TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DUC CHÍNH TRI
NGUYỄN THỊ PHONG THU
MỘT SÓ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN Lực ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH
QUẢNG NINH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hà Nội, 2016
NGUYỄN THỊ PHONG THU
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN Lực
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học
Th.s Trần Thị Hoa Lý
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Ths. Trần Thị Hoa Lý người đã định hướng đề tài và tận
tình hướng dẫn chỉ bảo em ừong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô ương Khoa Giáo Dục Chính Trị trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã
tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học vừa qua. Với vốn kiến thức được tiếp
thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em
vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực. Trong
thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhung do phát
huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt được thành tựu phát triển kỉnh tế - xã hội, hoàn
thành công nghiệp hoá và hiện đại hoá chỉ trong vài ba thập kỷ.
Trong các Văn kiện Đại hội Đảng làn thứ VIII, IX, X và XI Đảng Cộng sản
Việt Nam đều nhất quán quan điểm coi con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh
phúc con người là mục tiêu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi
dưỡng và phát triển nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa. Việc không ngừng
nâng cao chất lượng đời sống về vật chất và tinh thần cho người dân là mục tiêu
thường xuyên, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta, coi giáo dục và bồi dưỡng phát
triển nguồn nhân lực là động lực mạnh mẽ, quyết định tới sự phát triển phồn thịnh
của đất nước. Thực tiễn ở nước ta đã chứng tỏ rằng nguồn lực con người giữ vai
trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, cơ cấu kinh
tế nước ta đang có những bước chuyển dịch từ các ngành nông nghiệp truyền
thống sang các ngành công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại, yêu cầu nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực là rất cấp bách.
Tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua đã xây dựng nhiều chính sách họp lý
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của huyện. Song nhìn chung chất
lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, trình độ phát triển chưa đồng đều, việc
quản lí, sử dụng và phân bố nguồn nhân lực ừong các vùng, ngành chưa họp lý,
chưa tận dụng và phát huy hết được tiềm năng và lợi thế của nguồn nhân lực. Do
vậy, cùng với quá trình đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Do đó
5
tôi chọn đề tài “Một sổ giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay ” làm đề tài nghiên
diện rộng. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, nên trong khóa luận của tôi, phạm
vi nghiên cứu đề tài chỉ giới hạn trong việc xem xét một số giải pháp phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng
Ninh hiện nay. Trong luận văn này tôi mong muốn được tiếp tục nghiên cứu, phân
tích và đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Quảng Ninh ừong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất: Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở tỉnh Quảng Ninh
Thứ hai: Đề xuất phương hướng và giải pháp để đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa tỉnh Quảng Ninh
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi
- Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng
Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng
Ninh hiện nay.
5. Phưưng pháp nghiên cứu
Khóa luận lấy phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận của mình.
Ngoài việc sử dụng phương pháp chung của nghiên cứu khoa học, khóa luận chú
trọng vào phương pháp phân tích và tổng họp, phương pháp điều tra, thống kê,
7
nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người
có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là
số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất
lượng và vai trò của nó ừong phát triển kinh tế xã hội. Trong lý thuyết về tăng
trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo
tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm chí con người được coi là nguồn vốn
đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực.
Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh
tế. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hàu như chưa thống nhất.
Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về nguồn
nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau:
Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong
tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực là nói
đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở ừạng thái
tĩnh._
Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh
thần được huy động vào quá trình lao động. Khác với quan niệm trên, ở đây đã
xem xét vấn đề ở ừạng thái động.
Lại có quan niệm, khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh
trình độ chuyên môn và kỹ năng của nguồn nhân lực, ít đề cập một cách đầy đủ và
rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý - tinh thần,...
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực được hiểu: “là số dân và chất
lượng con người. Bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ năng lực
và phẩm chất” [10,tr.328].
Theo TS. Phạm Văn Đức thì nguồn nhân lực “chỉ khả năng phẩm chất của lực
lượng lao động, đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả
kinh tế, xã hội cũng như mức sống và dân trí của dân cư. Trong bối cảnh những
thảnh tựu đạt được không ngừng của khoa học, công nghệ và toàn cầu hóa diễn ra
mạnh mẽ có tác động thúc đẩy phát triển nhanh quá trình kinh tế, xã hội thì chất
lượng nguồn lực luôn có sự vận động, phát triển đi lên theo hướng tích cực và
cũng có nhiều thách thức đạt ra đối với nguồn nhân lực. Sự vận động tích cực của
nguồn nhân lực ở trình độ ngày càng cao hơn mang tính quy luật, là cơ sở để cải
biến xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, hoàn thiện
con người lao động.
