VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THẢO
CHÍNH SÁCH VỀ DI SẢN TƯ LIỆU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ AN
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn: “Chính sách về di sản tư liệu từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang”
đƣợc thực hiện bằng sự cố gắng tìm tòi, học hỏi của học viên cùng với sự hƣớng dẫn
tận tình của PGS.TS Trần Thị An – ngƣời hƣớng dẫn khoa học. Tôi xin cam đoan
những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề
tài khác trong cùng lĩnh vực. Những thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi
rõ nguồn, tác giả.
Tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
1.4. Môi trƣờng thể chế chính sách về di sản tƣ liệu ở Việt Nam
19
1.5. Các yếu tố ảnh hƣởng tới chính sách về di sản tƣ liệu ở Việt Nam
20
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DI SẢN TƯ
23
LIỆU TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
2.1. Khái quát về di sản tƣ liệu ở Việt Nam nói chung, Bắc Giang
23
nói riêng
2.2. Chính sách về di sản tƣ liệu hiện hành tại tỉnh Bắc Giang
34
2.3. Tổ chức thực hiện chính sách về di sản tƣ liệu tại tỉnh Bắc Giang
48
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DI SẢN
68
Ban chấp hành
BQL
Ban Quản lý
DSTG
Di sản thế giới
DSTL
Di sản tƣ liệu
HĐND
Hội đồng Nhân dân
KHCN
Khoa học và Công nghệ
KHXHNV
Khoa học xã hội và Nhân văn
Nxb
Nhà xuất bản
16/5/2012).
b) Châu bản triều Nguyễn (đƣợc UNESCO vinh danh ngày 14/5/2014).
c) Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (đƣợc UNESCO vinh danh ngày
19/5/2016).
d) Mộc bản trường học Phúc Giang (đƣợc UNESCO vinh danh ngày 19/5/2016).
Ngoài sáu Di sản tƣ liệu đƣợc UNESCO công nhận ở cấp thế giới và cấp khu vực
Châu Á – Thái Bình Dƣơng, Việt Nam còn nhiều di sản tƣ liệu có giá trị nhƣng chẳng
những chƣa đƣợc trình UNESCO công nhận mà còn chƣa đƣợc quản lý và bảo vệ tốt,
trong đó có kho mộc bản quý giá ở chùa Bổ Đà (tỉnh Bắc Giang) với gần 2000 ván in
kinh sách Phật, đƣợc khắc bằng chữ Hán, chữ Nôm và cả chữ Phạn hiện đƣợc bảo quản
trên 08 giá gỗ. Trong khi mộc bản ở chùa Vĩnh Nghiêm đƣợc bảo tồn trong các tạng kinh
tựa nhƣ ngôi nhà nhỏ có cửa khóa, mái che thì các tấm mộc bản ở chùa Bổ Đà đƣợc xếp
đều trên kệ gỗ sơ sài nên nguy cơ bị hƣ hại và thất thoát hiện vật là rất lớn. Về kỹ thuật
bảo quản, cả 02 kho mộc bản này hiện đều đƣợc bảo quản một cách khá thủ công, trong
môi trƣờng nhiệt độ, độ ẩm tự nhiên của chùa. Có thể thấy, hình thức bảo quản hiện nay
còn theo thói quen chƣa có những nghiên cứu chuyên sâu về điều kiện môi trƣờng, khí
1
hậu, các tác nhân gây hại để từ đó đề xuất giải pháp khoa học hữu hiệu cho công tác bảo
vệ di sản.
Từ những khái quát trên cho thấy, hiện nay, việc bảo tồn hai kho tƣ liệu quý là
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và Mộc bản Chùa Bổ Đà (tỉnh Bắc Giang) đang gặp nhiều
khó khăn, trong đó, khó khăn lớn nhất là việc thiếu chính sách cụ thể về bảo quản di sản
tƣ liệu, mặc dù Luật Di sản văn hóa đã đƣợc ban hành năm 2001 và sửa đổi năm 2009.
