hát ví lưu tam của dân tộc sán chay ở tức tranh, phú lương, thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ MAI QUYÊN
HÁT VÍ LƢU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN CHAY
Ở TỨC TRANH, PHÚ LƢƠNG, THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên – 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất cứ công trình nghiên
cứu nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ
nguồn gốc.

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Mai Quyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN


1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. 8
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu. 8
6. Đóng góp của luận văn. 9
7. Bố cục luận văn. 10
NỘI DUNG 11
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN CHAY Ở TỨC TRANH, PHÚ
LƢƠNG, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI 11
1.1. Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Việt Nam và Phú Lƣơng, Thái
Nguyên. 11
1.1.1. Ngƣời Sán Chay ở Việt Nam 11
1.1.2. Ngƣời Sán Chay ở Phú Lƣơng - Thái nguyên 12
1.2. Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái
Nguyên. 13
1.2.1. Nguồn gốc lịch sử. 14
1.2.2. Dân số và địa bàn cƣ trú. 14
1.2.3. Ngôn ngữ. 14
1.2.4. Quan hệ gia đình và quan hệ xã hội 15
1.2.5. Hoạt động kinh tế 16
1.2.6. Văn hóa truyền thống. 17
1. 3. Khái niệm và nguồn gốc “Hát Ví Lưu Tam” 22
1.3.1. Khái niệm Hát Ví Lƣu Tam 22
1.3.2. Nguồn gốc Hát Ví Lƣu Tam 24
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chƣơng 2: CÁC DẠNG THỨC HÁT VÍ LƢU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN


3.2.1.2. Kết cấu 78
3.2.2. Vần và nhịp 81
3.2.2.1. Vần 81
3.2.2.2. Nhịp 85
3.2.4. Các biện pháp tu từ 86
3.2.4.1. So sánh 86
3.2.4.2. Ẩn dụ 88
3.2.4.3. Nhân hóa 90
3.3. Hiện trạng và vấn đề bảo tồn Hát ví Lƣu Tam . 92
3.3.1. Hiện trạng về Hát ví Lƣu Tam 92
3.3.1.1. Tƣ liệu về Hát ví Lƣu Tam 92
3.3.1.2. Đối tƣợng Hát ví Lƣu Tam 93
3.3.1.3. Sự quan tâm của các cấp quản lý 94
3.3.2. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn 95
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 105
1. Một số bài Hát ví Lƣu Tam tiêu biểu ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên
đã đƣợc nghệ nhân Hầu Thanh Tĩnh dịch 105
2. Một số bài Hát ví Lƣu Tam ở Tức Tranh, Phú lƣơng, Thái Nguyên do tác giả
sƣu tầm. 112
3. Gặp gỡ một số nghệ nhân Hát ví Lƣu Tam 116
4. Một số hình ảnh về đời sống văn hóa của dân tộc sán Chay ở Tức Tranh, Phú
Lƣơng, Thái Nguyên 125

