TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Tài nguyên đất & Môi trường nông nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Các giải pháp phát triển nhà ở trên địa bàn thành phố huế đến năm
2020
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Mạnh Cường
Lớp
: QLTTBĐS 45
Thời gian thực tập
:Từ 05/01/2015 – 08/05/2015
Địa điểm thực tập
:Sở Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Trần Trọng Tấn
Bộ môn
STT
Kí tự viết tắt
Giải thích
1
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2
CN - TTCN
Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Đất đai tham gia vào hoạt động
của đời sống kinh tế xã hội, nó là nguồn vốn, nguồn lực quan trọng của đất
nước, không những vậy đất còn mang những đặc tính vốn có như cố định về vị
trí, giới hạn về không gian, vô hạn về thời gian sử dụng đất. Vì vậy, đất đai là tài
nguyên luôn được chú trọng.
Nếu sử dụng đất một cách đúng đắn và quản lý tốt thì sẽ đáp ứng đầy đủ
nhu cầu của chúng ta, ngược lại nếu quản lý yếu kém thì rừng sẽ nhanh chóng
đất góp phần cho việc quản lý sử dụng quỹ đất này được hoàn thiện hơn.
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hương Sơn,
những thuận lợi và khó khăn của huyện.
- Nắm được quỹ đất và hiện trạng sử dụng đất đặc biệt là quỹ đất lâm
nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện.
- Thu thập các tài liệu, số liệu đầy đủ, đảm bảo độ tin cậy cao.
- Xây dựng được số liệu báo cáo một cách chính xác và hiệu quả.
- Nắm được các văn bản, chính sách, nghị định, quyết định, công văn có
liên quan đến công tác giao đất.
- Kết quả nghiên cứu phải phản ánh một cách trung thực, khách quan và
đầy đủ về chính sách giao đất của huyện.
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm đất đai, tính chất và đặc điểm của đất đai
2.1.1.1. Khái niệm đất đai
Theo Đôcutraiep thì: “Đất là vật thể tự nhiên được hình thành do tác động
tổng hợp của năm yếu tố: sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian, đối với
trồng trọt thì có thêm yếu tố con người.”
Đất là lớp ngoài cùng của vỏ trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để
nuôi sống con người, mọi hoạt động của con người gắn liền với lớp bề mặt đó theo
thời gian và không gian nhất định.
Đất lâm nghiệp: là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu
chuẩn rừng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị chặt phá, khai thác,
có cơ sở khoa học. Đối với nước ta mà nói, diện tích đất bình quân trên đầu người
vào loại thấp so với các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, ở Việt Nam vấn đề quản lý và
sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững lại càng đặc biệt quan trọng, quyết
định tới sự phát triển của cả đất nước.
- Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng không thể thiếu của môi trường sống và là địa
bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai
được sử dụng cho các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Việc mở rộng
các khu công nghiệp, các khu chế xuất, các đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát
triển các loại hình nông nghiệp,… đều phải sử dụng đất đai. Để đảm bảo cân đối
trong việc phân bổ đất đai cho các ngành, các lĩnh vực, tránh sự chồng chéo và lãng
phí, cần coi trọng công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai và cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong công tác lập quy hoạch và kế hoạch sử
dụng đất đai.
Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, sinh học, hoá học và vật lý trong đất
cũng không đồng nhất. Đất đai được phân bố trên diện rộng và cố định ở từng nơi
cụ thể. Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí
hậu, cây trồng,…) và các điều kiện khác như kinh tế, kết cấu hạ tầng, công nghiệp
trên các vùng và các khu vực nên đặc điểm và tính chất đất mang những nét riêng
biệt. Vì vậy, việc sử dụng đất đai vào mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kĩ
lưỡng tính chất của đất cho phù hợp. Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng đất
đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và chất lượng đất của từng vùng để
mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Để đẩy mạnh việc sản xuất hàng hoá
trong nông nghiệp, nhà nước đã đưa ra những chính sách đầu tư, thuế, … cho phù
hợp với điều kiện đất đai của từng vùng trong cả nước.
- Trong nông nghiệp, nếu sử dụng đất đai một cách hợp lý thì sức sản xuất của
nó tăng lên đáng kể. Sức sản xuất của đất đai tăng lên kéo theo sự phát triển của lực
lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kĩ thuật, với việc thực hiện phương thức canh
tác hợp lý. Sức sản xuất của đất đai thể hiện tập trung qua độ phì của đất. vì vậy
cần phải sử dụng các biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng đất cũng như độ
chính từ cơ sở đến trung ương.
