NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
Thực trạng của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay và vấn đề
xây dựng, phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay ở
ngân hàng
Lớp
Nhóm
Khoa
: CAO HỌC 18.01 NHB
:9
: SAU ĐẠI HỌC
GVHD
: TS.TRẦN THỊ THU HƯỜNG
Hà Nội, tháng 09 năm 2016
DANH SÁCH NHÓM 9 LỚP CAO HOC 18.01.NHB
trọng đối với phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực ngân hàng nên
em đã chọn đề tài: “Thực trạng của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay và vấn
đề xây dựng, phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay ở ngân hàng” làm
đề tài cho bải thảo luận của mình
1. LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất,
kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới
tự nhiên của con người. Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò phản
ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người: trình độ thủ công của lực
lượng sản xuất là lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên thấp
hơn rất nhiều so với lực lượng sản xuất ở trình độ kỹ thuật công nghiệp và công nghệ cao.
Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với người trong
quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) .Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ
sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ
về phân phối các sản phẩm làm ra. Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng nó
hình thành và phát triển một cách khách quan ko phụ thuộc vào ý chí con người. Nếu
như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản xuất lại
là mặt xã hội của sản xuất.
1.1.2 Các bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất được cấu thành bởi hai bộ phận đó là người lao động và tư
liệu sản xuất trong đó:
Tư liệu sản xuất là những tư liệu để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao động
và đối tượng lao động. Trong đó tư liệu lao động bảo gồm công cụ lao động (máy
móc…)và đối tượng lao động khác (phương tiện vận chuyển, bảo quản, chưa đựng
công cụ lao động và sản phẩm). Còn đối tượng lao động gồm hai bộ phận là những
mạnh của con người trong quá trình lao động là yếu tố động lực của sản xuất. Cùng
với quá trình tích lũy kinh nghiệm với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ
lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Sự biến đổi công cụ lao động là
nguyên nhân suy đến cùng mọi sự biến đổi của xã hội. Các yếu tố trong lực lượng sản
xuất tác động lẫn nhau một cách khách quan làm cho lực lượng sản xuất trở thành yếu
tố hoạt động nhất, cách mạng nhất trong một phương thức sản xuất
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của quá trình sản xuất, chúng
tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng tạo thành
quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển xã hội.
Sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất quy định và làm thay đổi quan hệ
sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một Phương thức sản xuất mới ra đời , khi đó quan
hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ
sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của
lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo
địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là nó tạo điều
kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuấtvà do
đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó. Lực lượng sản xuất
quyết định quan hệ sản xuất nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và
tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quy định mục
đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động xã hội, đến tổ
chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ và do
đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển. Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “ tiên tiến” hơn một cách giả
tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Theo quy luật chung, khi đó quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng
tính chất xã hội hoá. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém
phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt tới
trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất
có tính chất xã hội hoá. Vai trò của lực lượng sản xuất đối với nền kinh tế và đời sống
xã hội được thể hiện rõ nét trong quá trình lịch sử loài người. Xuất phát từ một nền
kinh tế nhỏ bé, lạc hậu, thô sơ nhất. Đó là nền văn minh nông nghiệp thời kì chế dộ
nguyên thuỷ tiếp đó là chiễm hữu nô lệ và cao hơn chút là chế độ phong kiến. Tất cả
các hình thái kể trên đều có lực lượng sản xuất nhỏ bé tự cung tự cấp. Trình độ người
lao động và sự phát triển công cụ lao động, cũng như đối tượng lao động còn rất nhiều
hạn chế. Bởi vậy mà của cải vật chất tạo ra không nhiều do đó, nền kinh tế thời kì này
chưa có gì nổi bật. Điều đó tất yếu dẫn tới ảnh hưởng đến đời sống xã hộ của con
người. Một khi không tạo ta được một cách đầy đủ nhu cầu vật chất của con người thì
đồng nghĩa không thể có một đời sống nâng cao. Các tiền đề cơ bản đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của con người là ăn, mặc, ở, đi lại mà chưa được đáp ứng thì sẽ
chẳng có thể có những đòi hỏi khác được thoả mãn. Có lẽ vì thế nên nhiều tiêu chuẩn
để đánh giá sự phát triển toàn diện con người trong thới kì nền văn minh nông nghiệp
là rất kém. Tuổi thọ trung bình, tỉ lệ trẻ em tử vong khi sinh, trình độ giáo dục… đều ở
mức báo động. Đó là những hệ quả, tuy nhiên, khi chuyển dần sang chủ nghĩa tư bản,
lực lượng sản xuất đã có sự nhảy vọt. Tính chất xã hội hoá thay thế cho tính chất cá
nhân. lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn quan hệ sản
xuất phong kiến trước kia. Số lượng của cải vật chất mà con người làm ra bằng tất cả
các thế hệ trước kia cộng lại.