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

những lời bài hát mới. Cùng với việc phục hồi hát dân ca, trang phục dân tộc
cũng đƣợc may mới, các món ẩm thực dân tộc đƣợc lƣu tâm để thi và trình diễn
trong lễ hội, lễ cƣới, lễ hỏi… và trở thành phong trào đƣợc nhân dân đồng tình
hƣởng ứng. Tuy nhiên, việc tìm hiểu nguồn gốc, dạng thức, lời ca và vấn đề
bảo tồn, phát huy giá trị của Hát ví Lƣu Tam ở Tức Tranh chƣa đƣợc quan tâm
một cách đúng mức. Nhằm khôi phục những di sản văn hóa quý báu để xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì việc nghiên
cứu đề tài Hát ví Lƣu Tam ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên là một việc
làm cần thiết.
1.3. Xã Tức Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên nơi có 93% dân
số là dân tộc Sán Chay sinh sống. Vùng quê này có đời sống văn hoá rất phong
phú, nhiều phong tục tập quán đặc sắc, Hát ví Lƣu Tam là một điển hình. Hát ví
Lƣu Tam đƣợc bà con hát bằng cả trái tim tin yêu cuộc sống, gìn giữ nhƣ một
“báu vật” truyền cho con cháu hôm nay và mai sau. Trong cuộc sống hàng
ngày, văn nghệ đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đƣợc của ngƣời
dân nơi đây. Bản thân tôi cũng vô cùng tự hào đƣợc sinh ra trên mảnh đất Phú
Lƣơng giàu truyền thống văn hóa này nên tôi mong muốn góp một phần công
sức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu và giới thiệu một loại hình văn nghệ
dân gian đặc sắc của quê hƣơng tới đông đảo bạn đọc.
1.4. Lâu nay, đã có một số công trình nghiên cứu về Hát ví Lƣu Tam với
nhiều tên gọi khác nhau nhƣ “Xịnh Ca”, “Sình Ca”. Các nghiên cứu đó cũng
đã đề cập đến một vài nét độc đáo, hấp dẫn của làn diệu dân ca này trên một số
phƣơng diện nhƣ diễn xƣớng, ngôn ngữ, biểu tƣợng, nghệ thuật biểu hiện…
nhƣng việc đi sâu tìm hiểu về Hát ví Lƣu Tam một cách có hệ thống ở Tức
Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên thì vẫn còn bỏ ngỏ.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu
khoa học “Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương,
Thái Nguyên ” làm đề tài nghiên cứu của mình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Năm 2003, trong cuốn “Xình ca Cao Lan” do nhà thơ Lâm Quí sƣu
tầm và dịch [34], nhà xuất bản đã giới thiệu toàn bộ đêm hát thứ nhất với 266
khúc ca với nhiều dạng bài hát khác nhau nhƣ: hát mở đầu, hát vào bản, du
hƣơng ca, bơi thuyền vƣợt biển, hát chúc tụng, thỉnh mời thần ca hát, hát về gà
gáy, hát chúc phụng chủ nhà. Trong lời giới thiệu của về cuốn sách, nhà xuất
bản viết “Xịnh ca Cao Lan - Đêm hát thứ nhất - tiếng Cao Lan gọi là “Slơi ca
hùm tời dắt” là một tác phẩm thơ ca dân gian cổ của dân tộc Cao Lan và lưu
truyền trong đồng bào từ nhiều đời nay. Nội dung cuả tập sách phản ánh cuộc
sống xã hội Cao Lan xưa, thể hiện tâm hồn, tình cảm của họ trước cảnh đẹp
thiên nhiên, tình yêu đôi lứa thông qua hình thức hát đối đáp giao duyên nam
nữ, với những lời ca ví von tình tứ, cô đọng dễ hiểu”[34 - tr.5]
- Luận văn thạc sĩ “Khảo sát đặc điểm truyện thơ Cao Lan “Kó Lăù
Slam”(2003), tác giả Lê Hồng Sinh đã phân tích những nét đặc sắc về nghệ
thuật trong truyện thơ này đồng thời miêu tả về Xình ca nhƣ một phần không
thể thiếu để kết tinh về thành truyện thơ này: “Lời của truyện thơ được đặt theo
thể thơ có trong Xình ca. “Kó Lăù Slam” đường như lấy cảm hứng từ tục hát ví
đầu xuân” [35. tr 41]
- “Dân ca Sán Chí ở Kiên Lao, Lục Ngạn, Bắc Giang”, Nguyễn Xuân
Cần - Trần Văn Lạng chủ biên (2003) [4] lại tập trung vào công việc khảo sát
nghiên cứu và tiến hành bảo tồn dân ca của ngƣời Sán Chí - Sán Chay ở xã
Kiên Lao. Phần đầu của công trình là những bài viết khái quát về con ngƣời,
truyền thống lịch sử, văn hóa trong đó có hát dân ca. Phần hai là 1058 bài dân
ca do tác giả phối hợp với các nghệ nhân phiên âm từ Hán Việt sang tiếng Sán
Chí, ra tiếng phổ thông để mọi ngƣời cùng tiếp cận vốn dân ca này.
- Báo cáo khoa học đề tài “Bảo tồn hát Sình ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên
Quang” (2003) của Nịnh Văn Độ [9]. Trong báo cáo khoa học của mình, ngoài
việc giới thiệu khái quát về tình hình đặc điểm dân tộc Cao Lan, tác giả còn
giới thiệu về hát Sình ca và khẳng định đây là một loại hình văn hóa dân gian

