Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Phần II
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
I. ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHCN
Các khái niệm và định nghĩa về KHCN:
Như ta thường gặp trong tài liệu các nước nói về khoa học và công nghệ
(S&T), về nghiên cứu và triển khai (R&D), hai khái niệm này khác nhau về
qui mô và phạm vi hoạt động.
* Khái niệm về khoa học và công nghệ rất rộng, theo tổ chức UNESCO
của Liên hiệp quốc, hoạt động khoa học và công nghệ là toàn bộ hoạt động có
tính hệ thống liên quan chặt chẽ đến sự tạo ra, phát triển, phổ biến và ứng
dụng tri thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực khoa học và kỹ
thuật. Các hoạt động này bao gồm các hoạt động nghiên cứu triển khai
(R&D), giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ (STET) và các dịch vụ
khoa học và công nghệ (STS)
a. Hoạt động R&D( Research and Development) tức là những hoạt động
mang tính nghiên cứu và thử nghiệm, trong đó có nghiên cứu cơ bản, nghiên
cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai.
b. Hoạt động giáo dục và đào tạo KHCN STET (science - Tcchnology
Education and training), bao gồm giáo dục cao đẳng và giáo dục tiếp theo,
đào tạo lại những hoạt động đào tạo khác đối với cán bộ KHCN.
c. Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ STS (Science and
Technology Services) chỉ những hoạt động thông tin, tiêu bản, thống kê, biên
dịch, lập bản đồ trắc địa, thăm dò địa chất, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và
dịch vụ tư vấn...
+ Mức đầu tư bình quân/1 người dân
Xin nêu một số số liệu của các nước đầu tư cho KHCN
Các nước công nghiệp phát triển có mức đầu tư cho KHCN rất lớn và rất
ổn định. Các nước trong khu vực cũng đang phấn đấu và nhiều nước đã đạt
tỷ lệ đầu tư cao
Tên nước
Viện Khoa học năng lượng
Năm
% so với
GNP
Mức đầu tư bình quân cho 1
cán bộ R&D
(USD/người/năm
80
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Singapore
1995
2
172.000
Pháp
210.000
Anh
151.000
Đài Loan
68.000
Thái Lan
18.000
2. Mức đầu tư cho KHCN của Việt nam
Trong những năm qua Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư
cho KHCN nhưng mức đạt được còn rất khiêm tốn. Trong tình hình cân đối
ngân sách của nhà nước còn nhiều khó khăn, thì đầu tư cho KHCN cũng còn
rất thấp.
Số liệu đầu tư một số năm gần đây:
Đầu tư cho KHCN (Tỷ đồng)
Năm
Chi NSNN
(Tỷ đồng)
184
203
0,86
1993
39.063
28
300
328
0,84
1994
48.890
65
410
475
1,0
626
733
0,9
1998
76.000
118
794
912
1,2
1999
82.000
154
780
934
1,3
gồm nhiều nguồn, trong đó có nguồn từ ngân sách của Chính phủ và nguồn
ngoài ngân sách.
Thực tế trong những năm qua, nhiều tổ chức KHCN đã rất năng động,
nguồn thu từ hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ KHCN với sản xuất đã tăng lên
rõ rệt, một số viện ngân sách nhà nước trong tổng số doanh thu của viện chỉ
chiếm 30 đến 50%.
3. Các nguồn vốn đầu tư cho KHCN
Đối với các nước, nguồn vốn đầu tư cho KHCN gồm ngân sách của Chính
phủ và vốn đầu tư của các công ty, của các cơ sở sản xuất kinh doanh
thuộc mọi thành phần kinh tế. Mức đầu tư hàng năm của Chính phủ tăng
lên về số tuyệt đối nhưng lại giảm dần về tỷ trọng giữa ngân sách Chính
phủ với khu vực tư nhân. Ngân sách của Chính phủ thường chiếm 50 60%, những nước phát triển ngân sách đầu tư của Chính phủ chỉ chiếm 2030% trong tổng số.
