Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số
Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
Một số trích đoạn trong bài viết này được trích từ cuốn sách "Tiếng Việt lí thú" của
tác giả Trịnh Mạnh, NXBGD phát hành. Các bài viết giới thiệu nguồn gốc và ý nghĩa
của một số thành ngữ, tục ngữ Việt Nam rất phù hợp cho các bạn học sinh đang học
trên ghế nhà trường từ Tiểu học đến THCS, THPT.
Những bài viết này còn thú vị chi cả giáo viên đang dạy môn Tiếng Việt hoặc Ngữ
văn các cấp tương ứng. Trân trọng giới thiệu.
Phần 1
Ăn như phát tấu
Tấu là loại dao to bản, có cán dài, khoảng một mét, dùng để phát bờ rào. Dùng tấu
để phát bờ rào thì nhanh, thẳng đều và có tiếng xoàn xoạt. Người nào ăn nhanh
được gán cho thành ngữ này. (Tấu còn là một loạivũ khí dùng cho kị binh xưa. Loại
này có cán dài bằng tầm cao của ngựa để vừa cưỡi ngựa vừa chiến đấu, ta gọi là
mã tấu).
Ăn như mỏ khoét
Câu này thường dùng để chê người hay ăn quà vặt, ăn luôn mồm. Nhưng mỏ khoét
là gì ? Có sách giải thích mỏ khoét (mỏ nhác) là cái mỏ khoan, khoét gỗ lem lém. Có
người lại giải thích mỏ khoét là một loại chim, chuyên tìm các trái chin như ổi, chuối
để khoét.
Ăn như hùm đổ đó
Hùm (hổ) là một giống vật rất khôn. Khi không kiếm được mồi, hùm thường mò đến
chỗ nước chảy, ở đây người dân thường dùng đó để đơm cá. Khi tìm thấy đó cá,
hùm không bắt riêng từng con để ăn mà dốc ngược đó để trút toàn bộ cá vào miệng.
Nếu người nào, không gắp từng miếng mà bưng cả bát trút vào miệng thì nhân dân
ta thường dùng thành ngữ này để ám chỉ. Hiểu rộng ra, thành ngữ này dùng để chỉ
cách ăn uống thô tục, thiếu văn hóa.
không nhặt được.
Đay là cách nói hình tượng ta thường gặp trong thành ngữ.
Ăn hết đánh đòn, ăn còn mất vợ
Đây là một câu tục ngữ lưu truyền ở miền Nam. Anh chàng thanh niên được ngồi ăn
cơm ở nhà bố mẹ vợ tương lai. Anh bị dồn vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Ăn như
thế nào mới được chọn làm chàng rể. Có người giải thích : “Ăn hết nghĩa là món ăn
nào cũng phải chạm đũa một chút để tỏ vẻ lịch sự, có ý tứ (không phải là ăn hết
nhẵn)”. Ăn còn nghĩa là khi gắp, không nên gắp ở giữa đĩa làm cho thức ăn còn lại
tóe loe ra xung quanh.
Cách ăn như vậy là “phàm phu tục tử”, không thể làm con rể được.
Câu này có nghĩa bóng là : cái cảnh đi hỏi vợ cục trăm bề, vô ý một chút là bị loại
khỏi cuộc đua. Đây là cách giải thích do anh Nguyễn Đức Dân sưu tầm, chưa dám
khẳng định vì còn có cách hiểu khác.
Ông Lê Đức Ngưỡng (Thừa Thiên - Huê) lại giải thích câu trên theo một cách khác.
Ông dựa vào câu tục ngữ ở quê mình “Ăn thì ăn cho hết, để thì để cho còn, căn
không hết, để không còn thì con không gả”
Theo phép lịch sự, không ai muốn ăn đồ thừa của người khác. Vì vậy, nên ăn hết
một vài món và để nguyên một vài món (tức là không chạm đũa vào). Như thế hiểu
là ăn thì ăn hết, phần để lại thì còn nguyên để có thể dọn cho người khác ăn được.
Không ăn hết cũng chẳng ăn còn (thừa) thì bố mẹ cô gái không thể bắt bẻ được.
Về vấn đề xem chàng rể ăn uống ra sao, chuyện xưa cũng có ghi lại mẩu chuyện lí
thú dưới đây :
Tiến sĩ Nguyễn Ân Chiêm cáo hưu, về làng, mở trường dạy học (ở làng Châu Bối,
huyện Yên Định, Thanh Hóa). Ông có ba cô gái và có ý định chấm ba chàng rể trong
số môn sinh. Hôm đó, ông mời ba chàng tới nhà ăn cơm. (Theo tục xưa, môn sinh
Trang 2
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
Phần 2
Ba voi không được bát nước xáo
Trong nhiều từ điển đều giải thíchnghĩa là “nói khoác, không đúng sự thật”, hoặc
“huênh hoang, hứa nhiều nhưng không làm đúng như lời đã hứa”.