Chúng tôi cho rằng, đây là một vấn đề rất cần bổ sung để hoàn thiện chính sách về văn
hóa ở Việt Nam.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Chính sách về di sản tư liệu từ
thực tiễn tỉnh Bắc Giang để làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành chính sách công.
các hội thảo khoa học liên quan do nhóm đề tài tổ chức đã đƣa ra những nghiên cứu về
quy trình chế tác mộc bản, về tình trạng cơ lý hóa của mộc bản, về bảo quản mộc bản và
kho chứa mộc bản...
Trong cụm 4 đề tài cấp Nhà nƣớc nêu trên, đề tài mang tên Giá trị di sản mộc bản
chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang do Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì thực hiện từ 2014 – 2016 có đặt ra
nghiên cứu một số nội dung về quản lý nhà nƣớc đối với di sản mộc bản ở hai ngôi chùa này.
Có thể kể đến một số bài viết tại Hội thảo do Viện Nghiên cứu Tôn giáo tổ chức
tháng 01/2016 đã tiếp cận vấn đề ở góc độ đề xuất công tác bảo quản di sản mộc bản, cụ
thể là:
Tạ Quốc Khánh và Đoàn Thị Hồng Minh (2016), Một vài đề xuất cho công tác
bảo quản di sản Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà (Bắc Giang), Kỷ yếu Hội
thảo khoa học Giá trị các mặt của di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh
Bắc Giang, tr.190-195; Nguyễn Quang Khải (2016), Từ việc tìm hiểu tình hình Mộc bản ở
Bắc Giang và Bắc Ninh, suy nghĩ về tình hình bảo quản Mộc bản ở ta, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học Giá trị các mặt của di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc
Giang, tr.181-189;…
Về phía tỉnh Bắc Giang, trong những năm gần đây (đặc biệt là từ khi Mộc bản
chùa Vĩnh Nghiêm đƣợc UNESCO công nhận là Di sản tƣ liệu khu vực Châu Á – Thái
Bình Dƣơng), một số văn bản mang tính chỉ đạo, quản lý nhà nƣớc của tỉnh đã đƣợc ban
hành nhằm bƣớc đầu tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản
văn hóa nói chung và giá trị của những kho mộc bản đƣợc lƣu giữ tại địa phƣơng nói
riêng. Tuy nhiên, những văn bản đó chƣa phải văn bản chính sách mang tính chiến lƣợc
lâu dài mà hầu hết chỉ là các Quyết định, Chƣơng trình, Kế hoạch của UBND tỉnh, của
Sở VHTTDL tỉnh, của UBND các huyện Yên Dũng, Việt Yên.
3
Đối với các tài liệu nghiên cứu về chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà hầu hết mới
4
Nghiêm, tỉnh Bắc Giang; Sở VHTTDL Bắc Giang; Nguyễn Tá Nhí (2013), Từ kho ván
khắc in kinh Phật của Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang, tìm hiểu thêm lịch sử khắc ván in
kinh Phật ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Bảo tồn, khai thác giá trị Mộc
bản chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang…
Những nghiên cứu về chùa Bổ Đà nói chung, di sản mộc bản tại chùa Bổ Đà nói
riêng còn khá khiêm tốn so với giá trị và tầm mức của ngôi chùa này trong lịch sử cũng
nhƣ hiện tại, một số nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Hữu Tự (1992), Chùa Bổ Đà: một
trung tâm Phật giáo thời Lê, in trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1991,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; Ngô Thế Thịnh (1997), Chùa Bổ Đà, Tạp chí Nghiên cứu
Phật học, số 6; Nguyễn Hồng (1998), Lịch sử xây dựng chùa Bổ Đà, Tạp chí Nghiên cứu
Phật học, số 3; Chùa Bổ Đà: sự nghiệp cứu nước của các tăng ni, Phật tử qua các giai
đoạn lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4/1998; Đào Ngọc Sơn (2004), Chùa Bổ
Đà - Tứ Ân trong lịch sử Phật giáo xứ Kinh Bắc, Nguyệt san Giác Ngộ, các số 101,102
và 103; Nguyễn An, Độc đáo kho mộc bản chùa Bổ Đà, http://chuaboda.com/, ngày
02/12/2012; Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang (2015), Mộc bản chùa Bổ
Đà - Đề mục tổng quan, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, là cuốn sách giới thiệu tổng quan
toàn bộ khối mộc bản chùa Bổ Đà gồm gần 2.000 tấm gỗ khắc chữ Hán Nôm ngƣợc, với
gần 4.000 mặt khắc, tƣơng đƣơng trên 7.000 trang sách, chủ yếu là kinh Phật, có niên đại
sớm nhất từ thời Lê (1775). Nội dung tài liệu mộc bản phản ánh đời sống văn hóa của
ngƣời dân Kinh Bắc xƣa, có tính giáo dục rất cao, hƣớng con ngƣời sống thiện và làm
việc thiện...