điệu dân ca này là “Sình Ca - lời dẫn đường hạnh phúc lứa đôi”. Trong bài viết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

của mình, hai tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò, vị trí của làn điệu dân ca này
trong đời sống tinh thần của dân tộc Sán Chỉ “Bao đời nay, Sình ca (Xình ca,
Soọng cô) đã gắn với người Sán Chỉ nói riêng và những tộc người có chung
hoặc gần nguồn gốc như Sán Chay, Sán Dìu, Dao như một thứ không thể
thiếu trong đời sống tinh thần”. Mặt khác, hai tác giả còn đề cập tới không gian
diễn xƣớng của làn điệu dân ca này và chú ý hơn cả là các khúc hát giao duyên.
“Sình ca có mặt ở nhiều không gian khác nhau: trong nhà, ngoài ngõ, trên
nương ngoài ruộng, đám hiếu, đám hỉ Tuy nhiên, phổ biến nhất, quen thuộc
nhất có lễ là những khúc hát giao duyên”. Họ đều khẳng định các bài ca giao
duyên chính là cây cầu bắc nhịp cho tình yêu đôi lứa.
Điểm qua một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy có hai vấn đề đƣợc các tài
liệu trên đề cập tới.
Một là: các nghiên cứu chủ yếu đề cập tới văn hóa của dân tộc Sán Chay
(Nhóm Sán Chí) nói chung và ngƣời Cao Lan nói riêng và họ khẳng định ngƣời
Sán Chay có nguồn gốc từ Trung Quốc, sống rải rác ở phía Bắc Việt Nam, là
một cộng đồng ngƣời có kết cấu chặt chẽ, còn lƣu giữ đƣợc nhiều nét văn hóa
đặc sắc trong đó có Hát ví Lƣu Tam (hay một số nơi còn gọi là Xình ca hay
Sịnh ca)
Hai là: các nghiên cứu đề cập tới văn nghệ dân gian trong đó có Xình ca
( một tên gọi khác của Hát ví Lƣu Tam) ở nhiều khía cạnh và phƣơng diện khác
nhau.
Một trong những ngƣời tiên phong làm sáng giá Xình ca là cố nhà thơ -
nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Lâm Quí, ông đã có nhiều công trình nghiên
cứu về văn hóa Cao Lan của dân tộc mình nhƣ: Nàng Kó Lau Slam; Xình Ca
Cao Lan - đêm hát thứ nhất; Truyện cổ Sán Chay
Một số tác giả đã có công sƣu tầm các đêm hát, tập hợp và biên soạn rất
công phu nhƣ nhà thơ Lâm Quí, tác giả Ngô Văn Trụ, nghệ nhân Hầu Thanh

- Tìm hiểu không gian diễn xƣớng, hình thức diễn xƣớng và môi trƣờng
diễn xƣớng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Tiếp xúc, phỏng vấn một số nghệ nhân tiêu biểu ở Tức Tranh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
- “Hát ví Lưu Tam dân tộc Sán Chay, 2006” do nghệ nhân Hầu Thanh
Tĩnh sƣu tầm và chọn lọc.
- Các bài Hát ví Lƣu Tam đƣợc sƣu tầm trong quá trình khảo sát, điền dã
của tác giả.
- Trong phạm vi của đề tài luận văn, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu Hát ví Lƣu
Tam về phƣơng diện lời ca. Tuy nhiên, văn học dân gian nói chung và Hát ví Lƣu
Tam nói riêng gắn bó với đời sống văn hóa dân gian nên việc tìm hiểu thêm về
văn hóa sẽ giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề nghiên
cứu.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra các dạng thức Hát ví Lƣu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh.
- Tìm hiểu các giá trị về nội dung, nghệ thuật của Hát ví Lƣu Tam ở Tức
Tranh.
- Qua việc nghiên cứu, chúng tôi muốn góp phần gìn giữ, bảo tồn và giới
thiệu những nét đặc sắc của Hát ví Lƣu Tam trong đời sống văn hóa của dân
tộc Sán Chay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Giới thuyết những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát, thống kê, phân tích, lý giải các dạng thức của Hát ví Lƣu
Tam.
- Trong điều kiện cho phép, chúng tôi sẽ đối chiếu so sánh Hát ví Lƣu
Tam với một số làn điệu dân ca khác ở những vùng miền khác nhau để thấy
đƣợc nét đặc trƣng làm nên sức sống của làn điệu dân ca này.

