Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi kín đến sản xuất thịt của gà ross308 trong vụ hè thu tại phú lương thái nguyên - Pdf 14

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP Protein thô
EE Lipid thô
CF Xơ thô
Cs Cộng sự
VCK vật chất khô
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TN Thí nghiệm
TĂ Thức ăn
KL Khối lượng
PI Chỉ số sản xuất
G Gram
Kg Kilogam
TLCĐ Tỷ lệ cơ đùi
TLCN Tỷ lệ cơ ngực
TLMB Tỷ lệ mỡ bụng
TLTT Tỷ lệ thân thịt
ĐC Đối chứng
GĐ Giai đoạn
% Phần trăm
EN Economic Number
CV Hệ số biến dị
P Xác suất
X
Số trung bình
X
S
Độ lệch tiêu chuẩn
X
m
Sai số của số trung bình

thường xuyên ở trạng thái biến đổi và bị biến đổi, ngoài ra còn một số các
1
yếu tố như: Ẩm độ, ánh sáng, độ thông thoáng, mật độ nuôi v…v. Chúng
cũng là các yếu tố có tác động không nhỏ và ảnh hưởng đến trạng thái nhiệt
của cơ thể.
Ở nước ta những năm gần đây, xu hướng nuôi thuần chủng các giống
gà ngoại và tạo con lai có năng suất cao, đặc biệt là các giống gà Broiler như
Ross 208, 308, 508, 707 đang phát triển mạnh. Để khai thác tối đa khả năng
sản xuất của giống gà trên, phương pháp chăm sóc và nuôi dưỡng đã có sự
thay đổi để phù hợp với chức năng sinh lý của chúng. Vai trò của chế độ dinh
dưỡng trong khẩu phần phù hợp với đặc điểm giống cũng như tương tác giữa
môi trường và dinh dưỡng trong cấu thành năng suất chăn nuôi bước đầu đã
được chú ý. Trong khi đó việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và tương
tác của mùa vụ đến khả năng sản xuất của gia cầm nói chung và giống gà
Ross nói riêng được nuôi ở vùng trung du miền núi phía bắc chưa được
tiến hành, đặc biệt là ở Thái Nguyên nơi có sự phân hóa mùa khá rõ rệt.
Xuất phát từ tình hình thực tế và đòi hỏi của sản xuất ở địa phương, chúng
tôi tiến hành triển khai đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ
chuồng nuôi kín đến sản xuất thịt của gà Ross308 trong vụ hè thu tại
Phú Lương - Thái Nguyên”
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và sản xuất
thịt của gà Ross 308 nuôi nhốt trong vụ hè thu
- Xác định chế độ nhiệt độ thích hợp cho gà Ross 308 nuôi theo phương
thức nuôi nhốt trong vụ hè thu.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Hiểu biết thêm về ảnh hưởng nhiệt độ chuồng nuôi, khả năng tiêu tốn,
hấp thu thức ăn và sức sản xuất thịt của gà Ross 308
2