Cơ sở cho cách hiểu trên là sự tương phản về khối lượng. Một bên là voi, một loài
thú rất lớn (thậm chí là ba voi, hoặc mười voi để tăng về khối lượng) và một bên là
bát nước xáo, một lượng rất ít. Đó là nghĩa bóng của thành ngữ này.
Không một người Việt nào hiểu sai thành ngữ trên (ví dụ hiểu thịt voi không ngon
cho nên nước xáo nhạt). Nhưng về nghĩa thực (nghĩa đen) thì ít người hiểu rõ.
Trong bài “Kể chuyện về loài voi” của Bá Thành (Tuần tin tức số 15-1993) có một
thông tin rất đáng chú ý : “Thịt voi là loại thịt săn, chắc, đặc biệt là thịt ở vòi. Khi nấu
thịt voi dù có đổ nhiều nước, thịt nở ra vẫn hút hết nước”. có lẽ nhờ tính chất hút rất
Trang 3
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
nhiều nước của thịt voi mà chúng ta hiểu rõ thêm về nghĩa đen của thành ngữ này vì
đã mấy ai được ăn thịt voi, luộc thịt voi mà biết rõ.
(Theo Hà Quang Năng)
Bán chỗ nằm, mua chỗ ngồi
Câu này cũng gần nghĩa với câu “Bán gia tài mua danh phận”. ngày trước, ở nông
thôn, người ta chuộng chỗ ngồi ở chốn đình trung khi hợp làng. Nhiều người bỏ tiền
mua một chức Nhiêu, chức Xã để có một chỗ ngồi, rồi lại phải khao vọng tốn kém.
Vì thế có người phải bán cả nhà, đất để có một danh vị hão. Chỗ nằm tức là nơi nhà
ở, chỗ ngồi tức là góc chiếu nơi đình trung.
Bạn tri âm
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Sẩy là nốt rôm nhỏ nổi trên da. Nếu không biết giữ gìn thì có thể trở thành cục to
nguy hiểm (cái ung, cái nhọt). Câu này khuyên ta đừng có coi thường việc nhỏ hoặc
để chỉ một tai nạn lớn từ việc nhỏ gây nên.
Bĩ cực thái lai
Kinh dịch có 64 quẻ, trong đó có quẻ bĩ và quẻ thái. Quẻ bĩ tượng trưng cho sự bế
tắc, không thuận lợi, quẻ thái tượng trưng cho sự thuận lợi, hanh thông. Đây cũng là
một quan điểm biện chứng, lạc quan. Khi nào sự bế tắc đến cùng cực (bĩ cực) thì sự
hanh thông, thuận lợi sẽ tới (thái lai). Câu này nói ý hết khổ đến sướng, giống như
câu “khổ tận cam lai” (khổ là đắng, cam là ngọt, hết thời cay đắng thì đến thời ngọt
bùi).
Bố vợ là vớ cọc chèo
Trong tiếng Việt hiện đại, vớ là danh từ có nghĩa là bít tất (miền Nam vẫn dùng), vớ
là động từ có nghĩa là tóm được, níu lấy. (chết đuối vớ được cọc, nạ dòng vớ được
trai tơ).
Cả hai nghĩa trên đều không khớp với câu tục ngữ này. Vớ trong câu tục ngữ là từ
cổ, hiện nay chỉ một số vùng còn dùng như ở Tam Kì (Quảng Nam). Vớ là một vật
kết bằng thừng, giống hình số 8, một nửa lồng vào mái chèo còn nửa kia lồng vào
khấc ở đầu cọc chèo. Nếu không có cái vớ thì không chèo được, nếu buộc chặt mái
chèo vào cọc chèo cũng không chèo được. Câu này có nghĩa là : tình cảm giữa bố
vợ và chàng rể dù có buộc nhưng không chặt chẽ, khăng khít như con đẻ. Ý này rất
hợp với câu thứ hai “Mẹ vợ là bèo trôi sông”.
Bèo trôi sông cũng kết thành mảng nhưng kết không chặt, sóng to gió cả cũng dễ
tan.
Từ câu tục ngữ trên nên mới có từ “bạn cọc chèo” để chỉ hai anh rể lấy hai chị em
ruột (bạn đồng hao).
Ngày trước, trên đường thiên lí có các trạm, các cung. Ở đây, các phu trạm phải
chuyển công văn từ trạm này tới trạm khác. Nếu công văn khẩn (hỏa tốc) thì người
phu trạm phải mang theo một sợi lông đuôi của con công và phải chạy thật nhanh
(về sau, thiếu lông công, phải thay bằng lông gà có buộc cục than).
Nhân dân thấy trên đường, các phu trạm chạy từ cung này đến cung kia nên có
thành ngữ này để diễn đạt ý “chạy rối rít, chạy loạn xạ”.