Tranh.
- Làm sâu sắc hơn về giá trị nội dung cũng nhƣ nghệ thuật của Hát ví
Lƣu Tam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Kết quả mà luận văn nghiên cứu sẽ là nguồn tƣ liêu hữu ích cho việc
nghiên cứu và giảng dạy của giáo viên đứng lớp sau này khi dạy về văn học
của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn góp
phần gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể quý báu này trong đời
sống văn hóa của dân tộc Sán Chay.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn đƣợc triển khai trong 3 chƣơng :
Chƣơng 1: Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái
Nguyên và một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
Chƣơng 2: Các dạng thức Hát ví Lƣu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức
Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên.
Chƣơng 3: Nội dung, nghệ thuật và vấn đề bảo tồn Hát ví Lƣu Tam của
dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên.
Quang (61.343 ngƣời, chiếm 36,2 % ), Thái Nguyên (32.483 ngƣời, chiếm
19,2 % ), Bắc Giang (25.821 ngƣời chiếm 15,2%), Quảng Ninh (13.786 ngƣời
8,1%), Yên Bái (8.461 ngƣời chiếm 5%), Cao Bằng (7.058 ngƣời chiếm 4,2%),
Đắk Lắk (5.220 ngƣời chiếm 3,1%), Lạng Sơn (4.384 ngƣời chiếm 2,6%, Phú
Thọ (3.294 ngƣời chiếm 1,9%), Vĩnh Phúc (1.611 ngƣời chiếm 1%)…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nhƣ vậy, theo thống kê về ngƣời Sán Chay ở Việt Nam thì Thái Nguyên
là một trong những tỉnh có nhiều ngƣời Sán Chay sinh sống chiếm 19,2%.
(Đứng thứ hai sau Tuyên Quang với 36,2%)
1.1.2. Người Sán Chay ở Phú Lương - Thái Nguyên
Phú Lƣơng là huyện miền núi nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái
Nguyên, nằm trong toạ độ địa lý từ 21036 đến 21055 độ vĩ bắc, 105037 đến
105046 độ kinh đông; phía Bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), phía Nam
và Đông Nam giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Định Hoá,
phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ; huyện lỵ
đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc
(theo Quốc lộ 3). Huyện Phú Lƣơng có diện tích tự nhiên 368,82 km2, trong đó
đất nông nghiệp 119,79 km2; đất lâm nghiệp 164,98km2 (chiếm 44,73% tổng
diện tích đất tự nhiên); đất nuôi trồng thuỷ sản 6,65km2; đất phi nông nghiệp
46,63km2; đất chƣa sử dụng 31,64km2.
Địa hình Phú Lƣơng tƣơng đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt
nƣớc biển từ 100m đến 400m. Các xã ở vùng Bắc và Tây Bắc huyện có nhiều
núi cao, độ cao trung bình từ 300m đến 400m, độ dốc phần lớn trên 200; thảm
thực vật dầy, tán che phủ cao, phần nhiều lá rừng xanh quanh năm. Các xã ở
vùng phía Nam huyện địa hình bằng phẳng hơn, có nhiều đồi và núi thấp, độ
dốc thƣờng dƣới 150. Đây là vùng địa hình mang tính chất của vùng trung du
nhiều đồi, ít ruộng. Từ phía Bắc xuống phía Nam huyện, độ cao giảm dần.
Dân cƣ Phú Lƣơng gồm ba bộ phận chính: một là dân bản địa định cƣ từ
lâu đời; hai là dân phu đƣợc bọn tƣ bản Pháp tuyển mộ vào làm thuê trong các

