khảo sát loại hình hát soọng cô của dân tộc sán dìu ở thái nguyên và tuyên quang - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 NGUYỄN THỊ MAI PHƢƠNG
KHẢO SÁT LOẠI HÌNH HÁT SOỌNG CÔ
CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN
VÀ TUYÊN QUANG

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN



ii
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Huế, người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu cũng nhưn trong quá
trình viết luận văn. Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô Khoa
Ngữ văn trong suốt những năm tháng học tập tại đây. Cảm ơn Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, các nghệ nhân…
đã tạo mọi điều kiện, thời gian và công sức giúp đỡ tôi trong quá trình thu
thập tài liệu.
Cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những
người luôn dành cho tôi sự động viên khích lệ trong suốt quá trình thực hiện
luận văn này.
Ngƣời viết Nguyễn Thị Mai Phƣơng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
1.1. Về phương diện khoa học 1
1.2. Lý do thực tiễn 2
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4

2.1. Khảo sát về hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên,
Tuyên Quang 34
2.1.1. Khảo sát vùng hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên . 35
2.1.2. Khảo sát vùng hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Tuyên Quang 36
2.2. Các nghệ nhân 37
2.2.1. Nghệ nhân vùng Thái Nguyên 37
2.2.2. Nghệ nhân vùng Tuyên Quang 43
2.3. Một số nhận xét về vùng hát, nghệ nhân hát Soọng cô ở Thái Nguyên và
Tuyên Quang 51
Chƣơng III: GIÁ TRỊ NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN
HÁT SOỌNG CÔ 54
3.1. Giá trị về nội dung 54
3.1.1. Hát Soọng cô phản ánh tình yêu đôi lứa 54
3.1.2. Hát Soọng cô phản ánh niềm kính trọng tổ tiên, ông bà, người già
và nhưng người làng 61
3.1.3. Hát Soọng cô phản ánh tình yêu lao động 65
3.2. Giá trị về nghệ thuật 66
3.2.1. Thể thơ 66
3.2.2. Kết cấu 68
3.2.3. Vần nhịp 71

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
3.3. Hiện trạng và bảo tồn hát Soọng cô ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 71
3.3.1. Hiện trạng 71
3.3.2. Bảo tồn loại hình dân ca dân tộc Sán Dìu 75
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
DANH SÁCH NGHỆ NHÂN HÁT SOỌNG CÔ 89

nét văn hóa của các dân tộc khác vào đời sống tinh thần, nhưng Soọng cô vẫn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
được lưu truyền. Có thể nói, dân tộc Sán Dìu một dân tộc có tâm hồn thơ ca,
đồng bào yêu thích ca hát, dùng tiếng hát để ca ngợi quê hương, xứ sở, ca
ngợi lao động, tình yêu lứa đôi và khát vọng về một cuộc sống ấm no. Soọng
cô đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của dân
tộc Sán Dìu. Đó là sản phẩm tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh
hoạt, lao động sản xuất của người Sán Dìu.
Tuy nhiên, từ trước tới nay, hát Soọng cô của người Sán Dìu tuy đã
được sưu tầm và dịch nhưng số lượng vẫn rất hạn chế, chưa có sự quan tâm,
nghiên cứu tìm hiểu một cách khoa học về mặt giá trị nội dung và nghệ thuật.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành điền dã và sưu tầm
những bài hát Soọng cô được lưu truyền trong dân gian làm cơ sở nghiên cứu.
1.2. Lý do thực tiễn
Nghiên cứu những nét cơ bản về giá trị nội dung nghệ thuật của hát
Soọng cô trong đời sống văn hóa của người dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
và Tuyên Quang sẽ góp phần khẳng định, bảo tồn và phát huy nét đẹp truyền
thống vốn có của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và dân tộc Sán Dìu
nói riêng.
Xuất phát từ phương diện khoa học nêu trên, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu về: “Khảo sát loại hình hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên
và Tuyên Quang” trong đề tài luận văn nghiên cứu của mình. Hoàn thành
công trình này, chúng tôi mong muốn được khám phá và tôn vinh giá trị văn
hóa phi vật thể của các dân tộc số Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Văn học dân gian (VHDG) là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân
dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kỳ phát