Số liệu một số nước năm 1995 như sau:
Singapore
Ngân sách Chính phủ đầu tư chiếm 50% so với tổng số
Viện Khoa học năng lượng
82
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Hàn Quốc
19%
nước ban hành một số các chính sách và cơ chế tạo nguồn như:
Cơ chế cho phép các trường đại học, các viện nghiên cứu được tổ chức
sản xuất kinh doanh các sản phẩm là kết quả nghiên cứu của viện và trường,
các sản phẩm đơn chiếc mà sản xuất chưa sẵn sàng tiếp nhận. Từ hoạt động
đó các viện và trường có thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động nghiên cứu
và tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên.
Viện Khoa học năng lượng
83
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
- Cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa
học và đổi mới công nghệ, cho phép các doanh nghiệp lập quỹ phát triển
KHCN.
- Chế độ miễn giảm thuế đối với các sản phẩm có công nghệ mới, công
nghệ cao, miễn gỉam thuế đối với việc nhập khẩu các thiết bị vật tư cho
nghiên cứu khoa học.
- Cơ chế cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hoặc ngân sách khoa
học bù lãi suất cho các đơn vị triển khai các công trình nghiên cứu triển khai
và đổi mới công nghệ.
- Thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ tài trợ cho nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ. Thành lập quỹ nghiên cứu khoa học cơ bản.
- Cơ chế được sử dụng kinh phí của các chương trình kinh tế - xã hội để
nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả các dự án thuộc
chương trình.
- Cơ chế được sử dụng vốn của các công trình xây dựng cơ bản để
khoản kinh phí, thông thường chiếm trong khoảng 15% và gần đây lên đến
30% trong tổng đầu tư cho KHCN.
Trước hết phải thấy rằng trong một thời gian đầu, nước ta phát triển các
cơ quan khoa học theo chiều rộng. Các cơ quan nghiên cứu được tăng nhanh
trong khi cơ sở vật chất hầu như chưa có gì. Ban đầu các viện nghiên cứu còn
xây dựng bằng nhà tranh, nhà cấp 4, trang thiết bị thô sơ, nghèo nàn. Qua một
số năm tập trung giải quyết cơ sở hạ tầng mà chủ yếu là xây dựng, sửa chữa,
cải tạo phần vỏ bao che, trang thiết bị vẫn yếu kém, thiếu và lạc hậu. Ngoài
một số viện được viện trợ của các dự án quốc tế cũng được trang bị một số
thiết bị, còn lại phần mua sắm bằng kinh phí trong nước rất hạn chế. Vốn đầu
tư xây dựng cơ bản tập trung vào xây lắp, vốn sự nghiệp nghiên cứu chỉ mua
được các thiết bị lẻ, ít tiền. Các thiết bị hiện đại, đồng bộ, giá hàng tỷ đồng thì
không có nguồn vốn nào đầu tư.
Trước đây mức đầu tư cho xây dựng cơ bản còn rất thấp so với nhu cầu,
vì vậy nhiều công trình xây dựng kéo dài hàng 6 - 8 năm mới đưa vào sử
dụng. Đối với các viện nghiên cứu, nhà xưởng là quan trọng nhưng quan
trọng hơn là trang thiết bị của các phòng thí nghiệm. Đối với cán bộ khoa học
nếu không có trang thiết bị cũng giống như người nông đân không có cái cày
để cày ruộng. Bắt đầu giai đoạn 1996 -2000, Bộ KHCN&MT thống nhất với
Bộ Kế hoạch và Đầu tư dành một phần vốn XDCB để đầu tư chiều sâu cho
các viện nghiên cứu. Theo Nghị quyết Trung ương 2 và theo Quyết định số
Viện Khoa học năng lượng
85
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Viện Khoa học năng lượng
86
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
KHCN&MT quản lý. Kinh phí này cũng được cân đối qua ngân sách địa
phương.