Tập trung hơn cả là các nghiên cứu về phản ứng tự bảo vệ của trâu, bò đối
với ảnh hưởng của nhiệt độ cao, ở gia cầm chỉ có một vài kết quả khảo sát về
ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu khác nhau được công bố. Tuy nhiên, những
kết quả thu được này cũng đã góp một phần làm cơ sở cho việc xác định điều
kiện khí hậu môi trường thích hợp để đạt được mức thỏa đáng ở gia cầm.
Như chúng ta đã biết, sức sản xuất tối đa của gà thường phụ thuộc vào
khả năng duy trì mức hoạt động sinh lý cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
cho điều kiện bất lợi. Mức độ stress của gà nuôi thịt phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố như: Nhiệt độ, độ ẩm và sự chuyển động của không khí. Ảnh hưởng
của nhiệt độ cao làm tiêu tốn thức ăn tăng, tốc độ sinh trưởng giảm và sự bảo
vệ của con vật có thể bị hạn chế (Bond và cs, 1959 [32]; Roller và Goldman,
1969 [107]; Christenbury và cs, 1988 [35]; Lopez và cs, 1991 [78]).
Mức độ stress gây nên do yếu tố khí hậu như nhiệt độ không khí được
phản ánh qua sự thay đổi một số phản ứng sinh lý của cơ thể, chẳng hạn gà
phải cố duy trì sự ổn định thân nhiệt. Sức sản xuất giảm trong điều kiện khí
hậu nóng trước tiên là do giảm mức ăn vào và sau đó là tốc độ phát triển
(Heitman và Hughes, 1949 [61]; Bond và cs, 1952 [31]; Mangold và cs, 1960
[82]; Straub và cs, 1976 [112]). Ngoài ra, dưới tác động của nhiệt độ cao làm
thay đổi khả năng phát triển (Fuller, 1965 [51]; Pearson và cs, 1966 [101];
Hale và Johnson, 1970 [57]); ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng (Sugahara
4
và cs, 1970 [113]; Holmes, 1971 [63]; Straub và cs, 1976 [112]), ảnh hưởng
đến tốc độ trao đổi chất (Marple và cs, 1974[84]; Lynch, 1978 [81]; Close và
cs, 1981 [38]) cũng như khả năng sinh sản (Signoret, 1980 [109]). Đáng chú ý
là stress nóng rất nguy hiểm và nó có thể gây chết gia súc, gia cầm (Marple và
cs, 1974[84]) .
1.1. Tương tác giữa cơ thể và Môi trưởng
1.1.1. Trao đổi nhiệt giữa gia cầm và môi trường
Động vật nói chung và gia cầm nói riêng tồn tại trong mối quan hệ và
tác động qua lại với môi trường và luôn chịu sự tác động trực tiếp của các yếu

Bốc hơi qua các lỗ tự nhiên (chủ yếu qua đường hô hấp và tiêu hóa)
1.2. Cơ sở khoa học về sự di truyền các tính trạng năng suất
1.2.1. Tính trạng số lượng
Theo Trần Huê Viên, 2001 [39]: Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh
tế của vật nuôi đều thuộc nhóm tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là
những tính trạng mà ở đó sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức
độ hơn là sự sai khác về chủng loại. Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng
đo lường, bản chất của di truyền các tính trạng có thể xác định bằng cân, đo,
đong, đếm (như tốc độ tăng khối lượng, kích thước các chiều đo, sản lượng
trứng, tỷ lệ ấp nở,…
Nguyễn Ân, 1993 [1] cho biết, cơ sở lý thuyết của di truyền học số
lượng được thiết lập vào khoảng năm 1920 bởi công trình của Fishter R. A.
(1918), Wright (1926) và Haldane J. B. C. (1932), sau đó môn di truyền học
số lượng được nhiều nhà di truyền và thống kê bổ sung nâng cao, trở thành cơ
sở vững chắc và được áp dụng rộng rãi trong việc cải tiến giống vật nuôi.
6
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tính trạng số lượng
Các đặc tính bên ngoài hoặc các biểu hiện bên ngoài của một cá thể
được gọi là kiểu hình, kiểu hình là do kết quả tương tác giữa kiểu gen và môi
trường gây ra. Như vậy, giá trị kiểu hình của tính trạng nào đó được quy định
bởi kiểu gen của cá thể và tác động của môi trường có thể biểu thị như sau:
P = G + E
Trong đó:
P: là giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
G: là giá trị kiểu gen (Genotypic Value).
E: là sai lệch môi trường (Environmental Deviation).
Cũng theo Trần Huê Viên, 2001 [39]: Kiểu gen của tính trạng số lượng
thường do nhiều gen quyết định, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng
thường do nhiều gen cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của
từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt đến