Hát Soọng cô là một loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của đồng bào
dân tộc Sán Dìu ở hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang nên những điệu hát
được lưu truyền ở nhiều xóm bản đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa độc đáo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Dù đã được biết đến nhưng hát Soọng cô vẫn chưa được nhiều người quan
tâm nghiên cứu. Do vậy, việc tìm hiểu về hát Soọng cô là việc làm thiết thực
nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc
thiểu số nói chung và dân tộc Sán Dìu nói riêng.
Hát đối đáp nam nữ với những lời thơ trữ tình, giàu tính dân tộc, là
một phần chủ yếu, nếu không nói là quan trọng nhất trong kho tàng thơ ca
dân gian của người Sán Dìu. Soọng cô, một lối hát giao duyên giữa nam nữ
bằng thơ, cũng tương tự Sli, lượn của người Tày, Nùng. Thanh niên nam nữ
từ tuổi 18 đều biết hát khá thành thạo các làn điệu và bài bản soọng cô. Từ
khi đầu còn để chỏm (12-13 tuổi), họ đã theo anh, theo chị tập dượt cho quen.
Một số bài được ghi lại rồi nhân thành nhiều bản trao tay nhau học. Những
bài bản cứ sai khác mãi, vì khi sao chép người ta tuỳ tiện thêm bớt, cho nên
có rất nhiều dị bản. Song cái hấp dẫn, cái sống động lại không phải ở bài bản
được cố định thành văn, mà là ở những lời thơ của người hát tự ứng tác cho
hợp cảnh, hợp người. Cái đó mới là cái vốn vô tận của Soọng cô. [2, tr 136].
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát loại hình hát Soọng cô, nghiên cứu về mặt giá trị nội dung
nghệ thuật của loại hình dân ca này.
Qua việc nghiên cứu góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy nét đặc sắc
văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên

- Phương pháp khảo sát thống kê;
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh.
- Phương pháp điền dã.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Trong thời gian đi điền dã, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của một đồng nghiệp là Chu Đức Anh, là người dân tộc Sán Dìu ở xã
Nam Hoà, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nhiệt tình giúp đỡ, và cũng là
người rất am hiểu phong tục tập quán của người dân bản địa. Nhờ đó mà
chúng tôi hiểu được rõ hơn về ngôn ngữ, văn hoá dân tộc Sán Dìu. Mặc dù
vậy, quá trình nghiên cứu người viết có lúc lúc gặp phải sự thiếu hợp tác của
các nghệ nhân, song với khả năng của mình, người nghiên cứu đã cố gắng tìm
hiểu và tiếp cận với họ một cách có kết quả.
6. Những đóng góp của Luận văn
Hoàn thành đề tài, Luận văn hy vọng sẽ chỉ ra được một cách có hệ
thống giá trị nội dung nghệ thuật, bảo tồn và phát huy dân ca dân tộc Sán Dìu.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn chia thành ba chương viết:
- Chương I: Khái quát về người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang
và loại hình hát Soọng cô.
- Chương II: Khảo sát vùng hát và các nghệ nhân.
- Chương III: Giá trị nội dung, nghệ thuật và bảo tồn, phát huy Soọng
cô của người Sán Dìu ở Tuyên Quang và Thái Nguyên.
Tài liệu tham khảo.
Phần phụ lục của Luận văn có một số hình ảnh các làng hát, nghệ
nhân, bản đồ minh họa.