2.1.4.4. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
- Đảm bảo toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý riêng
từng vùng.
5
- Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
- Số liệu phải đảm bảo cả số lượng và chất lượng, loại, hạng phục vụ cho
mục đích sử dụng của loại đó.
- Phải thể hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất trong toàn quốc. Những
quy định, biểu mẫu phải được thống nhất trong cả nước, trong ngành địa chính.
- Tài liệu trong quản lý đất phải đơn giản phổ thong trong cả nước, đảm
bảo tính pháp luật, phải đầy đủ đứng thực tế.
- Phản ánh được những điều kiện riêng biệt của từng địa phương. Những
điều kiện riêng lẻ phải được tổng hợp ở phần phụ lục để nhà nước đầu tư cái
chung và cái riêng mỗi vùng.
- Quản lý đất phải khách quan, chính xác, đúng kết quả và số liệu từ thực tế.
- Quản lý Nhà nước về đất đai phải trên cơ sở pháp luật, luật đất đai và các
văn bản, biểu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên
môn từ Trung ương đến cơ sở.
- Phải tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao [9].
2.1.5. Phương pháp quản lý đất đai
Phương pháp quản lý Nhà nước về đất đai là tổng thể những cách thức
tác động có chỉ định của nhà nước lên hệ thống đất đai và chủ sử dụng đất nhằm
đạt được mục tiêu đề ra trong những điều kiện cụ thể không gian và thời gian
nhất định. Các phương pháp quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước
về đất đai nói riêng có vai trò rất quan trọng trong hệ thống quản lý. Nó thể hiện
cụ thể mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước với đối tượng và khách thể quản lý.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định
của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai.
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
2.1.7. Khái niệm giao đất
Theo khoản 1 điều 4 luật đất đai 2003 quy định: “Nhà nước giao đất là việc
Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có
nhu cầu sử dụng đất”.
- Mục đích của việc giao đất
+ Đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích có hiệu
quả. Giao đất là một nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, công nhận quyền sử
dụng đất của người được công nhận. Người sử dụng đất sử dụng đúng mục đích
7
ghi trong hồ sơ xin giao đất. Tính hợp pháp của quyền sử dụng đất tạo điều kiện
cho chủ sử dụng đất yên tâm đầu tư vốn, công sức nhằm khai thác tốt tiềm năng
đất đai, cải tạo bối bổ đất đai, phát triển sản xuất, thực sự coi đất đai như là tài
sản của mình, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
+ Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ
pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luật.
+ Làm cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: Chuyển đổi.
chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng
đất theo đúng pháp luật phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai
trong thực tiễn cuộc sống [10].
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình chung về quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp của một số
vệ tài nguyên rừng. Đầu năm 1980 Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề
bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực
hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ TW đến cấp tỉnh, huyện, tiến
hành cấp chứng nhận quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng là những tập
thể và tư nhân. Luật Lâm nghiệp đã xác lập các quyền của người sử dụng đất
(chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được
phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng.
Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay
của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử lý theo hợp đồng.
Bên cạnh đó quá trình quy hoạch đất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi bảo vệ nguồn
nước, phát triển công nghiệp, dân số và giao thông nhằm sử dụng đất có hiệu
quả ở miền núi được Chính phủ Trung Quốc quan tâm. Trung Quốc từng bước
đưa sản xuất nông, lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng
kinh tế, loại bỏ nghèo nàn. Bắt đầu từ năm 1987, Nhà nước đã thực hiện chương
trình giúp đỡ nhân dân thoát khỏi nghèo nàn trong những huyện nghèo, có thu
nhập bình quân đầu người dưới 200 nhân dân tệ. Các huyện nghèo ở miền núi là
đối tượng quan trọng thích hợp để phát triển lâm nghiệp. Trung Quốc đã thực
hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp
GCNQSDĐ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Từ đó các trại rừng kinh
doanh hình thành bước đầu đã có hiệu quả. Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi
như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ các mặt như:
- Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án
chống cát bay.
- Mỗi năm Chính phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai
khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo.
- Quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông,
lâm nghiệp [8].
2.1.1.2. Chính sách đất đai ở Thái Lan
Tại Thái Lan Luật ruộng đất được ban hành năm 1954 đã thúc đẩy mạnh
mẽ chính sách kinh tế xã hội của đất nước. Luật ruộng đất đã công nhận toàn bộ
hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư
sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0,8 ha đến 8
ha [8].
2.1.1.2 Chính sách đất đai ở Inđônêxia
Nhà nước Inđônêxia quy định mỗi hộ nông dân ở gần rừng được nhận
khoán 2.500 m2 đất để trồng cây, hai năm đầu được phép trồng lúa cạn, hoa màu
trên diện tích đó và được quyền hưởng toàn bộ sản phẩm, không phải nộp thuế.
Quá trình sản xuất của nông dân được Công ty Lâm nghiệp hỗ trợ giống, phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật dưới hình thức cho vay. Sau khi thu hoạch người
nông dân phải hoàn trả lại giống đã vay, còn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
10
chỉ phải trả 70%, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó. Bên cạnh đó,
thông qua các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm Nhà nước còn tổ chức hướng
dẫn kỹ thuật, tập huấn làm nghề cho người dân, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng
tại nơi họ sinh sống. Từ đó, việc quản lý rừng và đất rừng ở Inđônêxia bước đầu
đã thu được những kết quả đáng kể [8].
2.2.2. Tình hình chung về quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp ở nước ta qua
các thời kỳ
2.2.1.1. Giai đoạn 1945 - 1954
Do hoàn cảnh còn kháng chiến nên cuộc cải cách ruộng đất chưa thể triển
khai rộng khắp; cho đến trước khi hòa bình lập lại (tháng7/1954) mới bắt đầu
đợt 1 cải cách ruộng đất trong các vùng tự do ở 53 xã thuộc các tỉnh Thái
Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa... Thành quả bước đầu đã tác động tích cực đến
tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ ngoài mặt trận và đời sống nông dân ở
những nơi tiến hành cải cách ruộng đất được cải thiện một bước. Về cơ bản trên
toàn miền Bắc sau cải cách ruộng đất, chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân và
phong kiến đã chuyển thành chế độ sở hữu ruộng đất cá thể của nông dân [8]
2.2.1.2. Giai đoạn 1954 - 1975
định: “do những hạn chế về cơ chế quản lý cũ, thế mạnh của miền núi không
được phát huy, tài nguyên đồi rừng ngày càng cạn kiệt, đời sống của nông dân
vẫn nghèo nàn và lạc hậu...” Trung ương chủ trương thực hiện việc giao đất,
giao rừng đến hộ nông dân, gắn quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích vật chất để
khuyến khích nông dân trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc; nông dân được
quyền thừa kế tài sản trên đất trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày... đối với
vùng núi cao không nhất thiết tổ chức Hợp tác xã mà phát triển kinh tế hộ gia
đình và thiết lập quan hệ Nhà nước - nông dân theo đơn vị bản, buôn [8].
2.2.1.4. Giai đoạn 1986 – 1994
- Ở Trung ương
Thời kì đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI ănm 1986, thay đổi hệ thống kế hoạch hóa tập trung thành kinh tế thị trường
nhiều thành phần do nhà nước lãnh đạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ
đó, chính sách đổi mới dần được diều chỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế quá trình
đổi mới bắt đầu sơm hơn nhiều. Năm 1981, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã
ra chỉ thị 100/CT-TW mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động mà
thực chất là khoán đến hộ gia đình sản xuất nông nghiệp. Tiếp theo chỉ thị
100/CT-TW, để tăng vai trò kinh tế của hộ gia đình nông dân, Bộ chính trị đã đề
ra nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với nội dung cơ bản là
giải phóng triệt để sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng lao động, đất
đai, lấy hộ gia đình làm kinh tế tự chủ. Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các
luật và các chính sách về lâm nghiệp:
Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành năm 1991 đã đưa ra khuôn
khổ ban đầu về các chính sách liên quan đến các vấn đề giao đất lâm nghiệp cho
các đối tượng để sử dụng lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp.
12
Các quyết định, nghị định liên quan giao khoán đất cho tổ chức, hộ gia đình
cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp (Quyết định số 202 TTg năm
đất (nhiều trường hợp có số lâm bạ) hoặc hợp đồng bảo vệ [1].