3.2. Nguồn vốn tự có của các bộ, tỉnh/thành phố và cơ sở
Để tăng quyền chủ động của các bộ và tỉnh/thành phố và các cơ sở, cũng
như tăng thêm nguồn vốn cho hoạt động KHCN, liên Bộ KHCN&MT và Bộ
Tài chính đã ban hành một số các Văn bản như:
- Thông tư liên Bộ KHCN&MT và Bộ Tài chính số 1291/KHCN&MTTC ngày 8 tháng 10 năm 1992 hướng dẫn việc trích lập và sử dụng quỹ hỗ trợ
phát triển KHCN của các Bộ và Tỉnh/thành phố thành. Nguồn thành lập quý
chủ yếu trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của các doanh nghiệp
trực thuộc, nguồn thu hồi do hoạt động nghiên cứu khoa học và các dự án
SXTN mang lại. Tuy nhiên, qua một số năm triển khai thực hiện, chỉ một số ít
Bộ và địa phương tạo được quỹ này. Hơn nữa, do chế độ quản lý tài chính của
các doanh nghiệp đã thay đổi nhiều, chế độ tài chính doanh nghiệp hiện nay
không qui định cho doanh nghiệp trích quỹ đầu tư phát triển nộp cho quỹ của
bộ, tỉnh, do vậy nguồn thu chủ yếu của quỹ không có. Còn thu từ hoạt động
nghiên cứu đề tài và các dự án SXTN cấp bộ, tỉnh/thành phố nơi có nơi không
và không đáng kể.
Thực hiện Luật ngân sách nhà nước, các bộ không được thành lập quỹ
riêng mà các nguồn thu tập trung vào quỹ hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà
nước. Nguồn thu này lại bổ sung vào kinh phí cho hoạt động KHCN hàng
năm của bộ.
Theo Thông tư liên Bộ số 50/TTLB-BTC-BKHCN&MT ngày 15 tháng
học xã hội và nhân văn chủ yếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước cấp.
* Nguồn vốn hợp tác với nước ngoài:
Thời kỳ từ năm 1990 trở về trước ta có dược một nguồn viện trợ không
hoàn lại rất đáng kể từ các nước Liên xô cũ và các nước Đông âu. Ngoài ra
các tổ chức quốc tế như UNDP, FAO, UNIDO... cũng có những dự án viện
trợ cho phát triển khoa học công nghệ. Nguồn vốn viện trợ chủ yếu chi cho
việc đào tạo trong nước cũng như ngoài nước, cho cho các vật mẫu, các tài
liệu kỹ thuật. Ngoài ra cũng có 40 - 50 % vốn được dùng để mua sắm các
trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm.
Hiện nay nguồn viện trợ không hoàn lại theo các nghị định thư như trước
đây không còn nữa. Các dự án của UNDP viện trợ cũng chuyển mục tiêu. Các
dự án viện trợ chủ yếu cho điều tra cơ bản, cho xây dựng chính sách... Hàng
năm vẫn có các nguồn viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, nhưng so
với trước thì giảm đi nhiều.
Viện Khoa học năng lượng
88
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Nguồn vốn này được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
- Các dự án về chuyển giao công nghệ (chủ yếu là chuyên gia, đào tạo,
một phần nhỏ trang thiết bị, vật mẫu, tài liệu kỹ thuật...).
- Các dự án để điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng chính sách,
làm thử mô hình...
- Các đề tài hợp tác nghiên cứu 2 bên....
- Tổ chức các Hội nghị, Hội thảo khoa học quốc tế.
nguồn vốn ngân sách là chủ yếu. Quỹ của các bộ và tỉnh/thành phố cũng như
vốn của các doanh nghiệp còn rất ít, vốn viện trợ ít và chưa thể thống kê
dược. Vì vậy chúng ta đi sâu phân tích việc phân bổ và nội dung sử dụng
nguồn vốn đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước.