Chín chữ cù lao
Thành ngữ này thường dùng để chỉ công lao khó nhọc của bố mẹ. (Cù là siêng
năng, lao là khó nhọc). Chín chữ cù lao ấy là :
Sinh : đẻ, cúc : nâng đỡ, phủ : vuốt ve, súc : cho bú mớm lúc nhỏ, trưởng: nuôi cho
lớn, dục : dạy dỗ, cố : trông nom săn sóc, phục : xem tính nết mà dạy bảo cho thành
người tốt, phúc : giữ gìn.
Trong Truyện Kiều có câu :
- Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn.
- Nhớ ơn chin chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
Chân ướt chân ráo
Thành ngữ này do phong tục rước dâu ngày trước tạo nên. Khi cô dâu bước chân
về nhà chồng, mẹ chồng ra đỡ nón cho cô dâu, nhúng chân cô dâu vào một chậu
nước để rửa làm phép (trong chậu có bỏ mấy đồng tiền ngầm chúc tiền của sẽ vào
như nước). Sau đó, cô dâu phải bước qua một chậu than hồng (để trừ ma quỷ)
trước khi vào buồng.
Vì vậy, thành ngữ này có nghĩa là : thời gian chưa lâu (cô ấy mới chân ướt chân ráo
về nhà chồng).
Trang 6
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
nhẫn thì dù việc khó đến đâu cũng thành công.
Chuyện xưa kể rằng Lí Bạch thuở nhỏ hay ham chơi, ít chịu khó học hành. Một hôm,
cậu thấy một bà già đang ngồi bên tảng đá để mài một thanh sắt. Cậu hỏi thì bà trả
lời : “Mài thanh sắt để làm thành cái kim khâu cháu ạ !” Cậu hỏi : “Liệu hôm nay có
xong không hả cụ ?” Bà già trả lời : “Hôm nay không xong thì ngày mai mài tiếp.
Tháng này không xong thì tháng sau mài tiếp”.
Thấy vậy, Lí Bạch chợt hiểu ra và từ đó dốc tâm học tập. Về sau, Lí Bạch học giỏi,
trở thành một nhà thơ nổi tiếng đời Đường Trung Quốc.
Công dã tràng
Trang 7
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Dã tràng là một con vật nhỏ, giống hình con cáy, chạy rất nhanh, sống ở bãi cát ven
biển. Dã tràng thường dùng hai càng để xe cát và ăn các chất hữu cơ có trong cát.
Cát bị xe thành từng viên nhỏ như hạt đu đủ, mỗi khi có sóng biển tràn lên thì tan ra
hết. Vì vậy mọi người cho rằng dã tràng làm một việc vô ích. Ca dao có câu :
Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.
Từ đó, thành ngữ này dùng để chỉ một việc làm phí công sức mà không có ích lợi.
Cổ tích của ta cũng có chuyện Dã Tràng có viên ngọc nghe được tiếng nói của chim.
Sau viên ngọc bị Long vương lấy mất nên Dã Tràng cứ ở ven biển đào cát để tìm lại
viên ngọc.
Công như công cốc
Cốc là một loài chim mình đen như quạ, có tài lặn dưới nước để bắt cá. Nhiều người
dân chài đã thuần dưỡng cốc để kiếm cá cho chủ. Học cho Cốc đeo một chiếc vòng
Cười như nắc nẻ
Nắc nẻ là loại côn trùng hình như con bướm, ban đêm hay bay vào nơi thắp đèn,
luôn đập cánh, xè xè trên vách. Thành ngữ này ý nói cười liên tiếp không dứt. (Có
sách giải nghĩa cười giòn giã là không chính xác).
Cưỡi ngựa xem hoa
Câu này có nghĩa là qua loa, đại khái, không tìm hiểu kĩ. Sở dĩ có thành ngữ này
cũng là do câu chuyện sau : Một chàng công tử chân bị què muốn đi xem mặt vợ.
Không ngờ cô vợ tuy đẹp nhưng bị sứt môi. Người làm mối cho chàng công tử cưới
ngựa đi qua cổng và dặn cô gái đứng ở cổng, tay cầm bong ho ache miệng. Hai bên
đồng ý kết hôn. Khi cưới mới biết các tật của nhau.
Phần 4.
Da mồi tóc bạc
Thành ngữ này dùng để miêu tả những người cao tuổi. tóc bạc là tóc trăng như bạc.
Da mồi là da bị vết lốm đốm, thường có màu nâu như mai con đồi mồi. Đồi mồi
thuộc họ rùa sống ở ven biển, mai có hoa rất đẹp, dùng làm lược hoặc kẹp tóc.
