VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA MAI, QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên nghành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan .
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
đảm bảo độ tin cậy, chính xác trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Huệ
tại trường mầm non ................................................................................................... 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ
KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA MAI QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................................................................. 34
2.1. Khái quát chung về trường mầm non Hoa Mai quận Hà Đông Thành Phố Hà
Nội ................................................................................................................... 34
2.2. Thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non Hoa Mai,
quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội ........................................................................... 37
2.3. Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non
Hoa Mai, quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội ........................................................... 41
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết
tật tại trường mầm non Hoa Mai, quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội ..................... 52
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT
TẬT TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA MAI, QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ
HÀ NỘI ..................................................................................................................... 54
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp ................................................................. 54
3.2. Các biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Trường Mầm non
Hoa Mai, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội ........................................................... 57
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất ............. 74
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 81
PHỤ LỤC ......................................................................................................................
DANH MỤC VIẾT TẮT
CBQL
Cán bộ quản lý
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Bảng 2.1: Số lượng, trình độ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
của trường
Bảng 2.2: Trẻ bình thường và trẻ khuyết tật trường mầm non Hoa
Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Bảng 2.3: Mức độ thực hiện giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật
Bảng 2.4: Mức độ thực hiện nội dung giáo dục hoà nhập cho trẻ
khuyết tật (%)
Bảng 2.5: Mức độ thực hiện các hình thức giáo dục hoà nhập cho
trẻ khuyết tật (%)
Bảng 2.6: Mức độ thực hiện nội dung quản lý lập kế hoạch
giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Bảng 2.7: Mức độ thực hiện nội dung quản lý chỉ đạo, giám sát
giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Bảng 2.8: Mức độ thực hiện nội dung quản lý kiểm tra, đánh giá
giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Bảng 2.9: Mức độ thực hiện nội dung quản lý cơ sở vật chất hỗ
trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
1
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ của các chức năng trong chu trình quản lý
23
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đang là xu thế tất yếu của thời đại. Bởi
vì, giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật sẽ giúp trẻ bắt chước được những đứa trẻ
bình thường khác, có điều kiện và môi trường để học cách tương tác xã hội, giao
tiếp xã hội. Việc giáo dục hòa nhập giúp trẻ khuyết tật có được các kích thích tham
gia vào quá trình tương tác với người khác thông qua đó cải thiện sự hạn chế về khả
năng tương tác xã hội của các em. Nếu tách biệt trẻ khỏi môi trường bình thường thì
trẻ rất khó học được các kỹ năng tương tác điều xã hội mà chúng thiếu hụt. Mặt
khác, giáo dục hòa nhập không những dựa trên quan điểm xã hội về việc nhìn nhận,
đánh giá trẻ khuyết tật mà còn dựa trên quan điểm tích cực về trẻ khuyết tật. Mặt
khác, việc chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật không chỉ mang tính nhân văn cao cả
mà còn đánh dấu mức độ phát triển của toàn xã hội. Chính vì vậy, để đáp ứng được
nhu cầu giáo dục trẻ khuyết tật, giáo dục hòa nhập là sự lựa chọn tối ưu nhất. Mô
hình này đã mở ra cho trẻ khuyết tật cơ hội được đi học, được giao lưu, tiếp xúc với
mọi người, được phát huy hết khả năng của mình và hòa nhập xã hội.