vùng bán sơn địa, nhiều nhất là ở huyện Đồng Hỷ: 40,8%; Phổ Yên 21,7%;
Phú Lương 12,%, thành phố Thái Nguyên chiếm 9,2%. Xã có đông người Sán
Dìu nhất của huyện Đồng Hỷ là Nam Hoà: 61,6%. Hiện nay, Thái Nguyên là
tỉnh có đông người Sán Dìu nhất ở nước ta (29,59%). Năm 1999 với 37.365
người (3,57%) họ đứng ở vị trí thứ 4 trong các dân tộc của tỉnh và có mặt ở tất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
cả các huyện, thị xã thành phố của Thái Nguyên. Người Sán Dìu phân bố chủ
yếu ở vùng bán sơn địa, đông nhất là huyện Đồng Hỷ (40,8%), tiếp đến là: Phổ
Yên (21,8%) Phú Lương (12,2%), thành phố Thái Nguyên (9,2%) và ít nhất là
huyện Định Hoá (0,09%). Năm 1960 người Sán Dìu có mặt ở 63/162 xã,
phường của tỉnh, trong đó huyện Đại Từ có 22 xã, huyện Đồng Hỷ có 21 xã,
còn hai huyện: Định Hoá và Võ Nhai không có xã nào có người Sán Dìu cư trú.
Người Sán Dìu đã có mặt ở 154/180 xã phường của Thái Nguyên, dân
số Sán Dìu trong mỗi xã cũng vẫn chiếm tỷ lệ thấp, có 151/154 xã chiếm tỷ
lệ từ 0,01 đến 40%, còn lại 3 xã có tỷ lệ trên 40% là Nam Hoà (61,6%), Tân
Lợi (42,5%) huyện Đồng Hỷ và Bàn Đạt (41,3%) huyện Phú Bình. Ở Thái
Nguyên, bản người Sán Dìu thường được lập dưới chân các đồi núi, gần các
con sông, cánh rừng. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người Sán Dìu ở
Thái Nguyên đã chắp cánh bên nhau, cùng chống chọi với thiên nhiên khắc
nghiệt, biến những mảnh đất khô cằn thành những cánh đồng màu mỡ và từ
trong cuộc sống vất vả lam lũ, Soọng cô đã trở thành một món ăn tinh thần,
gắn bó máu thịt với họ.[13]
Còn ở Tuyên Quang, khác với các dân tộc Tày, Dao, Cao Lan là những
dân tộc có số đông trong tỉnh, dân tộc Sán Dìu có rất ít. Theo kết quả điều tra
ngày 1/4/2009, tỉnh Tuyên Quang có 727.505 người. Trong đó dân số trong
độ tuổi lao động là 377.314 người, chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh. Trên địa
bàn tỉnh có 23 dân tộc cùng sinh sống. Ðông nhất là dân tộc Kinh có 326.033

Thắt lưng thường có bốn màu: xanh, đỏ, tím, vàng, mỗi cái dài khoảng 1,2-
1,5cm, rộng: từ 20-30cm được làm bằng vải mỏng, 2 đầu làm tua rủ. Xà tích
là một chiếc túi đựng trầu thường buộc quanh thắt lưng để đựng các têm trầu.
Nam giới có trang phục đơn giản hơn, không cầu kỳ như phụ nữ. Áo
chàm có cổ đứng, quần ống chân què, cặp chun. Trang phục thì cả nam nữ
người Sán Dìu đều đi dép cao su hoặc chân đất, chân thường quấn xà cạp cao
khoảng 40cm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Trong hôn nhân, nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu, tuy nhiên
quyết định là do bố mẹ và khi lấy nhau phải xem tuổi có hợp thì mới được.
Gia đình người Sán Dìu là gia đình nhỏ phụ quyền. Trong gia đình, người cha
hoặc người chồng làm trụ cột, có quyền quyết định mọi việc và chỉ có con trai
mới được thừa hưởng gia tài cha để lại. Khi phân chia tài sản, người con trai
cả ở với bố mẹ mới được thừa hưởng ngôi nhà và chiếc chảo nấu cháo. Đàn
ông là người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm lo kinh tế gia đình.
Trong xã hội truyền thống, do bị ảnh hưỏng lớn của tư tưởng Khổng giáo nên
người Sán Dìu cũng tồn tại tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Người Sán Dìu có nhiều họ: Bàng, Đặng, Thăng, Dương, Hoàng, Diệp,
Ninh, Trương, Lê, Ân, Trần… Trong một làng người Sán Dìu phần lớn là anh
em họ hàng với nhau. Tuy có nhiều dòng họ, nhưng ở bất kỳ đâu, khi họ gặp
nhau, nhận ra nhau cùng là người Sán Dìu thì thường nói với nhau: Sán Déo
loỏng si với dụng ý: Người Sán Dìu ít ỏi, cần phải yêu thương, đùm bọc nhau.
Tuy nhiên, trong cuộc sống họ có tinh thần tương thân, tương ái cao không
chỉ trong tộc người mà với cả các dân tộc khác cùng sinh sống.
1.2. Đặc điểm văn hoá truyền thống của ngƣời Sán Dìu ở Thái Nguyên và
Tuyên Quang
1.2.1. Chữ viết của người Sán Dìu

