NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP MÔN VẬT LÍ CỦA HỌC
SINH LỚP 12A3 - TRƯỜNG THPT SỐ 4 VĂN BÀN QUA
PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM, SAU KHI HỌC
XONG CHƯƠNG SÓNG ÁNH SÁNG
Trường THPT số 4 Văn Bàn
NCKHSPUD 2011 - 2012
TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ cũng như toàn thể xã hội đã rất quan
tâm và đầu tư cho giáo dục, xác định ‘Đầu tư cho giáo dục là sự đầu tư bền vững và hiệu
quả nhất’. Nền giáo dục nước nhà cũng đã có nhiều cố gắng trong việc tự hoàn thiện mình
bằng những giải pháp như tiến hành cải cách giáo dục (GD), đổi mới chương trình GD
toàn diện. Một trong những đổi mới quan trọng đó là đổi mới về phương pháp giảng dạy.
BGD đã xác định “Khuyến khích tự học”, phải “Áp dụng những phương pháp dạy học tích
cực để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, khắc
phục lối truyền thụ một chiều như trước đây”. Phương pháp và các kĩ thuật dạy học tích
cực thì có nhiều: kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật đắp bông tuyết,
phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp hợp đồng, ... phương pháp hay kĩ thuật mới
nào cũng có những cái hay riêng của nó mà bản thân tôi đã thử nghiệm. Vấn đề là vận
dụng ở đâu, vận dụng như thế nào và phương pháp nào thích hợp nhất với đối tượng lại là
cả một vấn đề cần bàn.
Với đặc thù vùng miền, hơn nữa trường THPT số 4 Văn Bàn là một trường được thành
lập chưa lâu, phong trào học tập của học sinh còn kém, năng lực học sinh đa phần là trung
bình yếu, việc lựa chọn phương pháp hay cách dạy như thế nào để mỗi học sinh tích cực
thì mỗi người có một cách suy nghĩ khác nhau. Vậy phương pháp dạy học nào là phù hợp
nhất với điều kiện hiện tại của trường và phối hợp tốt cùng với các phương pháp truyền
thống khác đã có từ trước, đáp ứng được các yêu cầu
mang lại hiệu quả cao nhất cho tiết học, theo hướng đổi mới ?
5,9 lớp đối chứng là 5,0 Kết quả phép kiểm chứng t-test p = 0,02 < 0,05 có ý nghĩa, có sự
khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Kết quả cho
thấy sự chênh lệch giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, không phải
do ngẫu nhiên. Điều đó chứng minh rằng, việc áp dụng phương pháp Hoạt động nhóm đã
nâng cao kết quả học tập môn vật lí của học sinh lớp 12A3 trường THPT số 4 Văn Bàn khi
học xong chương “Sóng ánh sáng” .
GIỚI THIỆU
Trong sách giáo khoa vật lý 12 chương trình cơ bản, chương Sóng ánh sáng được
đánh giá là một chương hay, có nhiều thí nghiệm hỗ trợ có sẵn hoặc khai thác được bằng
thí nghiệm ảo. Xong qua các năm giảng dạy cho thấy một số vấn đề chung như sau: Còn
nhiều học sinh khả năng tư duy kém, rỗng kiến thức từ lớp dưới. Có không ít học sinh khả
GV. Vũ Xuân Quế
3
Trường THPT số 4 Văn Bàn
NCKHSPUD 2011 - 2012
năng tính toán rất kém, kể cả việc sử dụng máy tính cầm tay. Đồng thời nhiều học sinh còn
có tư tưởng không đầu tư sâu vào môn vật lí. Với trường THPT số 4 Văn Bàn chúng tôi,
phần lớn giáo viên là trẻ, kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, việc khơi gợi hứng thú môn
học và đầu tư các phương pháp giảng dạy tích cực chưa được chú trọng nhiều.
Giải pháp thay thế:
Để khắc phục phần nào các nhược điểm trên, qua một vài năm công tác tôi rút ra:
Nên sử dụng phương pháp hoạt động nhóm là hợp lí nhất. Phương pháp này vừa đảm bảo
tính tập thể, tính hợp tác, tính tích cực và chủ động của học sinh. Tạo cho học sinh có một
* Bảng 1: Gới tính và thành phần dân tộc của hai lớp 12ª3 và 12ª4 của trường
THPT số 4 Văn Bàn.