1.1.2.
Kết cấu nguồn nhân lực
Nguồn lực con người là một tập họp các chỉ số phát triển mà bản thân con
người và xã hội có thể huy động vào sự phát triển tiếp theo của toàn xã hội vì lợi
ích của cá nhân và xã hội. Từ đó có thể thấy nguồn nhân lực hiện nay là tiêu chí
phản ánh về số lượng trong dân cư, cụ thể đó là:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: bao gồm những người nằm trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động.
- Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt đông kinh tế. Đây là số người có công ăn
việc làm đang hoạt động ữong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động
nhưng vì thiếu lí do khác nhau mà họ chưa có công việc ngoài xã hội.
Hiện nay quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa người ta quan tâm chủ yếu
đến:
- Lực lượng công nhân lành nghề: gồm những người có trình độ sơ cấp, trung
học trở lên, có bằng cấp, trình độ chuyên môn cao và chuyên môn nghiệp
vụ vững chắc, làm việc trong tất cả ngành nghề và lĩnh vực, trực tiếp điều
hành công cụ sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn.
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương
pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa
học- công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động cao” [2, tr.324].
Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa là một tất yếu khách quan với mọi quốc
gia, đặc biệt đối với nước đang phát triển, ừong đó có Việt Nam. Mục tiêu của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp,
có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế họp lí, quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng,
an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
1.2.2.
Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta
Tỉnh tất yểu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta diễn ra
sau năm 1975 cả nước bắt tay xây dựng chế độ mới chủ nghĩa xã hội trong cả
nước. Nhưng đây cũng là thời kì Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đứng trước
những thách thức và khó khăn lớn.
Trong khi yêu cầu của chế độ mới là phải có cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, có nền
kinh tế phát triển cao thì chúng ta do hậu quả của chiến tranh kéo dài, do cơ chế
quản lí tập trung quan liêu bao cấp bất cập và yếu kém đã làm cho nền kinh tế
không phát triển được, khủng hoảng kinh tế kéo dài, tràm ừọng, đời sống nhân
dân vô cùng cực khổ. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải tiến hành sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự nghiệp này sẽ là tiền đề, là cách thức và là
con đường để chúng ta đạt tới một nền kinh tế phát triển.
Mặt khác, chúng ta có điểm xuất phát thấp, là một nước nông nghiệp lạc hậu,
chậm phát triển, cơ sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa
phát triển, quan hệ sản xuất mới được thiết lập nên chưa hoàn thiện. Vì vậy công
nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình tất yếu khách quan để xây dựng cơ sở vật
chất kĩ thuật và hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy sự phân công lao động xã
hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng, lãnh thổ họp lí theo hướng
chuyên canh, tập trung, làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng miền trở nên thống
nhất hơn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển cao, trên cơ sở đó cũng cố và phát triển củng cố và phát triển khối liên
minh công- nông- trí thức. Đặc biệt góp phần tăng cường sức mạnh quyền lực và
hiệu quả của bộ máy quản lí kinh tế nhà nước. Ngoài ra công nghiệp hóa, hiện đại
hóa còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hóa nền quốc
phòng an ninh.
1.3. Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa
1.3.1.
Nguồn lực con ngưòi ỉà nguồn lực giữ vai trò quyết định nhất
trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội đáp ứng yêu cầu đẩy
nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nguồn lực con người có vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như toàn bộ quá trình phát triển của đất nước. Con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của các quá trình đó, đồng thời cũng là yếu
tố quyết định sự thành bại của nó. Chẳng thế mà con người được nhắc đi nhắc lại
trong các kì Hội nghị Trung ương của Đảng hay trong các văn kiện Đại hội Đảng.
“Cương lĩnh xây dựng đất nước” năm 1976 đã xác định một trong những đặc
trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: “con người được giải phóng khỏi áp
bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm
lo hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” [5,tr.9]. Trong báo cáo
chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ
động trí tuệ ngày càng gia tăng và trở thành xu thế phổ biến của nhân loại, khi
công nghiệp hóa, gắn với hiện đại hóa mà thực chất là hiện đại hóa lực lượng sản
xuất. Với cách tiếp cận là vai trò quyết định của nguồn lực con người tác động lên
tất cả các mặt, tất cả các lĩnh vực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong khi các nguồn lực khác như vốn, khoa học- công nghệ, tài nguyên thiên
nhiên... tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý
nghĩa xã hội tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt
động có ý thức của con người. Bởi lẽ con người là lực lượng quan trọng nhất, biết
tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại
với nhau và tạo thành sức mạnh tổng họp cùng tác động vào quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nguồn lực con người được coi
là yếu tố nội lực quan ừọng nhất cho sự phát triển và thành công. Suy cho cùng
con người là chủ thể thực hiện các quá trình sản xuất, lao động nhưng quá trình đó
cũng là vì con người và xã hội của con người. Cho nên con người được coi là cái
vốn quan trọng nhất, biết tự phát triển chính mình.