Từ kết quả những công trình nghiên cứu, bài viết đã đƣợc tổng hợp nêu trên cho
thấy các vấn đề nghiên cứu về di sản tƣ liệu nói chung, về chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ
Đà nói chung và di sản mộc bản tại hai ngôi chùa này nói riêng mới chủ yếu dừng lại ở
việc khảo tả, đánh giá hiện trạng di tích, di vật và mộc bản đang có tại đây. Đồng thời,
các nghiên cứu đều chỉ ra và khẳng định giá trị quý báu của di tích chùa Vĩnh Nghiêm,
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng cách tiếp cận liên ngành xã hội học, sử học và đặc biệt là vận
dụng phƣơng pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách
công về chu trình chính sách từ xác định vấn đề chính sách đến hoạch định, xây dựng,
thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Qua
thực tiễn chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: tiến hành phỏng vấn sâu các nhà quản lý văn hóa ở
Bắc Giang, những ngƣời trông giữ chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà, các nhà nghiên
cứu di sản tƣ liệu nói chung và nghiên cứu mộc bản ở Bắc Giang nói riêng)...
6
- Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu
+ Các văn bản: Văn kiện Đại hội và Nghị quyết của TW Đảng, của Tỉnh ủy Bắc
Giang; Các văn bản luật và dƣới luật của Nhà nƣớc quy định về di sản ở Việt Nam; Các
báo cáo thống kê, văn bản có liên quan của cơ quan Bộ VHTTDL, UBND tỉnh Bắc
Giang, Sở VHTTDL Bắc Giang; Các quyết định, quy định, báo cáo của Bộ VHTTDL và
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Giang về di sản tƣ liệu.
+ Số liệu thứ cấp: các số liệu di sản tƣ liệu ở Việt Nam nói chung, Bắc Giang nói riêng.
+ Số liệu sơ cấp: tự thu thập qua điều tra thực tế tại chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm rõ vấn đề
khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể: chính sách về di sản tƣ liệu.
- Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tƣ liệu, kết quả khảo sát thực tế tại Bắc
Giang, qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách
văn hóa mà cụ thể là chính sách di sản nói riêng, chính sách công nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo
đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm“ [19,
tr.4]. Theo Thomas R.Dye, định nghĩa về chính sách công đƣợc hiểu một cách ngắn gọn
nhƣ sau: “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm“ [19, tr.4].
Gần đây nhất, William Jenkin đƣa ra một định nghĩa về chính sách công đƣợc chấp nhận
tƣơng đối rộng rãi: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau
của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu
và các giải pháp để đạt đƣợc các mục tiêu đó“ [19, tr.6].
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đƣa ra những cách hiểu về chính sách
công khác nhau.