xa cách nhau lâu ngày. Qua đó cho thấy năng lực sử dụng ngôn ngữ với chữ
viết Nôm Sán Dìu của các thầy cúng cùng đồ đệ của họ đạt ở trình độ cao.
Cùng với chữ Nôm, người Sán Dìu đồng thời dùng hệ thống chữ cái La
tinh để phiên âm, ký âm tiếng nói của mình. Người Sán Dìu đã sử dụng hệ
thống chữ cái La tinh để phiên âm và phát triển rộng trong việc lưu truyền các
bài hát đối, truyện kể, truyền thuyết, bài thuốc dân gian
Mặc dù người Sán Dìu không có chữ viết riêng nguyên gốc; chữ viết
của họ được tạo ra từ chữ Hán cổ, thành chữ Hán - Nôm Sán Dìu và được
phiên âm bằng chữ cái La tinh để dễ đọc, song người Sán Dìu từ xưa đến nay

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
đều có ý thức giữ gìn, lưu truyền, phổ biến chữ viết dân tộc mình để thế hệ
sau kế tiếp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa chữ viết của thế hệ trước.
Trong chuyến đi thực tế vừa qua, được tiếp xúc với người Sán Dìu,
chúng tôi cũng tiếp cận được một số tài liệu chữ Hán như sách Hợp hôn thư,
sách thuốc, sách cúng, sách xem số tử vi… Qua tìm hiểu chúng tôi thấy,
người Sán Dìu cũng sử dụng song ngữ. Ngoài tiếng mẹ đẻ, dân tộc này cũng
sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với các dân tộc xung quanh.
1.2.2. Tôn giáo, tín ngưỡng của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang
Văn hoá phi vật thể của người Sán Dìu rất phong phú và đa dạng bao
gồm: phong tục tập quán, tín ngưỡng. Người Sán Dìu quan niệm thế giới có
nhiều thần linh và nhiều loại ma (cúi). Có hai loại ma: loại ma lành (hén cúi)
luôn giúp đỡ con ngưòi và loại ma dữ (thôộc cúi) chuyên hại người như ma
sấm sét, ma gà. Trong mỗi xóm, đồng bào đều lập miếu thờ thổ thần, lập đình
thờ Thành hoàng làng. Trước Tết Nguyên đán, đồng bào có các lễ cúng
Thượng điền, Hạ điền, thờ Tổ sư, Thành hoàng, thờ Mụ, cúng Táo quân, cúng
Thổ địa, thần Nông. Đồng bào Sán Dìu còn có Lễ Đại phan, một nghi lễ tôn
giáo để cấp sắc, duy trì việc cúng tế của thầy cúng, đồng thời để trừ tà ma; Lễ