Sau hơn 20 năm thực hiện, giáo dục hòa nhập Việt Nam đã đạt được những
thành tựu đáng kể như: đến thời điểm hiện nay có nhiều trẻ khuyết tật được học ở
các trường phổ thông, đội ngũ giáo viên được đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn về
giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng,
quan điểm của xã hội về trẻ khuyết tật đã có sự thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, chất
lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các trường Mầm non vẫn còn nhiều hạn
chế. Chúng tôi cho rằng có những nguyên nhân sau: phương tiện dạy học đặc thù
tôi nhận thấy có nhiều nghiên cứu về giáo dục hoà nhập cho trẻ tự kỷ (một trong
những dạng khuyết tật được xác định,…). Dưới đây, chúng tôi sẽ nêu dẫn cụ thể các
nghiên cứu sau đây:
Tại rất nhiều nước pháp triển như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,…
đã rất chú trọng và đề cao vai trò của giáo dục hoà nhập đối với trẻ tự kỷ. Họ cho
rằng, giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật có những ưu điểm cơ bản: trẻ sẽ bắt
chước trẻ khác, có điều kiện và môi trường để học cách tương tác xã hội, giao tiếp
xã hội. Việc giáo dục hòa nhập giúp trẻ có được các kích thích tham gia vào quá
trình tương tác với người khác thông qua đó cải thiện sự hạn chế về khả năng tương
2
tác. Nếu tách biệt trẻ khỏi môi trường bình thường thì trẻ rất khó học được các kỹ
năng tương tác điều mà chúng thiếu hụt.
Vào năm 1997, chính phủ Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật về người khuyết
tật. Đạo luật này đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, đã
góp phần vào việc hình thành hàng loạt các chương trình giáo dục hoà nhập cho trẻ
khuyết tật. Trong đó bao gồm các vấn đề cơ bản như: đào tạo cho giáo viên về cách
thức làm việc với trẻ khuyết tật; xử lý hành vi có vấn đề của trẻ khuyết tật; ứng
dụng cách tiếp cận ABA để xử lý các hành vi có vấn đề trong lớp. Việc tổ chức giáo
dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đã giúp xã hội ý thức và hiểu hơn về trẻ khuyết tật,
do đó giảm sự kỳ thị. Đạo luât này đã tạo ra những khác biệt lớn khi tạo ra sự công
bằng về giáo dục cho trẻ khuyết tật và đã “tạo cảm hứng” cho chính phủ các nước
khác trong việc đưa trẻ khuyết tật vào trường học bình thường.
Kiyo Kitahara, một nhà giáo dục Nhật Bản, đã phát triển một kế hoạch giáo
dục trong đó cho trẻ tự kỷ học với những trẻ bình thường khác trong lớp. Kế hoạch
này bao gồm các bài tập thể dục như là một cách giảm những hành vi tự kích thích
và thu mình ở trẻ tự kỷ (Houston Chronicle, 1986). Từ thời điểm này, lý thuyết và
thực hành về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ bắt đầu được chú ý và phát triển trên
phẩm nầy nhóm tác giả đã phân tích rất sâu sắc những vấn đề lý luận và thực tiễn về
giáo dục hào nhập cho trẻ khuyết tật, nêu ra được những bài học kinh nghiệp khi
thực hiện các hoạt động giáo dục hào nhập cho trẻ khuyết tật. Tác phẩm này là tài
liệu bổ ích cho những ai làm công tác giáo dục hoà nhập, nhà quản lý giáo dục, phụ
huynh và giáo viên dạy hoà nhập cho trẻ khuyết tật [13].
Tác giả Nguyễn Xuân Hải, trong cuốn sách: “Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật
ở tiểu học”, trong Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã trình bầy rất sâu những nội
dung lí luận về giáo dục hào nhập, trẻ khuyết tật, giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết
tật. Trong đó, chỉ rõ hệ thống khái niệm công cụ: giáo dục hoà nhập, trẻ khuyết tật,
giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật, tác giả cũng bàn sâu về những vấn đề lí luận
về giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật. Trong đó, các nội dung được trình bầy sâu
là: hình thức giáo dục hào nhập cho trẻ khuyết tật; nội dung giáo dục hoà nhập cho
trẻ khuyết tật [16].