hay sự sinh trưởng và được định nghĩa như sau: Sinh trưởng là quá trình tích
lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài,
chiều ngang, khối lượng của cơ thể và các bộ phận trong cơ thể trên cơ sở tính
di truyền (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19]). Theo Chambers
J.R., 1990 [47] Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp, duy trì
từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành.
* Đánh giá sinh trưởng:
- Sinh trưởng tích lũy:
Độ sinh trưởng tích lũy là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ
thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là các
thời điểm thực hiện các pháp đo. Các thông số thu được qua các lần cân, đo là
biểu hiện sự sinh trưởng tích lũy. Ta có thể biểu thị trên đồ thị gọi là đồ thị
sinh trưởng hay tích lũy.
8
Đối với gà broiler đây là tính trạng sản xuất quan trọng được tính bằng
kg hoặc g/con và cũng là căn cứ để so sánh khối lượng cơ thể của các tổ hợp
lai tốt nhất.
- Sinh trưởng tuyệt đối:
Là sự tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng
thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N 2-39-77) [29].
Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parapol. Với gà broiler hướng thịt
thường đạt đỉnh cao từ 6 - 8 tuần tuổi. Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính
bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế
càng lớn.
- Sinh trưởng tương đối:
Là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ
thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N 2-40-77) [30].
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypepol. Đơn vị tính sinh trưởng
tương đối là %, vật nuôi nói chung và gà broiler thường có tốc độ sinh trưởng
tương đối giảm qua các tuần tuổi.

sống. Theo Ricard F. H. và Rouvier, 1967 [64] thì mối tương quan giữa khối
lượng sống và khối lượng thịt xẻ rất cao thường là (r = 0,9). Còn tương quan
giữa khối lượng sống và khối lượng mỡ bụng thấp hơn, thường là (r = 0,2 -
0,5). Các giống, các dòng khác nhau thì cho năng suất khác nhau. Theo Đoàn
Xuân Trúc, Lê Hồng Mận, Nguyễn Huy Đạt, Trần Long, 1993 [35] khi mổ
khảo sát bốn tổ hợp lai V135 , V153 , AV35, AV53 ở 49 và 56 ngày tuổi, tỷ
lệ thân thịt đạt cao từ 67 - 75 % thịt đùi và thịt ngực 39 - 41 %. Ngô Giản
Luyện, 1994 [18] đã nghiên cứu 3 dòng gà thuộc giống gà Hybro khi mổ khảo
sát ở 42 ngày tuổi đã kết luận: Trong cùng một dòng gà tỷ lệ thân thịt con
10
trống cao hơn con mái 1 - 2 % trong khi tỷ lệ thịt ngực của con mái lại cao
hơn con trống.
Trần Công Xuân, 1995 [40] thí nghiệm ở 9 ô với ba mức năng lượng và
protein, kết quả mổ khảo sát ở 8 tuần tuổi gà broiler Ross - 208 cho tỷ lệ than
thịt đạt cao 72,69 - 74,59 %, tỷ lệ thịt đùi 20,51 - 22,05 %, tỷ lệ thịt ngực đạt
21,74 - 23,18 %.
Bouw Kamp E. L., 1973 [43] khi nghiên cứu, so sánh tỷ lệ thịt xẻ và
các phần thịt trên đàn gà thịt thương phẩm đã khẳng định rõ sự sai khác các
chỉ tiêu trên giữa các công thức lai. Craing Mortoras, 1996 [51] với tiến bộ di
truyền hiện nay người ta đang mong đợi một cách tin tưởng rằng các tỷ lệ
được nâng cao ở gà broiler là khối lượng sống tăng 59 gam, tiêu tốn thức ăn
giảm 0,04 - 0,05 và cơ ngực sẽ tăng từ 0,2 - 0,3 %. Vereken A. L. J., 1992
[72] cho biết mối liên hệ tiến bộ di truyền giữa điểm cấu trúc của cơ thể với
khối lượng cơ thể là 0,5; với tổng số thân thịt là 0,45; tỷ lệ thịt ngực là 0,6;
khả năng di truyền được ước tính theo cấu trúc cơ thể giao động từ 0,3 - 0,45;
kết quả này cho thấy sản lượng thịt ngực của các dòng gà broiler có thẻ được
nâng lên bởi chọn lọc qua điểm cấu trúc của cơ thể. Tóm lại, năng suất thịt
của gà broiler phụ thuộc vào dòng, giống, tính biệt, chế độ dinh dưỡng và quy
trình vệ sinh thú y.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