Tóc quăn chải lược đồi mồi
Chải đứng chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn
(Ca dao)
Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Nông dân thường đựng thóc vào bồ. Dốc bồ là nhà hết thóc. Khi đó mới thương
những người đi đong gạo ăn hằng ngày. Câu này ý nói có cùng cảnh ngộ thì mới
thương nhau, dễ thông cảm với nhau.
Dốt đặc cán mai – Dốt có chuôi
Mai là dụng cụ dùng để đào đất. Cán mai thường làm bằng táu, một thứ gỗ rất cứng
để khi bẩy đất không bị gãy cán. Dốt đặc cán mai ý nói đầu óc bị đặc như cán mai,
không có chỗ để nhét chữ vào được.
Dốt có chuôi (dốt co đuôi) là do điển tích xưa. Một thầy đồ được mời đến cúng cho
gia chủ tên là Tròn. Thầy không biết viết chữ Tròn nên khoanh một vòng. Có kẻ tinh
nghịch sổ thêm một nét thành cái gáo. Gáo dừa thường có chuôi (cán) dùng để
trong cung trở ra, các tế viên phải bước rất nhanh theo nhịp trống dồn nhập gọi là
trống lảng (tiếng giục để lảng ra cho nhanh). Sau này, thành ngữ đánh trống lảng
được dùng với nghĩa : một người nào đó đang nghe chuyện này thì nói lảng ra
chuyện khác, hoặc lảng ra chỗ khác để tránh điều bất lợi cho mình.
Đánh trống lấp
Trong lễ tế thần, khi đọc văn tế, vì kiêng tên húy của thần nên người đọc văn chỉ đọc
lẩm nhẩm trong miệng. Tuy vậy, vẫn sợ người ngoài biết tên húy nên khi đọc đến tên
và chức tước của thần, người đánh trống còn điểm mấy tiếng trống để làm lấp tiếng
người đọc. Đánh trống lúc đó gọi là trống lấp. Ngày nay, thành ngữ này thường dùng
để chỉ việc kể lể lôi thôi nhằm lấp liếm câu chuyện chính hoặc che đậy lỗi lầm của
mình.
Đánh trống qua cửa nhà sấm
Đây là một thành ngữ bắt nguồn từ điển tích Trung Quốc với nghĩa là : người kém
tài chớ qua cửa người giỏi, gần giống thành ngữ “Đừng thi bơi với giải’ (giải là một
loài bò sát lớn thường sống ở đầm nước, bơi rất nhanh). Theo điển tích xưa, Ngô
Phù Sai đóng đô ở Cô Tô, xây thành có đặt tên cửa là Xà môn (cửa Rắn) để trấn áp
nước Việt. Người Việt làm cửa Lôi môn (cửa Sấm) để chống lại. Hễ đánh trống lớn
ở cửa Lôi môn thì cửa Xà môn lập tức mở ra để dò xem động tĩnh.
Đèo heo hút gió
Thành ngữ này dùng để chỉ nơi hoang vắng (đi vào nơi đèo heo hút gió). Sinh thời,
nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích cho tôi như sau :
Chính là “đèo Neo hút gió” bị nói chệch đi. Ngày trước, đường quốc lộ đi từ Thăng
Long lên ải Nam quan phải đi qua đèo Neo (một cái đèo ở gần thị xã Bắc Giang bây
giờ). Tiễn những người đi sứ sang Trung Quốc, bạn bè dù thân thiết cũng chỉ đi tiễn
Trang 10
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
xứng theo cách kết cấu phổ biến của thành ngữ. Tiếng Việt cổ, mông là một bãi
trống. (ở vùng nghệ tĩnh còn giữ từ này trong phương ngữ).
Đố ai gánh đá vá trời, đan gàu tát biển, ghẹo người cung trăng
Câu này có 3 thành ngữ : gánh đá vá trời, đan gàu tát biển, ghẹo người cung trăng.
3 thành ngữ này đều nói những điều không thể làm được. Không ai gánh đá vá trời
được như nhân vật Nữ Oa trong thần thoại Trung Quốc. (Thuở sơ khai), bầu trời còn
thủng lỗ chỗ, bà Nữ Oa đã luyện đá ngũ sắc vá lại bầu trời. (Trích theo sách của
Hoài Nam Tử). Nhiều như nước biển mà dùng gàu để tát thì tát sao cạn. Người
cung Trăng chỉ Hằng Nga thì sao mà ghẹo được.
Trang 11
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Các thành ngữ này khuyên ta đừng có làm điều viển vông, không tưởng. Muốn
thành công ở đời cần có óc thực tế.
Đơn thương độc mã
Thương là ngọn giáo, mã là ngựa. Thành ngữ này nghĩa gốc là một giáo một ngựa
dùng để chỉ sự đơn độc, lẻ loi trong khi chiến đấu với khó khăn nguy hiểm, không có
sự hỗ trợ của người khác.