Bên cạnh các nghiên cứu, các sách, giáo trình về giáo dục hoà nhập cho trẻ
khuyết tật như chúng tôi đã nêu dẫn ở trên, khi tổng quan tình hình nghiên cứu
4
chúng tôi còn nhận thấy có một số luận văn thạc sỹ và luận án tiến sĩ nghiên cứu về
vấn đề này. Cụ thể như sau:
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến đã nghiên cứu “Các biện pháp tổ chức giáo
dục hoà nhập giúp trẻ khuyết tật vào lớp 1”, Luận án Tiến sĩ, Khoa Giáo dục Đặc
biệt, 2001. Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản (lý luận về trẻ điếc
và trẻ khuyết tật thính giác như: cấu tạo sinh lý, đặc điểm tâm lý, đặc điểm về sự
phát triển ngôn ngữ và cơ sở lý luận về giáo dục hoà nhập; Đánh giá thực trạng tổ
chức giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam, bao gồm hệ thống giáo dục
trẻ; khuyết tật chuyên biệt và hoà nhập; đề xuất các biện pháp tổ chức giáo dục hoà
nhập cho trẻ khuyết tật thính giác vào trường học [52].
Tác giả Nguyễn Minh Phúc, đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng giáo dục hoà
Phạm Thị Kim Nga với đề tài luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý giáo dục
hòa nhập học sinh khiếm thị trong trường tiểu học ở Hà Nội”. Tác giả luận văn đã
xây dựng được cơ sở lí luận về biện pháp quản lí giáo dục hoà nhập cho học sinh
khiếm thị trong trường tiểu học. Trong đó, đã xác định rõ hệ thống các khái niệm
công cụ như: quản lý; giáo dục hoà nhập; học sinh khiếm thị trong trường tiểu học;
Biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập học sinh khiếm thị trong trường tiểu học.
Trong nội dung lí luận của luận văn, tác giả đã xác định được các nội dung quản lý
giáo dục hòa nhập học sinh khiếm thị trong trường tiểu học và các yếu tố ảnh hưởng
tới quản lý hoạt động này. Luận văn cũng đã phân tích được thực trạng các nội dung
giáo dục hòa nhập học sinh khiếm thị trong trường tiểu học ở Hà Nội và đề xuất
được các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu qủa hoạt động này [34].
Như vậy, có thể nói rằng, tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở
Việt Nam cho thấy, đã có nhiều nghiên cứu về giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật
nói chung và các dạng khuyết tật cụ thể nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu về
quản lý giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật nói chung và cho từng dạng tật từ góc
độ khoa học quản lý giáo dục thì chưa nhiều. Do vậy, đây là vấn đề rất cần được
nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật tại trường Mầm non Hoa Mai, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đề xuất
một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục hòa nhập cho
trẻ khuyết tật tại trường mầm non Hoa Mai, quận Hà Đông, thành Phố Hà Nội.
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục hoà nhập cho trẻ
khuyết tật tại trường Mầm non.
tật học hoà nhập; 5 phụ huynh học sinh có con học giáo dục hoà nhập tại nhà
trường.
Tổng số khách thể nghiên cứu của đề tài là: 125 người.
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu.
Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu thực tiễn tại Trường mầm non Hoa Mai, quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận
của quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. Cụ thể như sau:
Nguyên tắc hoạt động: Khi nghiên cứu giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại
trường mầm non cần nghiên cứu quản lý của Hiệu trưởng và giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật của giáo viên để làm bộc lộ rõ biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với
vấn đề quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại trường mầm non.
Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các
trường mầm non chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau - yểu tố chủ quan và
khách quan. Vì vậy, trong nghiên cứu luận văn này, quản lý giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật được xem xét như là kêt quả tác động của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, trong
từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau có yếu tố tác động trực tiếp, có yếu tố tác
động gián tiếp, có yếu tố tác động nhiều, có yếu tố tác động ít. Việc xác định rõ vai
trò của từng yếu tố trong những hoàn cảnh cụ thể là điều cần thiết. Vì vậy, trong
nghiên cứu này, quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại trường mầm non được
xem xét trong mối quan hệ về nhiều mặt.