đực và con cái càng lớn khi ngày tuổi tăng. Ở gà lúc mới nở gà trống chỉ nặng
hơn gà mái 1 %, ở 2 tuần tuổi là 5 %, ở 3 tuần tuổi là 11 % nhưng ở 8 tuần
tuổi thì sự sai khác này là 27 %. Theo Trần Đình Miên, 1994 [20] sự sai khác
về tốc độ sinh trưởng giữa con đực và con cái càng lớn khi ngày tuổi tăng. Ở
gà lúc mới nở gà trống chỉ nặng hơn gà mái 1 % nhưng ở 8 tuần tuổi thì sự sai
12
khác này là 27 %. Mỗi giống đều có khối lượng đặc trưng cho con đực và con
cái, mặc dù có sự sai khác khá lớn giữa các cá thể. Các nhà di truyền học về
gia cầm đã kết luận: sự sai khác này là do tổ hợp gen liên kết xác định giới
tính, ở con đực nó tác động mạnh hơn ở con cái. Chính vì vậy, trong chăn
nuôi gia cầm nên nuôi tách riêng trống mái nhằm đạt hiệu quả cao (Hoàng
Toàn Thắng, 1996 [25]). Giữa con trống và con mái có sự khác nhau về quá
trình trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể.
Đã có nhiều chứng minh rằng gà trống lớn nhanh hơn gà mái trong cùng một
thời gian và chế độ ăn như nhau. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [16]
khối lượng cơ thể của gà trống, gà mái Broiler V135 là có sự khác nhau từ
một tuần tuổi. North M.O., và cộng sự (1992) cho biết lúc mới nở gà trống
nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự
khác nhau về khối lượng giữa gà trống và gà mái là 27% (Dẫn theo Bế Kim
Thanh, 2002 [24]).
Ở một độ tuổi nhất định tỷ lệ thân thịt chỉ tăng đến một mức nào đó, tỷ
lệ thân thịt ở gà trống và gà mái khác nhau ví dụ như tỷ lệ thịt ức ở gà trống
thấp hơn ở gà mái. Đã có nhiều nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thân thịt ở gia cầm
hướng thịt tăng lên theo tuổi, tức là tuổi gia cầm càng cao thì tỷ lệ này càng
cao. Theo Touraille C. và cộng sự, 1981 [70] khi tuổi gia cầm càng tăng thì tỷ
lệ đùi, lườn càng tăng và tuổi giết mổ gia cầm còn ảnh hưởng đến độ ngon
của thịt. Còn theo kết quả của các nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hải, 1999 [4],
Đoàn Xuân Trúc, 2006 [36] cho biết trong cùng một loại gà thì tỷ lệ thịt xẻ
của gà mái thấp hơn tỷ lệ thịt xẻ của gà trống tư 1 - 2 % trong khi đó tỷ lệ thịt
lườn của gà mái lại cao hơn tỷ lệ thịt lườn của gà trống. Theo Đỗ Xuân Tăng,

phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm
qua từng giai đoạn nuôi.
14
- Khả năng chuyển hoá thức ăn:
Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày phản ánh khả năng chuyển hoá thức
ăn của đàn gà, chất lượng thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng.
Trong chăn nuôi ngoài việc tạo ra các giống mới có năng suất cao thì
các nhà chăn nuôi cần phải chú ý tới nguồn thức ăn cân bằng đầy đủ các chất
dinh dưỡng phù hợp với đặc tính sinh vật học của gia cầm và phù hợp với
mục đích sản xuất của từng giống, dòng, phù hợp với từng giai đoạn phát
triển của cơ thể, mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế, vì chi phí cho
thức ăn thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm. Để đánh giá về vấn đề này
người ta đưa ra chỉ tiêu: “Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng (F.C.R)”. Tiêu
tốn thức ăn trên kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và
ngược lại. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để
đạt được 1 kg thịt, với gà broiler tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng
khối lượng. Nếu tăng khối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng hoá, dị hoá tốt
hơn, khả năng trao đổi chất cao, do vậy hiệu quả sử dụng thức ăn cao dẫn đến
tiêu tốn thức ăn thấp.
Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
quan trọng. Tiêu tốn thức ăn chính là hiệu suất giữa thức ăn/kg tăng khối
lượng, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Đối với gà thịt, thức ăn ăn vào một phần dùng để duy trì cơ thể còn một
phần dùng để tăng khối lượng.
Theo Chambers và cộng sự, 1984 [46] cho biết hệ số tương quan di
truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn thường
rất cao là 0,5 - 0,9 còn tương quan di truyền sinh trưởng và chuyển hoá thức
ăn là âm và thấp từ -0,2 đến -0,8. Theo Arbor Acres, 1993 [41] thì gà broiler
nuôi chung trống mái 49 ngày tuổi, khối lượng cơ thể đạt 2.675 gam - 2.700
gam, F.C.R là 1,92 - 1,95.