Đơm đó ngọn tre
Đó là đồ dùng đánh cá hình thon dài, miệng có hom, cá chui vào nhưng không chui
ra được. Đơm đó phải đơm chỗ có nước chảy. Đơm đó ở ngọn tre thì làm gì có cá.
Câu này chế giễu người nào mong đợi những điều viển vông.
Đứng mũi chịu sào
Khi con thuyền vượt qua ghềnh thác, người đứng ở mũi thuyền, cầm sào chèo
chống có vai trò quan trọng và phải chịu gian khổ nguy hiểm.
nhưng vẫn một mực chung thủy với chồng. “Nắng quái chiều hôm” được hiểu là thời
người con gái đã xế chiều, nhan sắc tàn phai và khuyên chồng nên chung thủy cả
khi vợ đã luống tuổi.
2. Hiểu câu này chỉ mức độ tình yêu giữa nam và nữ một cách khách quan, không
phê phán ai cả
Hiểu tình yêu của người phụ nữ đầy đặn, mặn mà như buổi chợ đương đông còn
tình yêu của nam giới thì bồng bột, rực rỡ nhưng mau tàn như nắng quái chiều hôm.
3. Hiểu câu này theo cách phê phán
Tình yêu của người phụ nữ đậm đà bền chặt như buổi sáng lúc đương đông buổi
chợ.
Tình yêu của nam giới chỉ thoáng qua, mau tắt ngấm như buổi chiều, lúc nắng quái
chiều hôm.
Cho đến nay nhứng cách hiểu khác nhau vẫn tồn tại và chắc còn nhiều cách hiểu
khác. Chúng ta chưa có cơ sở để lựa chọn và khẳng định.
Gần nhà giàu đau răng ăn cốm
Gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn
Nhân dân ta rất coi trọng láng giếng “Bán an hem xa mua láng giềng gần”. Nhưng
hai loại láng giềng “nhà giàu” và “kẻ trộm” thì lại khổ cho láng giềng. Câu này được
hiểu là “Gần nha giàu khổ như đau răng lại nhai cốm, gần kẻ trộm khổ như đang ốm
lại phải đánh đòn”. Vì sao vậy ? Láng giềng giàu thường ít thích giao tiếp với hàng
xóm nghèo nên khi tối lửa tắt đèn ít nhờ vả được nhau. Gần kẻ trộm thì dễ mất trộm
hoặc có khi bị đòn oan. Câu này khuyên ta nên chọn láng giềng mà ở. (Cũng có
người giải thích là gần nhà giàu thì được ăn nhiều đến mức đau cả răng. Giải thích
cách này không hợp lô gích).
Già kén kẹn hom
Trong các sách thành ngữ đều giải thích : Tình duyên lỡ làng vì quá kén chọn.
Trong cuốn tục ngữ lược giải của Lê Văn Hòe giải thích như sau :
Già kén là kén kĩ quá, kén nhiều quá.
Kẹn hom là giơ xương ra, ý nói già yếu gầy guộc, giơ xương.
Câu này ý nói : kén chọn kỹ quá thì người già mất.
do câu Phong vũ thôi thi tứ (tứ thơ đẩy đến ào ạt như gió mưa).
Tay tiên gió táp mưa sa
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
(Truyện Kiều)
Gương vỡ lại lành
Thành ngữ này nói ý hàn gắn, đoàn tụ, sự thay đổi từ xấu thành tốt trong đời sống.
Điển tích xưa chép câu chuyện như sau : Từ Đức Ngôn yêu công chúa Nhạc Xương
nhưng vì loạn lạc, hai người phải xa nhau. Họ bẻ đôi chiếc gương, mỗi người giữ
một nửa. Về sau, Đức Ngôn lên kinh đô, thấy có người bán mảnh gương vỡ. Nhờ
manh mối đó, Đức ngôn đã tìm được người yêu, hai mảnh chắp lại thành gương cũ.
Bây giờ gương vỡ lại lành
Khôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.
(Truyện Kiều)
Đời ta gương vỡ lại lành
Cây khô cây lại đâm cành nở hoa.
Trang 14
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
(Tố Hữu)
Phần 6.
Học ăn, học nói, học gói, học mở
Đây là câu thành ngữ khuyên mọi người phải học cách đối xử ở đời để trở nên
người có văn hóa.
Ăn cũng phải học ăn như “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”. Đối với trẻ, khi ăn không
nên khua bát khua đũa. Nhiều trẻ khi nhai cứ nhồm nhoàm hoặc tạo ra tiếng chồm
Trang 15
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Thành ngữ này chỉ sự báo đền công ơn :
Dám nhờ cốt nhục tử sinh
Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau
(Truyện Kiều)
Đây là hai điển tích xưa của Trung Quốc.