Có thể nói, chưa bao giờ lực lượng sản xuất phát triển mạnh đến thế và tạo ra
nhiều của cải vật chất đến vậy. Nhìn một cách toàn diện, con người tạo nên một nền
kinh tế phát triển thực sự, hơn hẳn các nền kinh tế trước đó. Đó là nền kinh tế hàng
hoá. lực lượng sản xuất đã làm thay đổi rất nhiều, nếu không nói là tất cả. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất mới trong lòng chế độ phong kiến đã thay thế quan hệ sản xuất
cũ bằng một quan hệ sản xuất mới. Thiết lập nên chế độ cộng hoà. Như vậy, có thể
được cải tiến càng đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn phù hợp để sử dụng
những trang thiết bị hiện đại đó. Sự sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của con người
sẽ thôi thúc sản xuất phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau...
Vai trò của yếu tố con người có vị trí quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển
của xã hội. Không phải không có lý khi các nước trên thế giới tập trung vào phát triển
nguồn lực con người. Đầu tư vào con người được xem như nguồn đầu tư mang lại hiệu
quả cao nhất. Máy móc, kỹ thuật, công nghệ hiện đại rồi sẽ đến lúc trở nên lạc hậu
nhưng nguồn lực con người nếu được bồi dưỡng sẽ trở thành nguồn tài nguyên vô tận.
Nhật Bản là nước thành công nhất trong việc đầu tư vào con người. Với nguồn tài
nguyên thiên nhiên, Nhật Bản sớm ý thức được tầm quan trọng của yếu tố con người
và tập trung mọi sức mạnh để phát triển nguồn lực này. Bằng các chính sách ưu tiên,
hỗ trợ cho người lao động đặc biệt là về đời sống tinh thần, Nhật Bản đã tận dụng
được nguồn lao động trong nước, tạo điều kiện để người lao động tiếp cận nhanh với
khoa học - kỹ thuật và nhanh chóng ứng dụng vào trong sản xuất. Thành công trong
việc đầu tư vào yếu tố con người là nhân tố hàng đầu giải thích cho sù phát triển “thần
kỳ” của Nhật Bản trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tiếp thu kinh
nghiệm đó, một loạt các nước như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ... cũng
tập trung phát triển nguồn lao động và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Thành
công vang dội của Singapore có phần nhờ chủ nghĩa nhân tài do ông Lý Quang Diệu
đề ra và thực thi, với nội dung: tài nguyên duy nhất của Singapore là con người; không
đào tạo và sử dụng nhân tài thì đất nước sẽ suy vong. Còn trong Báo cáo chính trị tại
đại hội XV Đảng Cộng Sản Trung Quốc viết: “Nhân tài là nguồn tài nguyên quan
trọng nhất trong phát triển kinh tế xã hội”. Các nước đang phát triển nói chung và Việt
Nam nói riêng hoàn toàn có thể dựa vào biện pháp phát triển nguồn tài nguyên con
người của mình để từng bước phát triển xã hội.
Ta đã biết vai trò to lớn của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế như Thái Lan
nhờ có lực lượng sản xuất phát triển đã giúp cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Trước những năm 1945 nền kinh tế Thái Lan là nền nông nghiệp lạc hậu, độc
không ngừng phát triển mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, kìm hãm nó, tất
yếu phải thay thế quan hệ sản xuất lỗi thời bằng một quan hệ sản xuất mới tiên tiến
hơn. C.Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ “Từ chỗ là những hình thức phát triển của các
lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng
sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” C.Mác và Ph.Ăngghen:
Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993. Dưới chủ nghĩa tư bản, nhất là từ khi
máy hơi nước ra đời, lực lượng sản xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư
liệu xã hội. C.Mác đã viết: “Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động đạt
đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng
nữa... nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu
của một quá trình tự nhiên”. Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự biến đổi
quan hệ sản xuất, do đó mà phương thức sản xuất mới ra đời. Phương thức sản xuất
mới nhất định tiến bộ hơn phương thức sản xuất trước đó. Phương thức sản xuất là sự
thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương
ứng. Trình độ phát triển của một xã hội thể hiện ở chính phương thức sản xuất của xã
hội hay cụ thể là ở lực lượng sản xuất tồn tại trong xã hội đó. Các Mác đã chứng minh:
“ Cái rìu đá cho ta xã hội công xã nguyên thủy. Cái cối xay gió cho ta xã hội phong
kiến. Cái máy hơi nước cho ta xã hội tư bản”.