mức giới hạn đó thì cần cung cấp đầy đủ nước uống cho gà và làm các biện
pháp làm mát chuồng nuôi để gà duy trì sức chịu đựng.
Ở nhiệt độ 35 0C đối với gà từ 7 tuần tuổi trở đi sẽ tiêu thụ lượng nước
uống tăng lên 4 lít/giờ/100 gà. Mùa hè thời tiết nóng cần pha thêm vitamin C,
đường glucoza và các chất điện giải vào nước uống cho gà. Nhiệt độ môi
trường ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu năng lượng trao đổi và protein thô của
gà broiler. Điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu thụ thức ăn của gà cung
khác nhau. Nếu nhiệt độ chuồng nuôi ổn định thì mức tiêu thụ thức ăn của gà
tăng khi giảm mức năng lượng trong thức ăn và mức tiêu thụ thức ăn của
giảm khi tăng mức năng lượng trong thức ăn. Theo Herbert G. J. và cộng sự,
1993 [55] khi nhiệt độ chuồng nuôi thay đổi 10C thì tiêu thụ của gà mái biến
đổi tương đương 2 Kcal ME. Theo Salah H. M., 1996 [67] thì nhiệt độ trong
ngày đầu tiên nên từ 28 - 35 0C sau đó giảm dần đến 21 0C. Kết quả thí
nghiệm cho thấy gà broiler 4 – 8 tuần tuổi tăng khối lượng đạt 1.225 gam ở 21
0C còn ở nhiệt độ 26 0C chỉ đạt 1.087 gam, theo tác giả thì sự giảm tăng khối
lượng này chủ yếu là do nhiệt độ cao nên lượng thức ăn ăn vào giảm. Theo
Nir I., 1992 [62] cho biết nhiệt độ môi trường 35 0C, ẩm độ tương đối 66 %
đã làm giảm khối lượng cơ thể 300 - 355 ở gà trống, 20 - 30 % ở gà mái so
với điều kiện khí hậu thích hợp.
Tóm lại, đối với khí hậu nước ta tùy theo từng mùa, dựa vào nhiệt độ
của từng giai đoạn mà người chăn nuôi nên chỉnh mức ME và tỷ lệ ME/CP
cho phù hợp trong chăn nuôi.
Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng gà, nếu nhiệt độ cao
khả năng sử dụng thức ăn của gà sẽ giảm. Để khắc phục, cần cho gà sử dụng
thức ăn có mức năng lượng cao nhưng phải cân bằng về tỷ lệ ME/CP cũng
như tỷ lệ axit amin/ME, và tỷ lệ khoáng, vitamin trong thức ăn cần phải cao,
17
đảm bảo lượng dinh dưỡng mà gia cầm nhận được không thấp hơn so với nhu
cầu của chúng. Nếu nhiệt độ thấp hơn so với yêu cầu của cơ thể thì gà ăn
kém, sinh trưởng chậm, tỷ lệ sống thấp. Giai đoạn gà con cần nhiệt độ 30 -

chuồng nuôi. Nhiệt độ cao cần có tốc độ lưu thông khí khác nhau, tốc độ lưu
thông khí cao đối với gà lớn và tốc độ lưu thông khí thấp đối với gà con. Theo
Ing J. E., Whyte M., 1995 [56] đã cho ra khuyến cáo về thành phần tối đa của
các chất khí trong chuồng nuôi gia cầm như sau: NH3 = 0,01 g/m3, H2S =
0,002 g/m3, CO2 = 0,35 g/m3.
Phương thức chăn nuôi ở nước ta chủ yếu là nuôi chuồng thông thoáng
tự nhiên nên các mùa khác nhau người chăn nuôi cần có các biện pháp khác
nhau để đảm bảo mùa đông thì ấm áp còn mùa hè thì thoáng mát.
- Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt
Mỗi giai đọan phát triển gà cần có mật độ thích hợp cho sự vận động
suốt cả ngày của gà thì gà mới sinh trưởng phát triển tốt. Nếu mật độ nuôi cao
thì chuồng nuôi nhanh bẩn, nồng độ khí độc NH3, H2S, CO2, và các vi sinh
vật gây bệnh trong chuồng cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tỷ lệ mắc bệnh
cao, tỷ lệ đồng đều kém dẫn đến hiệu quả chăn nuôi giảm. Theo Van Horne
P., 1991 [71] Khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng NH3, CO2, H2S
được sinh ra trong chất độn chuồng cao. Vì khi mật độ gà đông thì lượng bài
tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng cường trao đổi chất nên lượng
nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng
đến việc tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi
quá cao cùng nhiệt độ không khí cao. Nếu mật độ nuôi thấp thì chuồng nuôi
có nhiều khoảng trống gà sẽ tăng sự vận động dẫn đến tăng trọng giảm.Theo
Lewis N. J., Hurnik J. F., 1990 [58] thì sự vận động của gà có ảnh hưởng chủ
19
yếu tới sức sản xuất, vì nó có liên quan đến sự đi tìm kiếm và sử dụng thức
ăn, nước uống. Ông thấy rằng gà broiler hoạt động suốt ngày và đi lại với
khoảng cách trung bình là 8,8 m/giờ hay 212 m/ngày. Mật độ chuồng nuôi
tăng đã làm giảm khoảng cách đi lại, nhưng không ảnh hưởng đến số trung
bình của gà đi đến máng ăn (4 lần/giờ) và máng uống (2 lần/giờ). Nhiều tác
giả cũng đưa ra khuyến cáo: Nuôi gà broiler ở mật độ nuôi từ 11 con/m2 - 12
con/m2 là thích hợp, nếu nuôi ở mật độ cao thì tỷ lệ chết cũng cao và khối

ngày đã đạt 2,2 đến 2,3 kg/con. Tiêu tốn 2,0 - 2,1 kg cho 1 kg tăng khối
lượng. Tỷ lệ thân thịt, thịt đùi, thịt lườn rất cao. Tỷ lệ thân thịt đạt 74 - 75 %,
thịt đùi chiếm 15 - 16 %, thịt lườn chiếm 16 - 17 %.
1.5. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.5.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong ngành chăn nuôi nói chung thì ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt
là chăn nuôi gà thịt thương phẩm hiện nay rất phát triển và có hiệu quả kinh tế
cao vì có thời gian nuôi ngắn nếu được chăm sóc và nuôi dưỡng đúng quy
trình kỹ thuật. Gà broiler công nghiệp được các nước trên thế giới, nhất là các
nước Châu Âu nuôi với phương thức nuôi nhốt chuồng kín hoàn toàn và sử
dụng môi trường nhân tạo. Nên yếu tố về nhiệt độ của mùa vụ ít ảnh hưởng
đến khả năng sản xuất.
1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về gà thịt thương phẩm, đó là những
nghiên cứu về dinh dưỡng, chế độ chiếu sáng, chuồng trại cho gà. Còn những
nghiên cứu về nhiệt độ của mùa vụ ( hè- thu) cho gà thịt thương phẩm nuôi theo
phương thức nuôi nhốt chuồng kín thì chưa được chú ý nghiên cứu nhiều.
21
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên gà Ross 308 nuôi đến 6 tuần tuổi.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Xã Phấn Mễ (huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ 20/9/2012 - 20/10/2013.
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi đến khả năng sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status