- Ông Ngụy thù đời Tần có nhiều vợ lẽ đẹp. Theo phong tục nước Tần, hễ chồng
chết thì vợ lẽ phải chon theo chồng. Nhưng Ngụy Khảo, con trai của Ngụy Thù có
lòng nhân đạo nên không theo tục lệ đó. Sau Ngụy Khảo nên làm tướng nước Tần,
đánh nhau với nước Tấn. Bên Tấn có tướng Đỗ Hồi rất giỏi. Hôm đó, đang đánh
nhau thì ngựa của Đỗ Hồi bị vướng cỏ, Đõ Hồi ngã ngựa và bị Ngụy Khảo giết. Đêm
hôm ấy, Ngụy Khảo nằm mơ thấy bố người vợ lẽ đến tạ ơn và nói : “Tôi cám ơn ông
không chôn sống con tôi, nên tôi đã kết cỏ làm cho Đỗ Hồi ngã ngựa”.
- Dương Bá đời Hán,lúc 9 tuổi bắt được con chim sẻ bị thương. Bá chăm sóc chim
cho khỏe rồi thả ra. Sau chim đó ngậm bốn vành ngọc trắng đem đến tạ ơn.
Phần 7.
Lá lành đùm lá rách
Câu tục ngữ có hai vế đối lập lá lành, lá rách. Lá lành hàm chỉ người có đời sống
khá, sung túc. Lá rách hàm chỉ người nghèo khổ. Từ lá vàđùm cũng gợi ý về vật
chất vì trong đời sống hàng ngày người ta đùm cơm, đùm bánh, đùm xôi thường
dùng lá. Từ đùm cũng gợi ý đùm bọc, che chở, giúp đỡ. Câu thành ngữ này khuyên
ta phải cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống hàng ngày cũng như lúc hoạn
nạn. Câu này cũng nói lên đạo lý tốt đẹp của ông cha ta.
Lật đật như sa vật ống vải
Khô chân gân mặt đắt mấy cũng mua
Phành phạch quạt mo cho không ai lấy, hoặc câu : Mặt nạc, đóm dày, mo nang trôi
sấp chó cụt đuôi. (Mặt nạc là mặt lắm thịt, chứng tỏ người không khôn ngoan), và
câu :
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày.
(Béo trục béo tròn đối lập với thắt đáy lưng ong).
Một đồng một cốt
Để hành nghề mê tín dị đoan, các ông đồng bà cốt thường gọi hồn, bắt ma, làm lễ
giải hạn để kiếm tiền thiên hạ. Họ dùng nhiều mưu mẹo để lừa dối. Thành ngữ này
để chỉ bọn người chuyên dối trá lừa đảo :
Đà đao lặp sẵn chước dùng
Lạ gì một cốt một đồng xưa nay
(Truyện Kiều)
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Câu này nói lên mối tương quan giữa cá thể và cộng đồng. Để khuyên bảo về đạo lí,
ông cha ta thường mượn vật để nói người như : “gà cùng một mẹ chớ hoài đá
nhau”. “Một con ngựa đau” nói lên một cá thể bị hoạn nạn. Cả tàu bỏ cỏ nói lên sự
thông cảm chia sẻ của đồng loại, tât cả các con ngựa trong chuồng đều không ăn cỏ
vì thương cảm.
Ở đây không nói lên sự giúp đỡ mà nói về tình cảm. Hiểu rộng ra, cả tàu còn nói cả
làng, cả nước phải thương yêu đùm bọc lấy nhau ; cùng đồng cam cộng khổ, chia
ngọt xẻ bùi.
Muôn chung nghìn tứ
Trang 17
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
Thành ngữ này vốn gốc ở thành ngữ Hán “Lõa mã thức đồ”. Do đâu có thành ngữ
này ? Chuyện Xưa kể rằng : Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc. Lúc cất quân đi
là mùa Xuân, lúc trở về đã là mùa đông, băng tuyết phủ đầy nên lạc đường. Quản
trọng bèn tâu :
Trang 18
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
- Thưa bệ hạ, trí nhớ của ngựa già rất tốt. Xin để con ngựa già đi trước dẫn đường.
Quả nhiên, ngựa đã tìm được đường về.
Trước kia, thành ngữ này được hiểu theo nghĩa : người có kinh nghiệm thường rất
thành thuộc sự việc.
Ngày nay, thành ngữ này mang nghĩa xấu dùng để chỉ những người không chịu rời
bỏ thói hư tật xấu.
Nguồn đục thì dòng không trong, gốc cong thì cây không thẳng
Câu này vừa mang nghĩa đen, vừa mang nghĩa bóng. Nghĩa đen thì ai cũng hiểu.
Nguồn nước có trong thì dòng nước mới trong, gốc cây có thẳng thì cây mới vươn
thẳng lên được.