Lê Chi Mai đã tổng kết về khái niệm chính sách công với một số ý nhƣ sau: “Thứ
nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nƣớc... Chính sách công do Nhà nƣớc ban
hành nên có thể coi chính sách công là chính sách của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc ở đây đƣợc
hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nƣớc, bao gồm Quốc hội, Các Bộ, chính
quyền địa phƣơng các cấp“ [19, tr.9]. “Thứ hai, các quyết định này là những quyết định
8
hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn...Thứ ba, chính sách
công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo
những mục tiêu đã xác định. Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết
một vấn đề nhất định“ [19, tr.10]. “Thứ tƣ, chính sách công bao gồm nhiều quyết định có
liên quan lẫn nhau.... Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các văn bản quy phạm
pháp luật khác, thậm chí cả chƣơng trình dự án mà bản chất là giải pháp cho vấn đề chính
sách“ [19, tr.11].
Tác giả Đỗ Phú Hải đã đƣa ra định nghĩa về chính sách công nhƣ sau: “Chính sách
công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nƣớc nhằm lựa chọn
các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã
hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền“ [20, tr.37].
một bộ phận của di sản văn hóa nói chung, di sản tƣ liệu có một vị trí quan trọng trong
kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam. Dƣới góc độ khoa học, di sản tƣ liệu vừa là hiện
vật bảo tàng, vừa là tài liệu lƣu trữ quốc gia hoặc tài liệu thƣ viện.
Vì tầm quan trọng của di sản tƣ liệu mà UNESCO đã thành lập Chương trình Ký
ức thế giới vào năm 1992 nhằm mục đích tiếp cận, bảo tồn và quảng bá những bộ sƣu tập
có giá trị đang đƣợc lƣu giữ tại các cơ quan lƣu trữ, thƣ viện, bảo tàng và nhiều nơi khác
trên toàn thế giới. Đây là một trong ba sáng kiến của UNESCO nhằm bảo vệ và nâng cao
nhận thức về di sản văn hóa toàn cầu. Hai sáng kiến còn lại là Công ước bảo vệ di sản
thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới (duy trì các giá trị nổi bật của các công trình kiến
trúc và các di sản thiên nhiên trong Danh mục Di sản thế giới) và Công ước bảo vệ di sản
văn hóa phi vật thể (nhằm thừa nhận và hỗ trợ sự sống của những phong tục và văn hóa
truyền khẩu). UNESCO cũng đề nghị các quốc gia thành viên quan tâm thành lập Ủy ban
quốc gia về Chương trình Ký ức thế giới để chỉ đạo và xây dựng các dự án, thiết lập cơ
chế trong phạm vi quốc gia, liên quốc gia cho việc bảo tồn di sản tƣ liệu.
Ký ức thế giới là những hồi ức chung đƣợc ghi lại của con ngƣời trên thế giới. Nó
cho thấy sự phát triển của ý thức, những khám phá và thành tựu của xã hội loài ngƣời.
Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO sẽ xét và công nhận Danh mục các di
sản tƣ liệu có ý nghĩa (khu vực, quốc tế) trên cơ sở mỗi quốc gia hai năm một lần đƣợc đề
cử hai hồ sơ. Chương trình Ký ức Thế giới hoạt động trên nguyên tắc phối hợp chặt chẽ,
hiệu quả giữa Ủy ban Tƣ vấn quốc tế, khu vực và các Ủy ban quốc gia.
1.1.2.2. Khái niệm chính sách về di sản tư liệu
Trên cơ sở tổng hợp những khái niệm về chính sách công trong đó lấy định nghĩa
của Đỗ Phú Hải - Học viện Khoa học xã hội [20, tr.37] làm căn bản, theo chúng tôi khái
niệm chính sách về di sản tƣ liệu đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Chính sách về di sản tƣ liệu
là chính sách công, là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nƣớc về
10
di sản tƣ liệu nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải
11
quyết TW5 khóa VIII, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành TW Đảng khóa XI đã chỉ rõ:
“Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với
phát triển kinh tế - xã hội“.