Trong quá trình đấu tranh cho sự phát triển xã hội, Lênin đã nói: “Suy cho cùng
phương thức sản xuất này thắng phương thức sản xuất kia chính là ở chỗ tạo ra năng
suất lao động xã hội cao hơn”.
Qua việc nghiên cứu trên thấy được vai trò quan trọng của lực lượng sản xuất.
Nó là động lực thôi thúc nền kinh tế phát triển không ngừng.
Nhờ nghiên cứu lực lượng sản xuất ta có thể hiểu và áp dụng nó một cách sáng
tạo, khoa học vào trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước vững bước trên con
đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
lượng sản xuất vẫn phát triển đáng kể; “đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối
lớn và hàng nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có một số cơ sở quan trọng về điện,
dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, đường, thủy lợi, giao thông…”(4). Xây dựng các công
trình thủy điện Hòa Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, các nhà máy xi măng Bỉm Sơn,
Hoàng Thạch, cầu lớn Thăng Long, Chương Dương, công trình thủy lợi Dầu Tiếng, Kẻ
Gỗ, kênh Hồng Ngự thật sự có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội.
Với nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên Việt Nam đã lâm vào khủng
hoảng từ năm 1979. Một trong những nguyên nhân đó là nóng vội, duy ý chí trong cải
tạo Xã hội chủ nghĩa và quan hệ sản xuất mới bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, nhất
là về cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý. Quan hệ sản xuất đã làm cho nền kinh tế trì trệ,
kém phát triển và cũng không thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đại hội
VI của Đảng (12-1986) cho rằng: “Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị
kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản
xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Tình hình thực tế của nước ta đòi hỏi phải coi trọng những hình
thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn”(5).
Nhận thức đúng đắn đó là cơ sở để quyết định đường lối đổi mới, lấy đổi mới kinh tế
là trung tâm. Đổi mới cơ cấu kinh tế với chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế
gắn với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; đổi mới cơ chế quản lý và chế độ
phân phối, xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển
sang hạch toán kinh doanh, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Quan hệ sản xuất
đã được nhận thức và chuyển đổi phù hợp.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán đường
lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ
lực lượng sản xuất. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7-1994) nêu rõ:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
Hội nghị Trung ương 3 khóa IX (9-2001) ban hành nghị quyết Về tiếp tục sắp
xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết
Trung ương 5 khóa IX (2-2002) Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể và Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển kinh tế tư nhân. Những quan điểm cơ bản đó được thể chế hóa trong sự
bổ sung, phát triển Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã.
Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy phát
triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Gần 30 năm đổi mới, nhiều công trình lớn của
đất nước được xây dựng và đi vào hoạt động. Đó là nhà máy thủy điện Yaly, Sơn La,
Tuyên Quang cùng với Hòa Bình, Trị An trước đó, hệ thống tải điện Bắc Nam, cùng
với các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, nhiệt điện đã là thành tựu lớn của điện khí hóa
toàn quốc. Công nghiệp dầu khí với khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất, khí điện đạm
Phú Mỹ, Cà Mau. Hiện đại hóa ngành khai thác than và khoáng sản. Tiếp tục phát triển
công nghiệp gang thép, cơ khí. Phát triển công nghệ thông tin và viễn thông. Nâng cấp
hệ thống đường giao thông. Xây mới các cầu hiện đại: Mỹ Thuận, Cần Thơ, các cầu ở
Đà Nẵng, cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy ở Hà Nội và nhiều cầu hiện đại khác. Hiện đại hóa
các sân bay, cảng biển. Phát triển hàng trăm khu công nghiệp và chế xuất, hình thành
những trung tâm công nghiệp, khu vực kinh tế trọng điểm của đất nước.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Dân số: Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ
7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Dân số phân bố không đều và có sự
khác biệt lớn theo vùng. Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn
(khoảng 68 % - năm 2013). Trình độ học vấn của dân cư ở mức khá; tuổi thọ trung
bình tăng khá nhanh (năm 2013 đạt 73,1 tuổi).
Lao động: Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 52.207.000 người; hàng
thu hút và phát huy hiệu quả lao động cao ở một số ngành, lĩnh vực như bưu chính
viễn thông, công nghệ thông tin, sản xuất ô tô, xe máy, đóng tàu, công nghiệp năng
lượng, y tế, giáo dục,… và xuất khẩu lao động. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày
càng tăng về số lượng và cải thiện về kiến thức, kỹ năng kinh doanh, từng bước tiếp
cận trình độ quốc tế.
Có thể khái quát một số hạn chế chủ yếu của nguồn nhân lực nước ta như:
Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng,
miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của
xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội.
Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu so với
nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất là để tham
gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá
trị đó.
Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên
môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực
hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp; vẫn cần có thời
gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụng hiệu quả.
Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ
là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn rất hạn chế. Trong môi trường
làm việc có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hoá thế giới luôn là điểm yếu
của lao động Việt Nam.
Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức
văn hoá công nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa
cao.
Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Mặt
khác, đáng lo ngại là năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn so
với các nước đang phát triển trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xia.
2.2.2 Nguyên nhân
nghề nghiệp, đào tạo nhân lực của hệ thống pháp luật Việt Nam so với pháp luật của
các nước; mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo, nội dung, chương trình và phương
pháp đào tạo nhân lực chưa tương thích và chưa phù hợp với các tiêu chuẩn phổ biến
của các nước trong khu vực và thế giới; chưa thu hút được nhiều các nguồn lực quốc
tế cho phát triển nhân lực. Việc tổ chức, đánh giá chất lượng dạy và học ngoại ngữ, bồi
dưỡng một số hiểu biết, kỹ năng cần thiết để hội nhập quốc tế chưa đáp ứng yêu cầu.
Môi trường pháp lý, điều kiện làm việc, cơ chế chính sách chưa bảo đảm cho trao đổi
nhân lực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa Việt Nam và các nước được
thực hiện thuận lợi, chưa phát huy hết tiềm năng của khả năng hợp tác quốc tế này
phục vụ phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
2.3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIAI ĐOẠN 2015-2020
Phát triển lực lượng sản xuất là yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội. Vì vậy các biện pháp phát triển lực lượng sản xuất có vai trò then chốt trong
hệ thống các biện pháp phát triển kinh tế xã hội
2.3.1 Chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
Xây dựng, thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân
lực Việt Nam phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông
lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà Việt Nam tham gia, ký kết, cam kết thực
hiện.
Thiết lập khung trình độ quốc gia phù hợp với khu vực và thế giới. Xây dựng nội
dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo định hướng phù hợp
chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào
tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo của Việt Nam và quốc tế; thực hiên
công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt
Nam và của thế giới; thỏa thuận về việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa
Việt Nam với các nước.
Tham gia kiểm định quốc tế chương trình đào tạo. Thực hiện đánh giá và quản lý
chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết, trao đổi về giáo dục và đào tạo đại học,
khuyến khích mọi người tự tạo, tự tìm việc làm và thu hút lao động nhằm tăng thu
nhập cho bản thân và góp phần làm giàu đất nước. Các chính sách lao động, tiền
lương, khen thưởng,… phải có tác dụng động viên tích cực lực lượng lao động cho
công cuộc phát triển đất nước. Bên cạnh việc có thể tạo động lực về mặt vật chất, cần
quan tâm đến việc tạo động lực về tinh thần như: tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân
tộc, sự say mê và lương tâm nghề nghiệp, niềm tin, quyền tư do dân chủ, tính công
bằng xã hội….
2.3.3 Bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực
Ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu để phát triển nhân lực quốc gia đến
năm 2020. Tăng đầu tư phát triển nhân lực cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng
nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước
theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo
mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở
các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượng chính
sách,…). Nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ và hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho
phát triển nhân lực từ hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp cho đối
tượng thụ hưởng và bảo đảm công bằng giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập.
Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân
lực. Nhà nước có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư
và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ
sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; Góp vốn, mua công trái,
hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực. Cần quy định trách nhiệm của doanh
nghiệp đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế, chính sách
mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triển nhân lực
nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng. Mở rộng các hình thức tín dụng
ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinh viên để học nghề, học đại
học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Đẩy mạnh và tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài (theo quan điểm phát triển toàn
diện, bao gồm kiến thức, kỹ năng, đạo đức và thẩm mỹ)
Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cải cách
mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo,
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo
kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo.
Thứ tư, đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao
chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo.
Đặc biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với
các trường sư phạm trên phạm vi cả nước. Bên cạnh đó tăng cường nguồn lực đầu tư
cho giáo dục và đào tạo, trong đó nguồn đầu tư từ ngân sách là phần chủ yếu. Tập
trung vào đầu tư phát triển cơ sở vật chất, cải tiến chương trình học, đổi mới phương
pháp giảng dạy…. Song song với việc đó là đẩy mạng hơn nữa công tác xã hội hóa
giáo dục. Thực hiện các biện pháp khắc phục triệt để những tiêu cực trong hệ thống
giáo dục đào tạo đang diễn ra rất bức xúc như: học giả bằng thật, chạy theo thành tích.
3. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG, PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG
CAO HIỆN NAY Ở NGÂN HÀNG
3.1. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÂN HÀNG HIỆN NAY
Theo báo cáo tài chính quý II -2016 và tình hình 6 tháng đầu năm 2016 mới công
bố của Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), số
nhân viên tại ngân hàng này là 2.969 người, giảm 77 người so với đầu năm. Ngân
hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) cũng có số lượng nhân sự giảm 143 người
so với cuối năm 2013. Theo SCB, số lượng cán bộ nhân viên giảm là do cơ cấu tách
nhân sự tạp vụ, tài xế để thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ
Sinh tài. Tại báo cáo tài chính riêng lẻ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội (SHB), điểm khiến giới tài chính “giật mình” là việc ngân hàng này đã quá
mạnh tay trong việc cắt giảm nhân sự. Chỉ trong 6 tháng, 666 nhân viên phải rời SHB
khiến cho tổng số nhân sự tại ngân hàng này chỉ còn 4.256 người.
Tuy nhiên, đây không phải lần đầu tiên SHB cắt giảm nhân sự lớn. Trước đó, vào
đẳng, mỗi năm có khoảng 7.000 sinh viên ra trường. Nhưng trong số này, rất ít người
được các ngân hàng tuyển dụng.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý I/2016 của Vụ Dự báo thống kê tiền tệ
Ngân hàng Nhà nước vừa qua cho thấy những tín hiệu tích cực trong lĩnh vực nhân sự
ngân hàng. Theo đó, 40% ngân hàng cho rằng họ vẫn đang thiếu người và chắc chắn
sẽ tuyển thêm trong tương lai. Phần còn lại nhận thấy nguồn nhân lực hiện tại đủ đáp
ứng nhu cầu. Tuy nhiên, hầu hết các đơn vị vẫn nhận định ngành ngân hàng sẽ phục
hồi và sẵn sàng tăng lao động để nắm bắt, đón đầu.
Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực Ngân hàng phát triển rất sôi động về
cơ cấu, số lượng, chất lượng do nhu cầu mở rộng nhanh mạng lưới kinh doanh. Sự
phát triển quá nóng của các tổ chức tín dụng dấn đến nguồn nhân lực chất lượng cao,
có đạo đức nghề nghiệp thiếu, không đáp ứng được yêu cầu, trong khi đó công tác
tuyển dụng, đào tạo lại chưa được coi trọng nên rủi ro tác nghiệp và đạo đức gia tăng.
Theo một nghiên cứu của Trường đại học Tài chính – Marketing thực hiện vào tháng
5/2015 cho thấy, có khoảng 70% nhân viên ngân hàng đáp ứng được yêu cầu công
việc, 30% còn lại cần phải tiếp tục đào tạo. Riêng đối với một số chi nhánh mới, đặc
biệt là ở các tỉnh chỉ có khoảng 50% nhân viên có thể đáp ứng được yêu cầu công
việc.
Ngoài ra, 20-30% nhân viên tín dụng chưa nắm rõ các quy trình nghiệp vụ, yếu
về kiến thức pháp lý trong hồ sơ tín dụng phân tích tài chính, quản lý và xử lý nợ; 5060% nhân viên yếu kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, bán chéo sản phẩm, tổ chức
công việc. Mặt khác đa số cản bộ quản lý trung và cao cấp ở các ngân hàng thương
mại chủ yếu được đề bạt qua hoạt động chuyên môn, thiếu kiến thức về quản lý, điều
hành một chi nhánh, một ngân hàng hiện đại, nên đôi khi chỉ một sơ xuất nhỏ trong
quản lý nhân sự cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ngân hàng.
3.2. NGUYÊN NHÂN VÀ HẠN CHẾ
3.2.1 Những hạn chế
Thứ nhất, nguồn nhân lực được đào tạo còn thiếu kỹ năng mềm: Kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng
bằng, chưa thực sự là động lực thúc đẩy người lao động hăng hái thi đua hoàn thành
nhiệm vụ.
Thứ sáu, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các trường học và các ngân hàng. Việc
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cũng nhằm mục đích cung cấp cho ngân hàng,
doanh nghiệp và xã hội. Tuy nhiên thời gian qua, chưa có sự tham gia sâu rộng của các
ngân hàng, doanh nghiệp vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành ngân hàng.
3.2.2 Những nguyên nhân
a.Nguyên nhân từ phía cơ quan quản lý vĩ mô:
Chưa xây dựng được chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ngành ngân hàng cũng
như thiếu quy hoạch cụ thể đối với việc phát triển các trường đại học đào tạo chuyên
ngành ngân hàng, các trung tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng.
b. Nguyên nhân từ phía các trường đại học: