chốc thồng van) nổi tiếng thơm ngon.
Một số loại bánh của dân tộc Sán Dìu được làm ăn trong các ngày lễ
tết, mỗi loại có đặc điểm hình dáng hương vị và làm trong các dịp tết lễ khác
nhau như:
Bánh trưng gù (chổng), bánh gio (voi slúi chổng): hai loại bánh này được
gói vào hai tết lớn của dân tộc Sán Dìu đó là tết Nguyên đán và tết Đoan ngọ (tết
Đoan Ngọ của người Sán Dìu ăn vào 1-5 âm lịch hàng năm).

16


Bánh gối (nép cóc phồ), bánh dợm, bánh dầy: được gói vào các tết như tết
thanh minh (ăn vào khoảng cuối tháng hai hoặc đầu tháng ba, theo âm lịch tùy
theo lịch của từng năm), tết tháng bảy âm lịch (tết xá tội vong nhân) và tết Đông
chí tháng mười một âm lịch hàng năm.
Bánh oẳn (mon thót): loại bánh này được làm để cúng trong các buổi làm
ma, làm chay trong các đám tang của người Sán Dìu.
Các loại bánh này nguyên liệu chính là bột gạo nếp và đỗ vàng nấu chín
khi đã làm thành bánh thì được gói lá chuối hoặc lá dong rồi đem đi đồ. Riêng
bánh trưng gù thì gói bằng gạo nếp đã ngâm, đỗ sống và thịt mỡ, bánh được gói
bằng một lớp lá chít bên trong và lớp lá dong bên ngoài sau đó cuốn lạt giang
thật chặt rồi đem luộc. Còn đối với bánh gio của người Sán Dìu được làm khá
cầu kì qua các công đoạn như lọc nước gio (gio cẵng cây vừng, cẵng cây đỗ

Thờ thần bà mụ - coi về tâm linh của trẻ con
Thờ vật linh, mộc linh, địa linh
Tất cả những nét đặc trưng đó đã làm nên một nét văn hóa Sán Dìu truyền
thống của người Sán Dìu nói chung và người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng. Bất cứ một dân tộc nào dù có nhỏ bé nhưng họ đều có một kho
tàng văn hóa nghệ thuật, kho tàng chuyện cổ tích, thơ ca riêng của dân tộc
mình. Cũng như nhiều dân tộc khác văn hóa dân gian của người Sán Dìu được
hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình xây dựng quê hương làng
bản của mình.
Đối với người Sán Dìu có lẽ độc đáo nhất là những làn điệu hát Sọong cô
(hát đối) rất phổ biến. Soọng cô (âm Hán - Việt: Soọng là sướng, cô là ca; Soọng
cô có nghĩa là ca hát) là một thể loại dân ca trữ tình, một sinh hoạt văn hóa dân
gian phong phú hấp dẫn của dân tộc Sán Dìu. Hát sọong cô chủ yếu là phần đối
đáp giao duyên và những lời hát du. Khi tiếng hát cất lên nghe tiếng dặt dìu, lúc
ngân cao lúc trầm ấm làm say mê lòng người, những lời ca ấy trở thành món ăn
tinh thần có sức sống mãnh liệt lắng đọng trong tâm hồn của người Sán Dìu
Môi trường của các buổi hát Sọong cô không bị giới hạn bởi không gian,
thời gian và hoàn cảnh người ta có thể hát một đêm, nhiều đêm, hát trong nhà
hát bên bờ suối, khi làm nương, trong đám cưới, trong các dịp lễ hội, đầu xuân
chúc nhau.

18


Nếu các vũ điệu xưa vốn chỉ dùng trong các nghi lễ tín ngưỡng hay đám
ma, đám chay chỉ do các thầy cúng đảm nhiệm; thì cũng từ xa xưa, Soọng cô
cũng là lối hát đối đáp, giao duyên, do từng đôi nam nữ, hay một tốp nam, tốp
nữ hát đối đáp trong ngày hội xuân, trong lễ cưới, khi lao động sản xuất, lúc
nông nhàn, bên bếp lửa hay dưới ánh trăng khuya.
Soọng cô có hai hình thức: Hát giao duyên gắn với đời sống sinh hoạt,

Hát trong đám cưới
Theo quan niê ̣m của người Sán Diù thì đám cưới có thể thiế u lơ ̣n

, rươ ̣u

nhưng không thể thiế u làn được làn điệu hát Soọng cô, vì đó là những nghi thức
bắ t buô ̣c trong lễ cưới của họ . Theo phong tu ̣c khi nhà trai đế n rước dâu thì bên
nhà gái mang một chiế c ghế ra để ở cửa ra vào cùng một ấm trà pha sẵn và mô ̣t
vài miếng trầu đã têm với ng ụ ý là nhà trai phải hát đúng những câu hát của nhà
gái đưa ra thì mới được mời vào nhà . Sau khi đáp ứng đươ ̣c câu hỏi của nhà gái
đưa ra, nhà trai được mời vào trong nhà . Đại diện bên nhà trai là ông quan lang
trưởng (người thay mă ̣t bố me ̣ chú rể đi đón dâu ) sẽ xin phép ho ̣ hàng nhà gái
làm lễ cúng tổ tiên và đón cô dâu về nhà . Lúc này, tại nhà gái diễn ra lễ Khai
Hoa Tửu (Hoi Va Chiu
́ ) và những làn điệu Soọng Cô vang lên là những lời hát
mừng và tạ ơn công lao của tổ tiên. Soọng Cô trong đám cưới thường do các cặp
nam giới đối đáp nhau, nhà trai cử hai anh hát, nhà gái cũng cử hai anh. Hát suốt
ngày suốt đêm cho đến khi tan tiệc cưới.
Qua thời gian, do nhiều nguyên nhân điệu hát Soọng Cô đang bị mai một
dần, số lượng người thực sự biết hát Soọng Cô không còn nhiều. Một số bài hát
do được truyền khẩu theo thời gian đến nay đã không còn lưu giữ được… Vì
vậy, việc bảo tồn và phát triển điệu hát Soọng cô không chỉ có ý nghĩa gìn giữ
bản sắc văn hóa độc đáo của người Sán dìu mà còn để “hồn cốt” văn hoá của
người Sán Dìu ăn sâu vào trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.
Soọng Cô được hát theo sách, có bài bản sẵn. Người đi hát phải thuộc
sách hát. Ngày nay, có nhiều bài hát Soọng Cô lời mới, dựa vào từ, vào giai điệu
của những câu hát cổ, người Sán Dìu đã sáng tác thêm những bài hát mới ca
ngợi quê hương đất nước.
Do đặc điểm hát đối đáp giao duyên theo lối ngẫu hứng, nên hát Soọng cô
không có nhạc đệm. Hát Soọng cô của dân tộc Sán Dìu có từ bao giờ, đến nay ít


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status