Từ những chủ trƣơng, định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc đã xây dựng hệ thống văn
bản pháp lý nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích nói chung, di sản thế
giới nói riêng. Luật Di sản văn hóa đƣợc Quốc hội ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa vào năm 2009 là văn bản pháp lý quan
trọng nhất để các cấp, các ngành thực thi các biện pháp quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ
chuyên môn nghiệp vụ đối với di sản thế giới. Luật Di sản văn hóa đã thực sự đi vào đời
sống, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng giúp tăng cƣờng nhận thức và hành động cho
toàn xã hội trong việc bảo vệ và phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc.
Một số văn bản dƣới Luật liên quan tới việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa
và thiên nhiên đã đƣợc Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan ban hành gồm:
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa;
Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trƣởng Bộ Văn hóa
– Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) về phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy
giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020;
Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ trƣởng Bộ
VHTTDL ban hành quy chế khai quật khảo cổ;
Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL ngày 22/5/2009 của Bộ trƣởng Bộ VHTTDL về việc
tổ chức triển khai thực hiện Chiến lƣợc phát triển văn hóa đến năm 2020;
Thông tƣ số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ VHTTDL quy định
việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể
để đƣa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia;
vào chương trình, danh hiệu của khu vực và thế giới. [37, tr.10].
Năm 2016, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 209/QĐ-TTg ngày
03/02/2016 phê duyệt Đề án bảo quản và phát huy giá trị tài liệu Mộc bản triều Nguyễn –
Di sản tư liệu thế giới. Đây có thể coi là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nƣớc đối với
một di sản tƣ liệu cụ thể đã đƣợc vinh danh trong Chương trình Ký ức thế giới. Sau đó
không lâu, Châu bản triều Nguyễn cũng đƣợc đƣa vào đề án bảo quản thông qua Quyết
định số 933/QĐ-TTg ngày 30/5/2016 của Thủ tƣớng Chính phủ về phê duyệt Đề án bảo
quản và phát huy giá trị tài liệu Châu bản triều Nguyễn – di sản tư liệu thuộc Chương
trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
13
1.2. Các vấn đề về thực trạng của di sản tư liệu
Theo Đỗ Phú Hải, “xác định vấn đề chính sách công là giai đoạn khởi đầu nằm
trong chu trình chính sách bao gồm từ bƣớc khởi đầu phát hiện ra những mâu thuẫn nảy
sinh trong đời sống xã hội cần đƣợc giải quyết bằng chính sách cho đến khi hoàn thành
những mục tiêu của chính sách công“. [19, tr.59].
Vậy các vấn đề về thực trạng của di sản tư liệu hiện nay là gì?
Di sản tƣ liệu là những tài sản quan trọng của quốc gia mà qua đó có thể hiểu đƣợc
về lịch sử, văn hóa, kinh tế- chính trị và các lĩnh vực xã hội của cả nƣớc hay từng vùng,
miền, dân tộc, ngành nghề… Bên cạnh một lƣợng lớn di sản tƣ liệu đang đƣợc lƣu giữ ở
các dòng tộc, gia đình và tại không ít di tích đình, đền, chùa,… phần lớn các di sản tƣ liệu
quý đang đƣợc các cơ quan lƣu trữ của Nhà nƣớc bảo quản. Tuy nhiên, việc bảo vệ và
phát huy các giá trị của “kho tàng lịch sử” này đang còn nhiều bất cập. Do nhiều nguyên
nhân khác nhau từ trong lịch sử mà hệ thống di sản tƣ liệu của Việt Nam đã bị mất mát,
thất lạc, thiếu hụt khá nhiều.
Mặc dù di sản tƣ liệu của Việt Nam đƣợc lƣu giữ khá tập trung trong hệ thống cơ
quan chuyên môn từ trung ƣơng đến địa phƣơng nhƣng đến nay vẫn chƣa có một nghiên cứu,
khảo sát hay thống kê thật sự đầy đủ, chính xác về số lƣợng các tƣ liệu quý của Việt Nam.
Mộc bản trường học Phúc Giang đƣợc lƣu tại nhà thờ của dòng họ Nguyễn Huy (Hà
Tĩnh) nên các trang thiết bị bảo quản tài liệu hầu nhƣ không có gì.
Kỹ thuật để bảo tồn di sản tƣ liệu còn sơ sài. Chúng ta chƣa có công trình nào thực
sự đi sâu nghiên cứu các đặc điểm riêng của các loại chất liệu tạo nên tài liệu (giấy, gỗ,
đá…) ở Việt Nam. Trong thực tế, việc bảo quản, tu sửa các di sản tƣ liệu lại rất cần chính
loại vật liệu truyền thống cũng nhƣ cách thức, quy trình đã làm nên di sản đó. Vì vậy, vấn
đề bảo tồn nghề giấy truyền thống, nghề chạm khắc gỗ (mộc bản) hay nghề khắc bia đá…
trở thành vấn đề có liên quan chặt chẽ với bảo tồn di sản tƣ liệu. Việc sử dụng các di sản
tƣ liệu gần nhƣ đã chấm dứt trong xã hội hiện đại trong khi những chủ thể từng sáng tạo
ra nó đều đã lui về quá khứ. Vì vậy, việc bảo tồn những ngành nghề truyền thống này
không dễ thực hiện chút nào khi có nhiều nghề dƣờng nhƣ đã thất truyền (ví dụ nghề khắc
in mộc bản ở làng Liễu Tràng – Hải Dƣơng).
Ở cả Trung ƣơng và địa phƣơng, chúng ta chƣa có một phòng thí nghiệm thực sự
để phục vụ việc nghiên cứu, bảo quản hiện vật bảo tàng (trong đó có di sản tƣ liệu).
Việc chọn lựa, đề cử xếp hạng các tài liệu có giá trị, đảm bảo theo các tiêu chí quy
định để tham gia Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO ở từng cấp độ còn có những
lúng túng, bị động. Hầu hết các di sản tƣ liệu đƣợc UNESCO vinh danh trong thời gian
qua là do sự chủ động, nỗ lực tìm kiếm và đề xuất xây dựng hồ sơ đề cử từ phía Ủy ban
Quốc gia UNESCO Việt Nam và Ủy ban Điều phối Quốc gia Chƣơng trình Ký ức thế
15
giới. Các đơn vị có tài liệu đƣợc tƣ vấn đề cử xếp hạng tự làm hồ sơ dƣới sự hƣớng dẫn
của chuyên gia UNESCO theo cách vừa làm vừa học hỏi, rút kinh nghiệm của những hồ
sơ đã làm trƣớc đó. Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc liên quan trong việc làm hồ
sơ đề cử xếp hạng di sản tƣ liệu còn mờ nhạt, chủ yếu chỉ là đứng tên trong hồ sơ về mặt
pháp lý. Trong số 06 di sản tƣ liệu đã đƣợc UNESCO xếp hạng, chúng ta chỉ có 02 di sản
tƣ liệu ở cấp độ thế giới là Mộc bản triều Nguyễn và Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long.