không làm điều ác thì đời sau con cháu sẽ được hưởng phúc lành.
Truyện kể rằng: Có một người họ Trương làm quan tri huyện, thụ ở Trân
Châu kết hôn với một người có tên là Nàng Ba ở cùng huyện. Vợ chồng lấy
nhau trên 10 năm mà chưa có con nên hằng ngày hai ông bà chú tâm làm việc
thiện và chăm chỉ thắp hương cầu Phật. Sau ba năm ba tháng thì người vợ có
thai và sinh ra một con cóc. Nàng Ba cho là điềm quái gở định đánh chết cóc
nhưng khi nghĩ lại thì thấy không đành tâm. Cóc thường ở sau vườn, khi đói lại
trở về bú mẹ.
Sau một thời gian dài đi làm quan, quan tri huyện trở về thăm vợ và
cũng là để được xem mặt con. Nàng Ba dẫn chồng ra vườn, con cóc nhảy lên
người khiến ông sợ hãi. Hai vợ chồng mang nặng một nỗi sầu…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Khi trong nước loạn lạc, vua treo bảng ở triều đình báo loạn và tìm
người diệt giặc Man Di giữ nền thái bình cho đất nước. Một hôm Cóc cùng cha
ra ngoài phố, thấy bảng vua treo trước cửa triều đình liền nhảy lên ngậm bảng
mang về. Thấy vậy, hai vợ chồng rất hoang mang bèn gọi cóc ra mắng: Không
phải là người sao dám làm việc đó. Nếu không dẹp được loạn sẽ mắc tội với
triều đình. Cóc bày tỏ lòng mình và quyết tâm xin đi đánh giặc. Vua cho thẩm
vấn người lĩnh bảng. Sau ba ngày tướng sĩ trong triều nổi chiêng trống nghênh
đón người lĩnh bảng đến Man Man. Tới triều đình, bị tướng quân mắng, Cóc
liền nhảy đến trước mặt vua xin được đi đánh giặc. Cóc chỉ xin vua cho một
con ngựa lớn, một lá cờ hồng, hai chiếc côn dài và 100 quân. Sau đó Cóc nhảy
lên lưng ngựa phóng đi. Tới đất Man Man, Cóc ở trên lưng ngựa cao giọng
quát quân Man Di. Quân Man Di rất coi thường Cóc sai quân tướng bắt cóc lột
da. Cóc ngồi trên mình ngựa đầu bốc lửa, lá cờ phần phật tung bay phát ra lửa
khói thiêu trụi quân Man Di.
Dẹp xong giặc Man Di, Cóc trở lại đất đế vương trình tấu công trạng với

kể về Vũ Nhi). Đây là truyện thơ nguyên bản chữ Hán dài hơn 800 câu, mỗi
câu có 7 chữ. Truyện Vũ Nhi nói về cảnh dì ghẻ, con chồng, sự độc ác dã man
của người dì ghẻ. Tuy nhiên, truyện thơ này cũng cho biết thêm về sự hình
thành một gia đình, một dòng tộc. Cốt truyện đã nhiều lần nhắc tới các địa
danh như Tân Châu, Lịch Sơn, hà Nam đêu là những địa danh Trung quốc
ngày nay. Mở đầu tập truyện thơ có đoạn nói rằng:
Từ ngày Bàn Cổ chia rời đất
Triều đinh phân chia việc vua tôi
Gia đình trú ở huyện Tân Châu
Họ Vũ sống ở ngõ Đại Bình
Lấy vợ làm dâu nhà họ Trương
Chèo thuyền đi tới đất Hà Nam
Đi tới Tân Châu nơi đất tổ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
[Ngô Xuân Trụ, Nguyễn Xuân Cần, 53, tr. 14]
Nội dung truyện thơ Vũ Nhi thư cộng đồng thiềm thù vương như sau:
Có một gia đình họ Vũ ở huyện Tân Châu lấy một người họ Trương được
mười lăm tháng thì sinh ra một cháu bé đặt tên là Vũ Nhi. Khi Vũ Nhi lên 9
tuổi thì mẹ bị bệnh nặng và qua đời. Cha Vũ Nhi lấy người vợ kế họ Dương
để lo việc nhà. Người mẹ kế này lòng đầy ác tâm, đã đánh đập Vũ Nhi thật cơ
cực. Vũ Nhi không được ăn no mặc ấm lại phải trông một lũ em. Một hôm
cha Vũ Nhi có việc phải đi xa, mẹ ghẻ liền nghĩ kế đày Vũ Nhi. Dì ghẻ sai Vũ
Nhi trèo lên cây lấy quất. Lấy được quả rồi, dì ghẻ cho người gánh quả đi và
lấy dây quấn quanh gốc cây. Khi Vũ Nhi xuống được thì bị gai cào chảy máu
đầy người. Hàng xóm nhìn thấy đều lấy làm kinh sợ vì sự ác tâm của người dì
ghẻ và thay nhau thuốc thang cho Vũ Nhi. Lần thứ hai dì ghẻ lại sai Vũ Nhi
xuống nhà kho lấy thóc rồi châm lửa đốt nhà kho nhằm thiêu cháy Vũ Nhi.