13
2.2.1.5. Giai đoạn từ 1993 - 2003
Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 14/7/1993.
đây là một bộ Luật quan trọng thể hiện chủ trương chính sách lớn của đảng và
Nhà nước ta về đất đai cụ thể hoá điều 17 và 18 Hiến pháp 1992 Nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh đó, Luật đất đai năm 1993 trong quá trình
thực hiện vẫn còn bộc lộ một số bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
của xã hội [4].
Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 đề cập
nhiều vấn đề đổi mới khác như Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về
việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử
dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Những quy định về giao đất lâm nghiệp
- Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Những quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ
chức, hô gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
được thể hiện ở điều 18 Hiến pháp 1992, điều 1, điều 20 Luật đất đai năm 1993,
các điều 2, 28, 33, 36 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, Luật đất đai năm
1993 và Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001. Nghị định 02/CP ngày
15/01/1994, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ và
một số văn bản dưới luật có liên quan khác, đã được thể hiện bằng các quy định
cụ thể về: Quỹ đất được giao, căn cứ quyết định giao, thời hạn giao và hạn mức
được giao.
- Đối tượng giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài
+ Các tổ chức như Ban quản lý các khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc
dụng, các doanh nghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, các trạm trại, xí
người sử dụng vẫn có nhu cầu và sử dụng đất đúng mục đích thì Nhà nước giao tiếp.
+ Kết quả của chính sách giao đất lâm nghiệp đã có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến việc sử dụng đất và đời sống kinh tế: Nhờ có chính sách giao đất lâm nghiệp
dẫn đến việc sử dụng đất hợp lý hơn và mức độ thâm canh cao hơn. Từng hộ đã
chủ động sản xuất và có hộ đã biết cách làm giàu thông qua việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng. Từ làm rẫy thuần tuý sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
và phát triển chăn nuôi tạo ra những mô hình điển trong sản xuất nông nghiệp.
+ Chính sách giao đất lâm nghiệp cũng tác động đến xã hội và môi
trường: Việc giao đất đã làm cho mảnh đất có chủ thực sự, người dân có ý thức
hơn trong việc bảo vệ rừng được giao, có thêm thu nhập. Công tác khoanh nuôi,
+ Chính sách giao đất lâm nghiệp cũng tác động đến xã hội và môi trường: Việc
giao đất đã làm cho mảnh đất có chủ thực sự, người dân có ý thức hơn trong
việc bảo vệ rừng được giao, có thêm thu nhập. Công tác khoanh nuôi, bảo vệ
rừng và màu xanh rừng ngày càng nhiều hơn, giữ được rừng, bảo vệ nguồn
15
nước. Tình trạng di dân tự do được hạn chế đáng kể, người sử dụng đất đã có
quỹ đất để xây dựng kế hoạch luân canh cây trồng [7].
Những quy định về giao đất lâm nghiệp
Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp. Những quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ
chức, hô gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
được thể hiện ở Điều 18 Hiến pháp 1992, Điều 1, Điều 20 Luật đất đai năm
1993, các Điều 2, 28, 33, 36 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, Luật đất
đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001. Nghị định 02/CP ngày
15/01/1994, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ và
một số văn bản dưới luật có liên quan khác, đã được thể hiện bằng các quy định
cụ thể về: Quỹ đất được giao, căn cứ quyết định giao, thời hạn giao và hạn mức
hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp quản lý sử dụng hợp pháp, do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đã giao trong những năm trước đây; Đất có rừng hoặc chưa
có rừng thuộc phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, rừng chắn gió, chắn cát, chắn
sóng lấn biển đã ổn định, rừng sản xuất nằm xen kẽ trong các khu dân cư, gần
vùng dân cư, đất chưa có rừng của rừng bảo vệ sinh thái.
+ Nhà nước giao cho các Chi cục kiểm lâm trực tiếp quản lý các vùng đất
lâm nghiệp chưa giao được cho các chủ cụ thể.
* Căn cứ để quyết định giao đất lâm nghiệp
Căn cứ để quyết định giao đất được quy định tại Điều 19 Luật Đất đai, Điều
10 Luật bảo vệ rừng và phát triển rừng và Điều 4 của Nghị Định 02/CP ngày
15/1/1994, Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ [5],[7].