Có 2 vấn đề cần quan tâm là tăng dần mức đầu tư hàng năm và có chính
sách cơ chế sử dụng hợp lý, hiệu quả. Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý là
đầu tư vào đâu, cho những việc gì và biện pháp nào để mang lại hiệu quả cho
đồng vốn đầu tư. Đồng thời còn một vấn đề nữa là khoa học có bao cấp
không, đến mức độ nào trong tình hình chuyến sang cơ chế thị trường?
Trả lời câu hỏi này không phải dễ và đó là câu hỏi thường xuyên đặt ra
cho các nhà khoa học và các cơ quan quản lý khoa học. Các vấn đề này phải
được giải quyết bằng các chính sách, các cơ chế và các biện pháp cụ thể.
Về mặt phương pháp luận tài chính phải phục vụ cho mục tiêu chiến
lược phát triển KHCN của quốc gia và tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm
trọng điểm của từng giai đoạn cụ thể.
Trong giai đoạn vừa qua nguồn vốn ngân sách được sử dụng như sau:
II.1. Vốn xây dựng cơ bản cho KHCN
Như trên đã nêu thời gian qua vốn đầu tư xây dựng cơ bản đành chủ yếu
cho việc xây dựng cơ sở làm việc của các viện nghiên cứu triển khai, xây
dựng các cơ sở thí nghiệm và các xưởng thực nghiệm chế thử. Phần đầu tư
cho các trang thiết bị hầu như không đáng kể. Điều đó xuất phát từ tình hình
thực tế nhà xưởng của các viện nghiên cứu trước đây chủ yếu là nhà cấp bốn,
thậm chí chỉ là tranh tre, một số viện được xây dựng cũng khoảng vài ba chục
năm nên cũ nát và rất chật chội. Về nguyên tắc nếu đủ vốn thì xây dựng phải
đi kèm theo trang thiết bị, nhưng vì nhu cầu quá lớn trong khi vốn đầu tư rất
có hạn nên chỉ cân đối cho các việc thực hiện việc xây lắp. Tình hình trang
Viện Khoa học năng lượng
Vốn Sự nghiệp khoa học được cân đối qua ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương
- Ngân sách trung ương khoảng 76 - 80%
- Ngân sách địa phương khoảng 20 - 24%
Viện Khoa học năng lượng
91
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Nội dung chi của ngân sách trung ương bao gồm:
- Chi cho lương và hoạt động bộ máy của các cơ quan KHCN được sắp
xếp theo Quyết định 782/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 tháng 10
năm 1996. Số biên chế trong các cơ quan khoa học đang hưởng lương khoảng
15.000 cán bộ.
- Cho cho các chương trình KHCN và chương trình KHXH cấp nhà nước.
- Chi cho các đề tài độc lập cấp nhà nước.
- Cho cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tự nhiên.
- Các nhiệm vụ KHCN cấp bộ (các chương trình, đề tài, dự án cấp bộ,
Thông tin, hợp tác quốc tế...).
- Thông tin KHCN.
- Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.
- Các dự án về nhập các kết quả nghiên cứu.
- Tăng cường trang thiết bị cho các cơ quan KHCN.
- Chống xuống cấp, sửa chữa nhỏ các cơ quan KHCN.
- Quản lý nhà nước về môi trường.
- Hợp tác quốc tế .
đề là phải sắp xếp các cơ quan khoa học để tránh trùng lắp, không để nhiều cơ
quan có chức năng chồng chéo nhau, lực lượng tản mạn, manh muốn. Đồng
thời khi đã có một hệ thống cơ quan nghiên cứu khoa học hợp lý, chức năng
rõ ràng thì nhà nước phải trả tương xứng đáng cho lao động chất xám của các
nhà khoa học.