Ngoài Tranh, Cây Thị, Khe Xiêm, Thâm Găng, Quyết Tiến, Quyết Thắng, Đập
Tràn, Minh Hợp, Bãi Bằng, Khe Cốc, Tân Thái thì xóm Đồng Tâm có dân tộc
Sán Chay cƣ trú tập trung nhất (chiếm 93%). Dân tộc Sán Chay ở nơi đây đã
gìn giữ đƣợc rất nhiều những bản sắc văn hóa độc đáo trong đó có Hát ví Lƣu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tam mà đề tài luận văn quan tâm nên việc tìm hiểu về ngƣời Sán Chay tại xóm
Đồng Tâm là một việc làm cần thiết.
1.2.1. Nguồn gốc lịch sử.
Đồng Tâm là xóm đầu tiên của xã Tức Tranh và huyện Phú Lƣơng đƣợc
hai lần nhận bằng văn hóa tiêu biểu cấp Tỉnh. Xóm đƣợc hình thành từ năm
1926 gồm 8 hộ với 40 ngƣời lúc đầu xây dựng xóm. Tất cả những hộ này đều là
dân tộc Sán Chay có nguồn gốc từ các huyện Phú Lƣơng, Đại Từ, Đồng Hỷ
quần tụ về lấy tên là làng Đồng Báng. Đến năm 1960, trong phong trào xây
dựng hợp tác xã, làng Đồng Báng đƣợc chuyển thành xóm Đồng Tâm. Năm
1996, phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phú Lƣơng đã chọn xóm Đồng Tâm
làm đơn vị điểm để xây dựng mô hình xóm bản văn hóa theo cuộc vận động
xây dựng gia đình, làng bản văn hóa và ngày nay là cuộc vận động “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
1.2.2. Dân số và địa bàn cư trú.
Tộc ngƣời Sán Chay của xóm Xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh chiếm tỉ
lệ cao 161 hộ/ 173 hộ (bằng 93%) với 657 nhân khẩu (Theo thống kê tháng 12
năm 2011). Diện tích đất tự nhiên: 342 ha đất tự nhiên, vùng địa hình phức tạp
chủ yếu là những quả đồi ở mức thấp. Dân cƣ sống rải rác trừ các số hộ sống
tập trung gần nhà văn hóa của xóm. Phía Đông giáp với xóm Gốc Mít, Đồng
Lƣờng. Phía Tây giáp với xã Yên Lạc, phía Bắc giáp với xóm Đồng Tiến và
phía Nam giáp với xóm Quyết Tiến. Đồng Tâm là một xóm vùng sâu, vùng xa
nằm cách trung tâm xã Tức Tranh 3km, cách trung tâm huyện lị Phú Lƣơng
chừng 13 km nên đƣờng giao thông, đƣờng điện là một trong những vấn đề gặp
nhiều khó khăn. Năm 2003, xóm Đồng Tâm mới có đƣờng điện cao thế. Năm

viên trong gia đình đã trƣởng thành. Mỗi ngƣời làm công việc khác nhau tuỳ
theo giới tính và tính chất công việc. Đàn ông bao giờ cũng gánh vác công việc
khó khăn nặng nhọc, phụ nữ thì làm việc nhẹ, đảm nhiệm việc nuôi con, nấu
ăn, nội trợ, quản lý tiền bạc và chi tiêu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Quyền đƣợc thừa kế tài sản chỉ phụ thuộc vào những ngƣời con trai. Do
bị ảnh hƣởng nhiều của lễ giáo phong kiến, ngƣời phụ nữ Sán Chay xƣa bị mất
quyền bình đẳng đối với nam giới trong gia đình cũng nhƣ ở ngoài xã hội.
Ở thời Phong kiến, việc lấy vợ, lấy chồng do cha mẹ sắp đặt theo quan
niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nên trong các câu Hát ví Lƣu Tam về
tình yêu lứa đôi có cả sự oán trách, xót xa vì yêu nhau mà không lấy đƣợc
nhau.
Còn giờ đây, trai gái đƣợc tự do tìm hiểu và yêu đƣơng. Phụ nữ Sán
Chay ngoài việc làm nƣơng rẫy còn sinh đẻ và nuôi con cho đến khi trƣởng
thành. Những việc lớn trong dòng tộc chỉ do anh em họ mạc nam giới bàn bạc
và quyết định.
1.2.5. Hoạt động kinh tế
Cũng nhƣ hầu hết các dân tộc sinh sống ở vùng núi thấp khu vực Việt
Bắc, Đông Bắc, trồng trọt cây lƣơng thực trên đất dốc là hoạt động kinh tế chủ
đạo của ngƣời Sán Chay xƣa kia. Tất cả các hoạt động mƣu sinh khác nhƣ chăn
nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán, săn bắt, hái lƣợm…chỉ là những
hoạt động phụ, mang tính hỗ trợ hoạt động trồng trọt.
Trồng trọt cây lƣơng thực là nguồn sống chính của ngƣời Sán Chay. Nó
cung cấp lƣơng thực đáp ứng nhu cầu ăn hàng ngày; săn bắt, hái lƣợm cung cấp
nhu cầu rau ăn, thực phẩm thông thƣờng; thủ công gia đình cung cấp nông cụ,
đồ gia dụng; chăn nuôi đáp ứng nhu cầu về lễ phẩm cho các dịp tế lễ, ma chay,
thực phẩm cho cƣới xin và các sinh hoạt cộng đồng khác.
Do tập quán canh tác xƣa kia chủ yếu phát nƣơng, làm rẫy và trồng lúa
nƣớc, các công cụ lao động sản xuất rất thô sơ chủ yếu là tự chế nhƣ: cầy, bừa,