Học sinh các nhóm
Nhóm
Tổng
số
Dân tộc
Nam
Nữ
Kinh
Tày
HMông
Dao
Thái
Giáy
12A3
38
0
0
0
Ý thức học tập của học sinh hai lớp: đa số học sinh đều ngoan, dễ tác động và điều
khiển theo ý muốn. Bên cạnh đó cả hai lớp vẫn còn nhiều học sinh năng lực tư duy hạn
chế, trầm, ít tham gia các hoạt động chung của lớp.
* Bảng 2: Kết quả học học tập kì I năm học 2011 – 2012 môn Vật lí của hai lớp
12A3 và 12A4:
Lớp
Tổng số HS HK I
Điểm trung bình môn học kì I
12A3
38
5,01
12A4
40
5,38
II. Thiết kế nghiên cứu:
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động với nhóm tương đương.
Bảng 4: Thiết kế nghiên cứu
Nhóm
Kiểm tra
Tác động
trước tác động
Kiểm tra
sau tác động
Sử dụng phương pháp hoạt động
Thực
nghiệm
nhóm tích cực và linh hoạt trong
O1
chương Sóng ánh sáng.
O3
Sử dụng phương pháp truyền
Đối chứng
O2
để đảm bảo tính khách quan. Cụ thể:
Bảng 5: Thời gian thực hiện
Thứ
Môn/Lớp
Thứ 3
Vật lí
3/01/2012
12A3
Thứ 4
Vật lí
04/01/2012
12A3
Thứ 3
Vật lí
10/01/2012
12A3
12A3
Thứ 3
Vật lí
7/02/2012
12A3
Thứ 4
Vật lí
8/02/2012
12A3
Tiết
Tên bài
PPCT
41
Tán sắc ánh sáng
42
Giao thoa ánh sáng
Kiểm tra trước tác động: Dùng điểm tổng kết HK I năm học 2011 – 2012 làm cơ sở
so sánh trước tác động.
GV. Vũ Xuân Quế
7
NCKHSPUD 2011 - 2012
Trường THPT số 4 Văn Bàn
Kiểm tra sau tác động: Bài kiểm tra được thiết kế gồm 30 câu hỏi câu trắc nghiệm
khách quan.
*Tiến trình kiểm tra:
Ra đề kiểm tra: Ra đề kiểm tra và đáp án sau đó lấy ý kiến đóng góp của giáo viên
trong nhóm Vật lí để bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp.
Tổ chức kiểm tra hai lớp cùng một thời điểm, cùng đề.
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
I. Phân tích dữ liệu
Bảng 6: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Thực nghiệm
Đối chứng
Điểm trung bình
5,9
4 Xuân Quế
3
8
NCKHSPUD 2011 - 2012
Trường THPT số 4 Văn Bàn
Sau tác
động
12A3
12A4
Biểu đồ so sánh điểm trung bình kiểm tra trước và sau tác động.
Tổng hợp phần trăm kết quả theo thang bậc: Kém, yếu, TB, khá, giỏi kết quả của
lớp thực nghiệm 12A3 và đối chứng 12A4:
Bảng 7: Thang bậc điểm trước và sau tác động ( Khảo sát cùng số lượng HS ).
Lớp
Trước TĐ
12A3
Sau TĐ
Trước TĐ
12A4
Sau TĐ
50%
7.9%
13
7
34.2%
13.4%
15
4
39.6%
10.5%
Giỏi
1
5,2%
7
18.5%
1
5,2%
2
5.2%
Tổng
38
100%
38
100%
38
100%
38
100%
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =
5,9 5,0
0,56
1,6
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,56 cho thấy
sau tác động kết quả học tập môn vật lý của học sinh lớp 12A3 trường THPT số 4 Văn
Bàn tăng khi học xong chương “Sóng ánh sáng” là khả quan.
Giả thuyết của đề tài đã được kiểm chứng !
II. Bàn luận
Kết quả kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là điểm trung bình là: 5,9, kết
quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng điểm trung bình là: 5,0 đã có sự khác biệt
rất rõ về tác động của phương pháp đến kết quả học tập ; Tỉ lệ học sinh có điểm số từ trung
bình trở lên đã tăng rõ rệt ở lớp thực nghiệm. Điều đó cho thấy điểm giữa nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có tỉ lệ điểm trên
trung bình và điểm trung bình cộng cao hơn lớp đối chứng.
GV. Vũ Xuân Quế
10