Theo Quyết định 782/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/1996 về
sắp xếp các cơ quan khoa học, trong đó có một số viện đưa về trực thuộc các
tổng công ty. Tiếp đó Thông tư liên Bộ số 395 qui định sẽ cắt dần quỹ lương
và hoạt động bộ máy của các viện này trong vòng 5 năm. Sau 5 năm, tức là
bắt đầu từ năm 2002 thì Nhà nước không cấp lương và chi hoạt động bộ máy
từ ngân sách Nhà nước cho các viện nghiên cứu mà tổng công ty phải giao
nhiệm vụ và đảm bảo quỹ lương. Tình hình này làm cho các viện đang rất lo
lắng vì rằng các tổng công ty và viện chưa gắn bó hữu cơ, chưa thực sự thấy
cần cho nhau trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Trong kỳ kế hoạch 1991-1995 Nhà nước đã giảm số chương trình xuống
còn 31 chương trình và kỳ kế hoạch 1996-2000 số chương trình giảm xuống
còn 18 chương trình. Số lượng đề tài trong mỗi chương trình cũng rút xuống
từ 20-25 đề tài xuống còn 12 đề tài. Điều đó chứng tỏ quyết tâm của nhà nước
thực sự tập trung có trọng điểm theo các hướng KHCN ưu tiên. Giai đoạn
trước đây, mỗi đề tài thuộc chương trình được cấp tối đa khoảng 500 - 600
Viện Khoa học năng lượng
93
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
triệu đồng thì giai đoạn này có đề tài được đầu tư đến 2,5 tỷ đồng, thông
94
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
- Chi cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng, các nhiệm vụ về ứng dụng kỹ
thuật tiến bộ.
- Các nhiệm vụ về tham mưu tư vấn cho tỉnh/thành phố về hoạt động
KHCN
- Công tác Tiêu chuẩn - Đo lường - chất lượng.
- Nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường..
- Công tác sở hữu công nghiệp.
- Tăng cường cơ sở vật chất của Sở, chi cục và các trung tâm kỹ thuật.
- Hoạt động thông tin KHCN.
- Công tác đào tạo, tập huấn, hợp tác quốc tế, thống kê tiềm lực KHCN,
thanh tra KHCN.
Nhìn vào các nội dung trên cho thấy rằng hoạt động KHCN của các địa
phương rất phong phú, nhiệm vụ nhiều nhưng kinh phí rất hạn chế. Cơ sở vật
chất của các Sở KHCN&MT, các Chi cục TCĐLCL, các trung tâm phân tích,
trung tâm môi trường rất nghèo nàn và thiếu thốn. Việc trang bị cơ sở vật chất
bằng nguồn vốn đầu tư cơ bản không có nên các Sở đành sử dụng kinh phí sự
nghiệp khoa học hàng năm để bổ sung cơ sở vật chất và cũng không được là
bao. Khi kinh phí phải dàn trải thì hiệu quả sẽ mang lại thấp. chỉ có 2 thành
phố lớn là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, ngân sách địa phương dành cho
KHCN&MT tương đối khá, mỗi năm vài chục tỷ đồng.
Tình hình thực tế thường gặp đối với các địa phương: cân đối các khoản
chi trên cơ sở các khoản phải thu, khi kế hoạch thu không đạt thì kế hoạch chi
cũng bị cắt giảm và hạng mục bị cắt giảm thường là kinh phí khoa học.
Một số địa phương được coi là cấp đủ theo kế hoạch giao nhưng lại
chính đúng đối tượng, đúng nội dung, chi tiêu đúng chế độ và có hiệu quả.
Trong công tác quản lý tài chính cho hoạt động KHCN, các Bộ chức
năng của nhà nước như Bộ KHCN&MT, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, Ban Tổ
chức cán bộ Chính phủ phải phối hợp thường xuyên và chặt chẽ theo chức
năng của từng Bộ như sau:
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường:
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong.
việc lập kế hoạch và phân bổ ngân sách đâu tư cho các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ để trình Chính phủ duyệt. Xây dựng các chính sách, biện pháp
khuyến khích, đầu tư cho KHCN từ các nguồn vốn khác nhau. Tổ chức xây
dựng các quỹ KHCN nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho KHCN.