hay rằng, trong đất Lịch Sơn có một ông vua "thân cao chín tấc, vai năm
thước,, liền cho chúng thần mang xe ngựa, trống dong cờ mở đến đón vua về.
Khi đoàn tới đất Lịch Sơn, Vũ Nhi nhìn thấy đâm lo sợ tưởng rằng số người
này đến chiếm đất của mình. Lúc đó quan quân trình bày sự việc rằng nếu
không có người lên làm chủ nước thì loạn lạc khắp nơi rồi bái lạy và mời Vũ
Nhi lên trị vì thiên hạ. Sau khi lên làm vua, di ghẻ được Vũ Nhi mời vào chơi
trong cung điện. Không từ bỏ dã tâm độc ác của mình, dì ghẻ lại bày ra kế độc
hòng sát hại Vũ Nhi Trong tiết Thanh Minh, dì ghẻ bảo Vũ Nhi về đắp lại mộ
đường với mưu đó sát hại nhà vua. Nhưng trời không dung túng cho kẻ ác đã
sai thần Sấm xuống trần gian và Ngũ Lôi đã đánh chết người dì ghẻ độc ác.
[53, tr. 151- l54]. Qua câu chuyện này có thể thấy rằng, nội dung của truyện
nhằm răn dạy đạo đức cho các thành viên trong cộng đồng. Cái thiện bao giờ
cũng chiến thắng, và tội ác phải bị trừng phạt. Ngoài ra, trong loại hình văn
hoá của người Sán Dìu còn có một thể loại nữa là đố chữ. Đây cũng chính là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
một nội dung khá độc đáo, mang tính chất văn hoá đặc sắc trong sinh hoạt văn
hoá dân gian của người Sán Dìu. Chẳng hạn đố chữ Hương:
Thiên tự vô thành thiên
Bát tự bài lưỡng biên
Nhật hữu tại hoà hạ
Quái tại phật diên tiền
Dịch:
Chữ Thiên không phải thiên
Chữ bát bày hai bên
Nhật có ở dưới thóc
Quẻ ở trước mặt phật
Hoặc đố câu: Phúc như đông hải

tập đương còn thấp kém cho nên bây giờ cũng chưa có tác phẩm gì truyền lại
cho đời sau. Song những câu tục ngữ ca dao là văn chương truyền khẩu lưu
hành ở chốn dân gian thì xuất hiện từ lâu lắm, ta có thể nói rằng ngay từ khi
có tiếng nói thì người ta đã đặt ra những lời có tiết điệu, có vận luật để bày tỏ
tính tình và ghi nhớ kinh nghiệm [1, tr. 272]
Kho tàng văn học dân gian của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, để
giữ gìn những truyền thống quý báu của dân tộc, để bảo tồn những kinh
nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất của các thế hệ người Việt Nam một hình
thức văn học dân gian truyền miệng đã ra đời và được truyền lại từ thế hệ này
sang thế hệ khác tại Việt Nam. Văn học dân gian thường ca ngợi tài năng và
lòng dũng cảm của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, trước kẻ thù độc
ác, ca ngợi lòng nhân hậu, độ lượng giúp đỡ nhau, ca ngợi tình yêu trai gái,
tình chung thuỷ vợ chồng, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu làng xóm, quê
hương. Không những thế văn học dân gian Việt Nam còn là vũ khí đấu tranh
chống lại những thói hư tật xấu của con người, chống lại những bất công thối

Trích đoạn Hát Soọng cô phản ánh tình yêu đôi lứa Hát Soọng cô phản ánh niềm kính trọng tổ tiên, ông bà, người già Hát Soọng cô phản ánh tình yêu lao động Hiện trạng Bảo tồn loại hình dân ca dân tộc Sán Dìu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status