Nhưng nghĩa bóng mới là nghĩa có tác dụng giáo dục mọi người. Trong một gia
đình, bố mẹ phải làm gương tốt cho con cái. Nếu bố mẹ làm điều bậy (nguồn đục,
gốc cong) thì con sẽ bị nhiễm thói xấu. Có một câu ca dao đầy chất châm biếm :
Con ơi nghe lấy lời cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.
Bố xấu như vậy thì con cũng sẽ thành trộm cắp. Trong gia đình, bố mẹ cần sống tốt
để làm gương cho con cái.
Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò
nghèo xác không có chút của cải gì.
Thành ngữ này cũng còn một cách giải thích khác. Mùng tơi là phần trên của chiếc
áo tơi (phần dày nhất và khâu kĩ nhất). Áo tơi thường làm bằng lá cọ hoặc lá đót. Khi
áo tơi rách thì mùng tơi vẫn còn, dùng cho đến khi rớt (rơi) hết mùng tơi vẫn không
có tiền mua áo khác, chứng tỏ nghèo lắm.
Nói nhăng nói cuội
Nói nhăng nói cuội là nói vu vơ, hão huyền cũng như thành ngữ nói hươu nói vượn.
Nhăng là từ cổ có nghĩa là băng nhăng qua quýt…
Cuội là một nhân vật trong truyện kể dân gian, nổi tiếng nói dối (nói dối như cuội).
Cũng có người cho rằng thành ngữ này là “nói giăng nói cuội” (Giăng là mặt trăng,
chỉ ý xa vời, không thực tế). Dù hiểu cách nào thì nghĩa cũng giống nhau.
Nồi da nấu thịt
Những người đi săn thú muốn làm thịt ăn ngay ở giữa rừng nhưng không có nồi. Họ
thường lột da con thú căng ra làm nồi để nấu thịt con thú ấy. Câu này nói ý cùng ruột
rà máu mủ mà làm hại lấn nhau, giống câu vỏ đậu nấu đậu
Nợ như chúa chổm
Chúa Chổm chính tên là Lê Ninh. Thời nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, là hoàng tử
nhưng ông rất khéo. Tuy vậy, các quán ăn ở kinh đô, nếu được ông mở hàng thì rất
đắt khách. Vì vậy, nhiều quán mời ông ăn chịu và ghi nợ. Khi được lên làm vua, (tức
vua Lê Trang Tông) các chủ quán đến đòi nợ. Vua ra lệnh mở kho để trả nợ nhưng
trả nhiều lần chưa hết vì có kẻ đòi nợ khống. (Theo truyền thuyết, khi vua đi dạo, hễ
đi vào phố Cấm Chỉ thì không ai được theo đòi nợ nữa) (phố Cấm Chỉ ở đầu phố
Hàng Bông, gần Cửa Nam ngày nay).
Nuôi ong tay áo
Trong thực tế, không ai nuôi ong ở tay áo cả vì ong dễ đốt vào người. ong ở đấy
được dùng để chỉ kẻ xấu.
Câu này mang ý nghĩa : nuôi dưỡng giúp đỡ kẻ xấu thì kẻ xấu có khi lại phản bội lại
mình, làm hại mình.
Tuy vậy cũng không nên hiểu một chiều. Thực tế, kẻ xấu cũng cần sự giúp đỡ, giáo
dục để trở thành người tốt. Xã hội ta đã cải tạo được nhiều người xấu trở thành
thường làm khó dễ để vòi tiền. Vì vậy mới có câu thành ngữ này.
Ra môn ra khoai
Thành ngữ này có nghĩa là rành mạch, rõ ràng. Sở dĩ có thành ngữ này là vì cây
khoai môn và cây khoai sọ rất dễ bị nhầm lẫn. Khoai môn la fthuws khoai có thân và
lá dùng làm thức ăn cho lợn, củ ăn bị ngứa lưỡi, thân hình rất giống khoai sọ.
Thành ngữ này thường bị nói lầm “ra ngô ra khoai”. Cây ngô và cây khoai không thể
lầm được.
Rách như tổ đỉa
Có người tưởng tổ đỉa là tổ con đỉa. Cũng chưa ai biết con đỉa có tổ hay không. Tổ
đỉa ở thành ngữ này là cây tổ đỉa, một loại cây thường mọc ở ven bờ ao. Cây tổ đỉa
có lá như lá cây đinh lăng, trông lởm chởm và rách như xé ra từng mảnh nhỏ. Vì
vậy, ai mặc rách rưới quá, người ta thường nói “rách như tổ đỉa.”
Rối như bòng bong
Trang 21
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Nếu quan sát một người ngồi vót nan để đan rổ rá, ta thấy những xơ tre nứa mỏng
cuộn xoắn vào nhau thành một mớ, khó gỡ ra được. Đó là mớ bong bong.