Viện Khoa học năng lượng
96
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc lập kế hoạch xây dựng
cơ sở hạ tầng cho các cơ quan khoa học và công nghệ và áp dụng các thành
tựu KHCN vào sản xuất và đời sống.
- Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng các chế độ chi tiêu và cơ chế quản
lý tài chính cho hoạt động KHCN
Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
- Phối hợp với Bộ KHCN&MT trong việc lập kế hoạch và cân đối ngân
sách đầu tư cho khoa học và công nghệ để trình Chính phủ duyệt. Xây dựng
các chính sách, biện pháp khuyến khích đầu tư cho KHCN từ các nguồn vốn
khác nhau.
- Chủ trì phối hợp với Bộ KHCN&MT trong việc lập kế hoạch xây dựng
Trong thời gian qua, liên Bộ KHCN&MT và Bộ Tài chính đã ban hành
nhiều văn bản hướng dẫn công tác quản lý tài chính cho hoạt động KHCN
chung và theo từng nội dung và theo từng thời kỳ. Danh mục các văn bản đó
được đưa vào phụ lục kèm theo.
Nhìn chung các văn bản hướng dẫn về quản lý tài chính cho hoạt động
KHCN&MT đã đáp ứng được phần nào yêu cầu, tạo điều kiện cho các cơ
quan khoa học, các nhà quản lý khoa học, quản lý tài chính có căn cứ để triển
khai nhiệm vụ. Tuy nhiên, số lượng các văn bản cần thiết vẫn còn thiếu, nội
dung hướng dẫn chưa thật đầy đủ và chưa đáp ứng được tình hình thực tế.
Nhiều chế độ định mức chi tiêu còn thấp so với yêu cầu. Nhiều thủ tục qui
định còn phức tạp, gò bó đối với lĩnh vực hoạt động KHCN. Một số chính
sách, chế độ khuyến khích về thuế, về quỹ, về tín dụng chưa có hoặc cồ rồi
nhưng lại mâu thuẫn nhau. Ví dụ như thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với hoạt động KHCN còn bất hợp lý.
Về công tác quản lý tài chính cụ thể đối với các nhiệm vụ tuân theo một
qui trình gồm các nội dung như sau:
+ Lập dự toán
+ Duyệt dự toán
+ Cấp phát
+ Thanh quyết toán
+ Kiểm tra
Sau đây xin trình bày cụ thể các nội dung trên:
1. Về công tác lập dự toán:
Viện Khoa học năng lượng
98
nếu theo chất lượng bài viết thì ai là người đánh giá chất lượng? nếu theo
trang tác giả thì sẽ bất hợp lý vì nhiều trang nhưng chất lượng kém, không có
Viện Khoa học năng lượng
99
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
nội dung gì mới thì lại được nhiều tiền hơn ít trang nhưng có nhiều ý tứ mới
có giá trị. Thế nhưng hiện nay vẫn phải dùng định mức tính là trang tác giả.
Còn mỗi trang là bao nhiêu? Mức tính hiện nay trong thông tư số 49/TCKHCN đang bị các nhà khoa học phàn nàn là quá thấp nhưng cơ quan tổng
hợp nhà nước lại phải cân đối chung với các chế độ khác hiện hành.
Đối với khoa học công nghệ, nếu một nhà khoa học miệt mài nghiên
cứu và kết quả là tạo ra được một công nghệ mới thì được trả công bao nhiêu?
Hiện nay chỉ được tính trả thêm 10.000đ/1 ngày công ngoài lương.
Đối với khoa học tự nhiên, sản phẩm là bài báo dăng trên các tạp chí
trong nước và ngoài nước, trả công lao động cũng chỉ theo trang tác giả.
Tất cả các mức chi như trên đều phải có chứng từ đầy đủ. Điều đó các
cán bộ khoa học cũng thấy quá phiền phức, thủ tục rườm rà, mất nhiều thời
gian cho khâu lập chứng từ thanh toán. ý kiến chung của các nhà khoa học là
nên ký hợp đồng khoán gọn từng nội dung công việc, chứng từ quyết toán là
hợp đồng, sản phẩm và biên bản nghiệm thu hợp đồng.