- Giao đất lâm nghiệp phải dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
khoanh định rõ các loại đất, quy hoạch đất lâm nghiệp xác định các loại rừng
trên từng địa bàn cụ thể.
- Căn cứ vào quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương.
- Căn cứ vào nhu cầu, khẳ năng sử dụng đất lâm nghiệp của các tổ chức
được ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật hay trong dự án quản lý xây dựng
khu rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, đơn xin giao đất
lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác
nhận.
- Căn cứ vào kế hoạch nguồn vốn đầu tư hỗ trợ hàng năm của Nhà nước
(đối với trường hợp việc giao đất lâm nghiệp có gắn với thực hiện các dự án đầu
tư hỗ trợ bằng vốn của Nhà nước).
* Thời hạn giao đất lâm nghiệp sử dụng ổn định lâu dài
- Các tổ chức của Nhà nước, thời hạn giao được quy định theo quy hoạch
kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước.
17
xác nhận.
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các địa phương khác có vốn đầu tư vào
sản xuất theo quy hoạch của các đơn vị giao khoán.
* Giao đất lâm nghiệp đựơc tiến hành trên cơ sở
18
- Quỹ đất lâm nghiệp đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
giao cho các đơn vị khoán.
- Dự án khả thi hoặc dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Vốn, lao động của bên nhận khoán.
- Các chính sách đầu tư hỗ trợ vốn của Nhà nước và các chính sách lao
động khác có liên quan.
- Đảm bảo lợi ích của bên giao khoán, bên nhận khoán.
- Giao khoán đất gắn liền với cây trồng, vật nuôi và giá trị tài sản khác trên
đất.
- Việc giao khoán và nhận khoán phải thông qua hợp đồng.
* Thời hạn giao khoán đất lâm nghiệp
- Rừng phòng hộ và đặc dụng là 50 năm.
- Rừng sản xuất: Tuỳ theo chu kỳ kinh doanh.
* Nội dung giao khoán đất lâm nghiệp tùy theo từng loại rừng
- Rừng phòng hộ: Khoán các khâu bảo vệ rừng, khoanh nuôi, tái sinh
rừng, trồng rừng mới theo quy hoạch. Nhà nước cấp kinh phí hàng năm để trả
cho bên nhận khoán.
- Rừng đặc dụng: Khu vực cần bảo tồn nguyên vẹn chỉ khoán cho các hộ
sống xen kẽ trong khu vực bảo tồn để bảo vệ rừng. Khu vực cần phục hồi tái
sinh thì khoán bảo vệ và gây trồng rừng mới, được Nhà nước cấp kinh phí.
- Rừng sản xuất: Khoán bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi đối với đất có rừng
tự nhiên. Còn đất trống thì khoán đất để người nhận khoán tự bỏ vốn trồng, khi
khai thác phải bán sản phẩm theo hợp đồng, nếu Nhà nước bổ vốn thì bên nhận
- Kết quả của chính sách giao đất lâm nghiệp đã có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến việc sử dụng đất và đời sống kinh tế: Nhờ có chính sách giao đất lâm nghiệp
dẫn đến việc sử dụng đất hợp lý hơn và mức độ thâm canh cao hơn. Từng hộ đã
chủ động sản xuất và có hộ đã biết cách làm giàu thông qua việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng. Từ làm rẫy thuần tuý sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
và phát triển chăn nuôi tạo ra những mô hình điển trong sản xuất nông nghiệp.
- Chính sách giao đất lâm nghiệp cũng tác động đến xã hội và môi trường:
Việc giao đất đã làm cho mảnh đất có chủ thực sự, người dân có ý thức hơn
trong việc bảo vệ rừng được giao, có thêm thu nhập. Công tác khoanh nuôi, bảo
vệ rừng và màu xanh rừng ngày càng nhiều hơn, giữ được rừng, bảo vệ nguồn
nước. Tình trạng di dân tự do được hạn chế đáng kể, người sử dụng đất đã có
quỹ đất để xây dựng kế hoạch luân canh cây trồng.
2.2.1.6. Giai đoạn từ năm 2003 trở lại đây
Tại kỳ họp Quốc hội Khoá IX kỳ họp thứ IV ngày 26/11/2003 ban hành
Luật số 13/2003/QH11 thay thế Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung
20