Đối với Việt Nam, đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì
nhân tố con người cũng được xem trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì vậy con người
là yếu tố quan trọng thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển. Cơ cấu kinh tế
đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong
những năm gần đây đều đạt khoảng 7%/năm. Thu nhập bình quân trên người cũng
càng tăng nhanh... thành tựu đó do con người tạo ra, mặt khác con người cũng là
lực lượng tiêu thụ sảm phẩm mà quá trình sản xuất tạo ra, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sử dụng rất nhiều vốn đầu tư, vì vậy
với chính sách đàu tư đang được đổi mới thông thoáng hom nên Việt Nam đang là
nới rất thu hút được sự đầu tư của nước ngoài. Thực tế cho thấy rằng, chúng ta có
sự phát triển văn hóa, giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiên đai hóa đất nước
Trên lĩnh vực văn hóa, vai trò của nguồn nhân lực cũng được nhấn mạnh hơn
bao giờ hết. Đây vừa là chủ thể thẩm mĩ, cảm thụ cái đẹp vừa là chủ thể sáng tạo
các giá trị văn hóa. Mọi thành tựu và giá trị văn hóa vật chất cũng như tinh thần
đều được tạo ra bởi con người bằng thể lực, trí lực của họ trong hoạt động thực
tiễn. Suy cho cùng sự tiến bộ và phát triển của lịch sử- xã hội là tiến bộ , phát triển
của văn hóa. Nó thể hiện qua tính chất, trình độ và các giá trị văn hóa mà mỗi thời
đai, mỗi dân tộc đạt được trong sự sáng tạo lịch sử. Hình hài diện mạo của đất
nước được phản ánh qua các giá trị văn hóa.
Hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra trong quá trình giao
lưu quốc tế mạnh mẽ, sự giao lưu về văn hóa cũng diễn ra thường xuyên hơn. Đời
sống nâng cao con người có nhu cầu thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa.
Nhưng đồng thời trong quá trình đó con người tu bổ các giá trị văn hóa để thu hút
sự quan tâm đầu tư nước ngoài, từ đó kéo theo các thành phần kinh tế và dịch vụ
phát triển. Con nghười tham gia xây dựng một nền văn hóa mới tạo ra đời sống
tinh thần cao đẹp, phong phú, đa dạng có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ.
Đồng thời qua đó tự nuôi dưỡng được tâm hồn con người Việt Nam.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiên yêu cầu là gắn giáo dụcđào tạo với sự phát triển kinh tế- xã hội, sử dụng con người mới, thực hiện phổ
cập giáo dục phù họp với yêu cầu khả năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu,
bồi dưỡng nhân tài. Con người là chủ thể của quá trình giáo dục, đồng thời cũng
là đối tượng của quá trình đó. Chính họ góp phần đổi mới giáo dục, đưa giáo dục
nước nhà từng bước tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện đại và tiến bộ.
Bằng trí tuệ của con người, mà trực tiếp nhất là nhân lực trong lĩnh vực giáo
dục, sẽ tác động và nâng cao chất lượng giáo dục. xã hội khoog có triển vọng nếu
xem nhẹ giáo dục và để cho giáo dục rơi vào tình trạng suy thoái xuống cấp. Đảng
ta cũng nhận thức được vấn đề đó và xác định quan điểm của chúng ta là coi giáo
không thể không kể đến nhân lực quản lí. Nếu như nhân lực chất lượng cao sử
dụng thành thạo các thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn thì nhân lực quản
lí lại là những người đưa ra biện pháp để nắm bắt và sự dụng thành công khoa hoc
công nghệ ấy.
Hồ Chí Minh có nói: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thả nh
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [13,240]. Đồng thời nhân lực quản
lý cũng căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân, nghe dân nói để hoạch định chiến
lược, sách lược sao cho phù họp.
Hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như toàn bộ quá trình
khác của đất nước cũng đang đứng trước rất nhiều nguy cơ trong đó có nguy cơ
chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, lúc này nhân lực quản lý càng giữ vai trò
quan họng hơn bao giờ hết.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang hướng đến nền kinh tế phát triển cao theo
định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí vĩ mô của nhà nước với mục tiêu bảo
đảm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy,
nguồn nhân lực quản lý càng được coi trọng và tăng cường đào tạo, đi sát thực tế
hơn bao giờ hết.
Chương 2: THựC TRẠNG NGUỒN NHÂN Lực TRONG sự NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH QUẢNG NINH
2.1.
Điều kiện tự nhiên, xã hội để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh
2.1.1.
triển kinh tế- xã hội, tạo cơ hội thu hút đầu tư và sử dụng một lực lượng lao động
lớn
2.1.2.
Điều kiện kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Ninh
Thực trang kỉnh tể- xã hội ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm các ngành kinh tế trên địa bàn (GRDP) từ năm
1994 năm 2014 ước tính tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng
5,8%; quý II tăng 7,9%; quý III tăng 9,6%. Đây là mức tăng cao so với mức tăng
cùng kỳ năm 2012 và 2013, cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế. Trong
mức tăng 8,8% khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 4% so với cùng kỳ năm
2013, đóng góp 0,2 điểm phàn trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2013, đóng góp 3,8 điểm phần trăm vào
tổng mức tăng chung (chủ yếu là ngành sản xuất và phân phối điện nước,...đóng
góp 2,3 điểm phàn trăm vào mức tăng chung); khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm
tăng 11% so với cùng kỳ 2013, đóng góp 4,9 điểm phần trăm vào tổng mức tăng
chung.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Trồng trọt: Năm 2014 một số diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích
sử dụng (chủ yếu là ở cây có hạt chứa dầu -197,4 ha) đã làm cho tổng diện tích
gieo trồng cây hàng năm còn 68,8 nghìn ha, giảm 116,3 ha so với chu kỳ (tương
đương giảm 0,2%).
Chăn nuôi: Đàn gia cầm trên địa bàn Tỉnh 2014 ước giảm 0,9% so với chu kỳ
và bằng 90% kế hoạch năm. Tổng đàn gia súc chủ yếu (trâu, bò, lợn) tăng 0,3% so
với chu kỳ (bò đạt 19,1 nghìn con, tăng 9,1% so với cùng kỳ; ừâu đạt 45,5 nghìn
con giảm 2,1% so với chu kỳ và bằng 97,6% kế hoạch; lợn đạt 374,9 nghìn con,
tăng 0,2% so với chu kỳ, bằng 89% kế hoạch). Sản lượng thịt lợn hoi xuất chuồng
đạt 68,4 nghìn tấn, tăng 3,9% so với chu kỳ.
những kết quả khá. Khoa học công nghệ và môi trường được quan tâm, nhiều đề
tài khoa học được ứng dụng vào thực tiễn trực tiếp phục vụ đời sống của nhân
dân. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được coi trọng và đầu tư
mạnh, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên ngày càng hoàn thiện, qui mô và chất
lượng giáo dục- đào tạo được nâng lên. Năm 2014 giáo dục Quảng Ninh chuyển
biến tích cực về chất lượng dạy và học. Tỷ lệ học sinh có học lực khá, giỏi ở các
cấp học tăng ( học lực giỏi cấp tiểu học tăng 1,12%, cấp trung học cơ sở tăng
1,03%, cấp trung học phổ thông tăng 1,74%); tỷ lệ học sinh học lực yếu, kém
giảm (cấp trung học cơ sở học lực yếu giảm 0,2%, học lực kém giảm 0,03%; cấp
trung học phổ thông học lực yếu giảm 0,81%, kém giảm 0,07%). Duy trì và giữ
vững tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học, tốt nghiệp trung học cơ sở.
Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh tiếp tục duy trì, ổn định ở mức
cao 99,51% (tăng 1,14% so với năm học 2012-2013), phản ánh sát với chất lượng
dạy và học của các cơ sở giáo dục.
Quốc phòng an ninh được củng cố; ừật tự an ninh trên tuyến biên giới, biển
đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tình hình nội bộ nhân dân tiếp tục ổn định.
Công tác phòng chống gián điệp, khủng bố, bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh thông
tin, an ninh kinh tế được tăng cường; công tác phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp tội
phạm được tập trung chỉ đạo, triển khai đồng bộ, có ừọng tâm, trọng điểm, đạt kết
quả tích cực.
2.2.
Những ưu điểm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng ninh
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
2.2.1.
về mặt số lượng
Quy mô, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của quy mô, cơ