Thàng ngữ ta còn có câu : rối như tơ vò, rối như canh hẹ, rối như gà mắc tóc, rối
tinh rối mù. Thành ngữ “rối như bong bong” dùng để chỉ tâm trạng hoặc sự việc khó
gỡ ra được vì không tim fthaays đầu mối.
Sáng tai họ, điếc tai cày
Thành ngữ này có nghĩa lười biếng, không chăm chỉ làm việc. Khi cày ruộng, người
đi cày hô “họ”thì trâu đứng lại ngay, vì nó được nghỉ. Nếu hô “vắt” thì phải kéo cày.
Nguyễn Khuyến, trong bài “Anh giả điếc” có câu
.
Các thành ngữ này đều dùng để chỉ những người phụ nữ hay ghen.
- Hà Đông là một địa danh Trung Quốc, tục truyền có nhiều sư tử và sư tử cái
thường bắt nạt sư tử đực. Ông Trần Quý Thường, bạn thân của Tô Đông Pha, có bà
vợ hay ghen. Tô Đông Pha liền làm bài thơ đùa bạn, trong đó có câu :
Hốt kiến Hà Đông sư tử hống
Trụ trượng lạc phủ tâm mang nhiên.
(chợt nghe tiếng sư tử Hà Đông rống lên. Đang chống gậy lòng hoảng hốt đánh rơi
cả gậy).
- Vua nước kim rất yêu hai cung nữ. Trước khi mất, vua dặn phải chôn theo hai cung
nữ đó. Hoàng hậu rất ghen, nên trước khi chôn hai cung nữ, đã đổ giấm vào quan
tài để xác và xương mau tan, không thể hầu hạ đức vua được. Lửa nồng dịch từ
Hỏa cang (nóng như hang đốt lửa) cũng để chỉ tính ghen. Từ điển Truyện Kiều của
Đào Duy Anh giải thích lửa nồng là chốn lầu xanh (sống ở nơi ngột ngạt). Truyện
Kiều có câu:
Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng.
Sửa mũ vườn đào, sủa dép vườn dưa
Khi đi qua vườn đào, dù mũ đội đầu có bị lệch cũng không nên giơ tay lên sửa mũ,
sẽ bị ghi là hái chộm đào. Khi đi qua ruộng dưa, dù dép có bị đứt quai cũng đừng cúi
xuống sửa, sẽ bị ghi là hái trộm dưa.
Câu này ý nói tình ngay lí gian, khuyên ta nên đề phòng để tránh bị ngờ oan :
Ngán thay sửa dép vườn dưa
Dẫu ngay cho chết cũng ngờ rằng oan.
(Trích Quan Âm Thị Kính – Thị Kính thấy một cái râu chồng mọc ngược, lúc chồng
đang ngủ, liền lấy dao định cắt cái râu ấy đi. Chồng bất ngờ tỉnh dậy, tưởng là vợ
cầm dao để giết mình).
Phần 10.
Tái ông mất ngựa
Cách 1: Hai vế này đối lập nhau như nhiều câu khác :
- Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
- Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Tay quai là tay chống nạnh như hình ảnh quai xanh, quai nồi, tức tay không làm việc
nên mới không có ăn, miệng đói trễ ra.
Nghĩa câu này giống câu :
Có làm thì mới có ăn,
Không dưng ai dễ mang phần đến cho.
Ở cuốn “Sách giáo viên, Tiếng việt 5, tập II” cũng giảng theo cách này.
Cách 2: Ông Nguyễn Đức Khuông (trong Tạp chí Giáo viên và nhà trường, số 13 năm 2000 cho rằng quai là từ Hán Việt.)
Hán việt từ điển của Đào Duy Anh giải nghĩa “quai là trái, hai bên không hợp nhau”.
Từ đó, hiểu tay quai là tay hai bên không đồng bộ nhịp nhàng. Tay quai là tuy vẫn
làm nhưng làm cầm chừng, làm hời hợt, vừa làm vừa chơi nên cũng dẫn đến việc
đói trễ miệng. Sở dĩ ông hiểu theo cách này có câu tục ngữ còn vế ba :
Tay làm hàm nhai
Tay quai miêng trễ
Trang 24
Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
.
Tay để miệng không.
Về cách hiểu 2, chúng tôi xin trình bày thêm để bạn đọc tham khảo. Theo ý riêng tôi,
các từ trên đều là từ thuần Việt chẳng lẽ nhân dân ta lại đưa từ quai (từ gốc Hán)
vào đây. Tôi cho rằng giải thích trong Việt – Pháp từ điển của Génnibrel là đúng:
quai: negligent, paresseux (lười nhác). Còn vế 3, nếu nhắc lại ý vế 2 cũng để nhấn
mạnh thêm mà thôi.
quan sát trực quan mà trong nhận thức của người Việt Nam, ruột ngựa được xem là
đối chứng về tính chất thẳng trái với ong.
Trang 25