áo và lƣng áo. Thƣờng ngày, chỉ dùng một thắt lƣng chàm nhƣng trong ngày
tết, ngày lễ, đặc biệt trong mỗi lần Hát ví Lƣu Tam họ dùng 2- 3 chiếc thắt lƣng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

bằng lụa hay nhiễu với nhiều màu khác nhau để tôn thêm vẻ đẹp dịu dàng và
tình tứ của những con ngƣời nơi đây.
Áo váy đi lễ là áo có hoa văn ở ngực và lƣng áo. Dƣới cánh áo có gấu
trắng gọi là “Piệc Tẹp Sạm” có yếm hoa, khăn vắt và váy, xà cạp…. Áo lao
động cũng có áo dài tứ thân nhƣ vùng Kinh Bắc vẫn mặc. Ngoài ra còn có áo
chàm hoặc gụ, nâu ngắn, cả nam giới và nữ giới đều mặc. Ngày nay, các loại
quần áo dài đi lễ hội không còn nhiều.
Ăn: Ngƣời Sán Chay ăn cơm tẻ là chính. Rƣợu cũng đƣợc dùng nhiều,
nhất là trong ngày tết, ngày lễ. Rƣợu xƣa kia hoàn toàn tự nấu bằng gạo xay, ủ
bằng men lá tự chế. Ngày nay ít ngƣời biết làm và chế đƣợc nên phải mua
ngoài chợ. Thƣờng ngày thì đàn ông hút thuốc lào, phụ nữ thì ăn trầu cho má
thắm, môi hồng.
Ngoài những bữa cơm đạm bạc thì trong các dịp lễ, tết, ngƣời Sán Chay
còn có rất nhiều các loại bánh: bánh chƣng, bánh dầy, bánh do, bánh tép, bánh
sừng bò, bánh chim…và các loại xôi: xôi cẩm, xôi gấc, xôi sau sau, xôi
gừng…Các loại bánh và xôi đƣợc làm từ những sản phẩm nông nghiệp do
chính mồ hôi công sức của họ kết tinh mà thành bởi những đôi bàn tay khéo léo
và tài hoa.
Thức ăn có một số đặc sản nhƣ: lợn quay, vịt quay, thịt nƣớng…mùi vị
đặc trƣng của những món ăn đặc sản này đã quyến rũ khách thập phƣơng trong
mỗi lần đến tham gia lễ hội.
Việc ăn uống của ngƣời Sán Chay xƣa kia cũng đƣợc gửi gắm trong Hát
ví Lƣu Tam với nhiều nghi lễ nhất là trong ví mời.
Tín ngƣỡng và tâm linh:
Tín ngƣỡng cộng đồng: đi đến đâu, ở đâu, ngƣời Sán Chay phải lập thổ
công, thổ kỳ. Đình làng là nơi sinh hoạt cộng đồng, làm lễ cầu mùa dịp tết 2/2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status