Tuy nhiên, 02 di sản tƣ liệu này chỉ có Mộc bản triều Nguyễn là thành công ngay ở lần đề
sản tƣ liệu nhƣ tổ chức triển lãm, trƣng bày, xuất bản sách... Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà
nƣớc cũng đề nghị đƣa di sản tƣ liệu trở thành một bộ môn trong giáo dục các cấp nhằm
giúp học sinh, sinh viên hiểu biết, trân trọng các giá trị văn hóa của dân tộc mình. Có thể
nói, kể từ khi Chương trình Ký ức thế giới đƣợc triển khai ở Việt Nam vào năm 2006,
Ban Điều phối, nay là Ủy ban Quốc gia Chương trình Ký ức thế giới Việt Nam do Cục
Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc tham gia điều phối đã thực hiện nhiều hoạt động có ý nghĩa
thiết thực nhằm nâng cao nhận thức của xã hội. Qua đó, đã quảng bá về sự tồn tại và giá
trị của các di sản tƣ liệu, đồng thời tham gia có hiệu quả vào các hoạt động của Chương
trình Ký ức thế giới ở cấp khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, việc quảng bá, phát huy giá trị di sản tƣ liệu sau khi đƣợc vinh danh để
danh hiệu không chỉ là cái tên mà còn thực sự có ý nghĩa trong việc gìn giữ, phát triển
nền văn hóa đất nƣớc nói riêng, phát triển kinh tế xã hội nói chung một cách bền vững,
đảm bảo giá trị vốn có của di sản cũng nhƣ đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên
quan đến di sản vẫn còn nhiều bất cập. Khi Việt Nam chính thức có thêm hai di sản tƣ
liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng (Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế; Mộc
bản trường học Phúc Giang) vào tháng 5/2016 vừa qua, một câu hỏi thực tế đã đƣợc
nhiều ngƣời đặt ra: loại hình di sản này sẽ mang lại những nguồn lợi nào cho chúng ta
ngoài vấn đề “danh xƣng tầm thế giới”? Bên cạnh đó, vấn đề nguồn nhân lực thực hiện
công tác quản lý, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản tƣ liệu phần lớn còn thiếu
và yếu cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng, đặc biệt là với các cơ quan ở địa phƣơng, các
khu di tích…
Nguyên nhân các vấn đề về thực trạng của di sản tư liệu nêu trên là gì?
Thứ nhất, việc mất mát, thất lạc tài liệu có giá trị do các nguyên nhân từ lịch sử để
lại nhƣ chiến tranh, thiên tai và do cả hạn chế về nhận thức của con ngƣời gây nên. Ngoài
ra, “sự thay thế của triều đại này bằng một triều đại khác cũng có thể là nguyên nhân làm
cho một số di sản văn hóa bằng giấy bị tiêu hủy” [25, tr.399]. Một nguyên nhân quan
trọng khác làm cho di sản tƣ liệu bị hủy hoại là do điều kiện tự nhiên (thời tiết, côn trùng,
nấm mốc…) của Việt Nam với kiểu khí hậu ẩm ƣớt, nắng nóng. Đây là môi trƣờng lý
17
ức Thế giới Việt Nam. Vì vậy, thời gian vừa qua di sản tƣ liệu ở trong tình trạng “cha
chung không ai khóc”, không có chủ thể quản lý. Tỉnh nào có di sản tƣ liệu đề cử thì tỉnh
đó chịu trách nhiệm liên hệ với Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam để đi đăng ký. Sở
18
VHTTDL của các tỉnh chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với hồ sơ và giữ bản quyền hồ
sơ di sản tƣ liệu đƣợc đề cử. Sau khi đƣợc UNESCO công nhận danh hiệu, di sản tƣ liệu
chƣa biết thuộc sự quản lý của bên nào. Hiện nay, Bộ VHTTDL, Cục Di sản văn hóa
thuộc Bộ không quản lý việc này.
Thứ năm, kinh phí giành cho công tác bảo quản, phát huy giá trị di sản tƣ liệu còn
hạn chế so với tiềm năng và nhu cầu thực tế của di sản.
Thứ sáu, nếu nhƣ di sản văn hóa thế giới và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa
phi vật thể đại diện của nhân loại đƣợc điều chỉnh và chịu sự ràng buộc theo các điều ƣớc
cụ thể trong 02 bộ Công ƣớc quốc tế liên quan thì di sản tƣ liệu mới chỉ là Chƣơng trình.
Vì vậy, mức độ ràng buộc, chịu trách nhiệm cũng nhƣ mức độ ảnh hƣởng của di sản tƣ
liệu có những hạn chế so với 02 đàn anh đi trƣớc.
Thứ bảy, các di sản tƣ liệu quý có giá trị hiện nay của nƣớc ta phần lớn là tài liệu
đƣợc thể hiện bằng chữ Hán - Nôm. Đây chính là một khó khăn, trở ngại lớn cho những
ngƣời làm công tác bảo tồn di sản cũng nhƣ công chúng khi tiếp cận với di sản tƣ liệu.
Nếu không biết, không giỏi chữ Hán - Nôm thì cán bộ chuyên môn cũng nhƣ độc giả
không thể đọc trực tiếp để hiểu nội dung tài liệu gốc, từ đó không thể bóc tách, xác định
đƣợc chính xác các lớp giá trị bên trong nội dung tài liệu đã phản ánh.
Thứ tám, công tác đào tạo nguồn nhân lực làm công tác bảo quản, phục chế tại các
trƣờng Đại học của Việt Nam còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn. Do đó, khi vào
làm việc thực tế tại các bảo tàng, thƣ viện, lƣu trữ sẽ khó bắt nhịp kịp thời với thực tiễn
công việc và phải mất một thời gian làm quen, thậm chí các cơ quan phải đào tạo bổ sung
cho cán bộ mới của mình.
1.3. Chủ thể chính sách về di sản tư liệu ở Việt Nam
chính trị xã hội. Hệ thống chính trị xã hội Việt Nam là thể chế một đảng lãnh đạo duy
nhất, không tồn tại các đảng phái chính trị khác nhau, gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Toàn bộ hệ thống chính trị của Việt Nam đƣợc tổ chức
và hoạt động trên nền tảng tƣ tƣởng chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Trong hệ thống chính trị có thể chia ra các yếu tố nhỏ hơn nhƣ yếu tố văn hóa
chính trị, Hiến pháp, thể chế chính trị:
- Văn hóa chính trị là những giá trị mang tính tƣơng đồng, ổn định, phản ánh nhận
thức và các hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị. Hành vi ứng xử
của đội ngũ công chức, viên chức trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc có ảnh hƣởng quan
trọng đến chu trình chính sách quản lý các di sản tƣ liệu.
- Hiến pháp là luật gốc quy định quyền, nghĩa vụ của công dân, cơ cấu tổ chức,
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nƣớc trong đó có các cơ quan lập pháp.
20
Vì vậy, mọi chính sách đƣợc ban hành phải dựa trên Hiến pháp. Chính sách về di sản tƣ
liệu không thể có ngoại lệ để nằm ngoài quy định này.
- Thể chế chính trị tác động vào quá trình xây dựng, hoạch định chính sách quản lý
các di sản tƣ liệu. Thể chế chính trị thúc đẩy các tổ chức chính trị, doanh nghiệp và ngƣời
dân tham gia thảo luận chính sách, lập chính sách giúp chính sách đạt chất lƣợng cao hơn.
1.5.2. Các yếu tố truyền thông, kinh tế, xã hội
Bên cạnh hệ thống chính trị thì chính sách về di sản tƣ liệu ở nƣớc ta còn chịu tác
động bởi các yếu tố khác nhƣ: công luận, truyền thông, các giá trị xã hội và kinh tế.
- Vai trò của công luận và truyền thông thể hiện trong các góp ý, phản hồi của
ngƣời dân, doanh nghiệp, nhà khoa học cũng nhƣ phản ánh các hiện tƣợng xã hội ảnh
hƣởng đến chính sách về di sản tƣ liệu.
- Các giá trị xã hội có vai trò định hƣớng khi các tổ chức, các thành phần trong xã
hội tham gia vào quá trình chính sách. Các giá trị xã hội hết sức đa dạng trong các khía
cạnh của đời sống xã hội nhƣ: văn hóa, tôn giáo, nghề nghiệp, thành phần xã hội, các