Tuy nhiên ý kiến đề xuất này chưa được chấp nhận. Bộ Tài chính giải
thích rằng nếu sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp thì việc thanh
quyết toán vẫn phải theo các qui định hiện hành.
Công tác lập dự toán theo nhiệm vụ và theo đơn vị
- Đối với đơn vị: thực hiện luật ngân sách Nhà nước Bộ Tài chính đã có
Thiết bị, máy móc: ghi tên thiết bị, ký mã hiệu, nước sản xuất, số
lượng,đơn giá, thành tiền. Đồng thời tính cả công vận chuyển, lắp đặt, vận
hành. Nếu trường hợp không mua mà thuê thì ghi rõ thuê thiết bị gì đơn
giá thuê, đơn vị tính thuê theo ngày, giờ hay theo ca máy....
Đối với đơn vị sản xuất hạch toán kinh tế thì phải tính cả khấu 'hao thiết
bị.
Sửa chữa, xây dựng nhỏ: trong trường hợp phải sửa chữa nhà xưởng, điện
nước, cải tạo vườn ươm, nhà kính, chuồng trại ...phục vụ trực tiếp cho đề
tài/dự án phải lập dự toán cụ thể theo khối lượng, đơn giá hiện hành.
Chi khác:
- Công tác phí: chỉ ra được địa điểm dự kiến đến công tác, số ngày, lưu
trú tiền vé tàu xe.
- Quản lý phí của cơ sở: khoản chi này chỉl hạn chế trong mức 5-7 triệu
hàng năm cho một đề tài/dự án. Chủ nhiệm đề tài dùng kinh phí này để chi
cho những người của cơ sở chủ trì giúp chủ nhiệm triển khai công việc, hoặc
đơn vị sử dụng vào công tác. quản lý đề tài, không được trích cho đơn vị làm
công tác đời sống.
- Chi kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu
Chi cho công tác kiểm tra nội đung, tiến độ, kinh phí theo định kỳ hoặc
đột xuất. Chi nghiệm thu cấp cơ sở và nghiệm thu chính thức.
xem xét dự toán phù hợp với nội dung nhiệm vụ.
Bộ KHCN&MT duyệt dự toán cho các nhiệm vụ cấp nhà nước: chương
trình, đề tài độc lập cấp nhà nước, các dự án SXTN.
Sở KHCN&MT duyệt dự toán của các nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh do sở
quản lý
3. Công tác cấp phát
Hiện nay theo Luật ngân sách tất cả các nhiệm vụ sau khi được các cấp
có thẩm quyền phê duyệt đều bố trí vào kế hoạch của các bộ, ngành và các sở.
Viện Khoa học năng lượng
102
Tài liệ hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học
a
Bộ Tài chính, Sở Tài chính - Vật giá cấp kinh phí về cho các bộ và các sở
theo kinh phí hạn mức.
Đối với các tỉnh/thành phố hiện nay đang có 2 phương thức cấp kinh phí
tuỳ theo tình hình cụ thể của từng địa phương:
- Sở Tài chính - Vật giá cấp toàn bộ kinh phí sự nghiệp khoa học cho sở
KHCN&MT, sau đó Sở KHCN&MT cấp kinh phí cho các nhiệm vụ theo
phương thức ký hợp đồng.
- Sở Tài chính - Vật giá cấp kinh phí cho các sở, ban, ngành trên cơ sở
nhiệm vụ được giao và kinh phí được duyệt.
Thông thường kinh phí cấp theo nhiều đợt, để được cấp kinh phí đợt sau
phải có báo cáo quyết toán hoặc báo cáo tình hình sử dụng kinh phí đợt trước.
Tránh tình trạng tạm ứng thì nhanh nhưng quyết toán lại chậm hoặc không