Nguyên tắc phát triển: Khi nghiên cứu về quản lý giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật tại trường mầm non phải nghiên cứu trong sự vận động, biến đổi, tương
tác qua lại giữa toàn bộ các hoạt động trong quá trình dạy và học tại trường mầm
non. Thấy đươc sự vận động, phát triển, biến đổi quản lý giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật tai trường mầm non của Hiệu trưởng tại trường mầm non ở thời gian hiện
tại, quá khứ và dự báo tương lai phát triển.
động này.
Phiếu số 2: Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non
Phiếu số 2 này được thiết kế nhằm mục đích tìm hiểu ý kiến đánh giá của cán
bộ quản lý giáo dục và giáo viên mầm non về tính cấp thiết và tính khả thi của các
9
biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Trường mầm non Hoa Mai,
Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Luận văn sẽ thiết kế 01 phiếu phỏng vấn sâu dành cho cán bộ quản lý giáo
dục, giáo viên mầm non trực tiếp dạy hoà nhập cho trẻ khuyết tật, phụ huynh có con
học hoà nhập tại trường mầm non.
Phiếu phỏng vấn sâu này được thiết kế nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về
những nội dung nghiên cứu chính của luận văn, kết quả nghiên cứu từ phương pháp
phỏng vấn sâu sẽ được sử dụng để làm rõ hơn các kết quả nghiên cứu từ các phương
pháp nghiên cứu khác như : phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Nội dung phỏng
vấn bao gồm các thông tin về bản thân, nội dung giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết
tật Trường Mầm non Hoa Mai, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, nội dung về quản
lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Trường mầm non Hoa Mai, Quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này, các
biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Trường mầm non Hoa Mai,
Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
5.2.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Chúng tôi dùng phương pháp này nhằm hình thành và hệ thống các bảng kết
quả nghiên cứu thực tiễn làm cơ sở cho việc phân tích số liệu.
+ Phương pháp phân tích định tính: Sử dụng phương pháp này để xử lý kết
quả phỏng vấn sâu. Các kết quả của phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý, giáo viên
mầm non, phụ huynh có con học hoà nhập.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra được thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật tại trường mầm non Hoa Mai, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Chỉ ra
được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới quản
lý hoạt động này. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn luận văn đã nêu ra
được các nguyên tắc đề xuất biện pháp và đưa ra các biện pháp quản lý giáo dục
hòa nhập trẻ khuyết tật tại trường mầm non. Trong đó, tác giả đã phân tích khá chi
tiết về mục đích ý nghĩa, nội dung; tổ chức thực hiện; điều kiện thực hiện biện pháp.
Các biện pháp này cũng được tác giả luận văn tìm hiểu mối quan hệ giữa các biện
pháp, khảo nghiệm tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất. Kết quả nghiên
cứu thực tiễn của luận văn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản lý
11
giáo dục, giáo viên trường mầm non góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục
hòa nhập trẻ khuyết tật tại trường mầm non.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại
trường mầm non.
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại trường
Mầm non Hoa Mai, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Chương 3. Môt số biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại
trường Mầm non Hoa Mai, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
12
13
niệm giáo dục hoà nhập của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến nêu trên, chúng tôi sẽ
sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài luận văn.
1.1.1.2. Bản chất của giáo dục hòa nhập
Khi bàn luận tới bản chất của giáo dục hoà nhập, nhiều ý kiến của các nhà
khoa học đã cho rằng. Bản chất của giáo dục hoà nhập là:
Giáo dục cho mọi đối tượng học sinh. Đây là tư tưởng, yếu tố đầu tiên thể
hiện bản chất của giáo dục hoà nhập. Trong giáo dục hoà nhập không có sự tách
biệt giữa học sinh với nhau. Mọi học sinh đều được tôn trọng và đều có giá trị như
nhau. Học ở trường nơi mình sinh sống. Mọi học sinh đều cùng được hưởng một
chương trình giáo dục phổ thông. Điều này vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo
dục, vừa thể hiện sự tôn trọng mọi học sinh đều có quyền được hưởng một nền giáo
dục như nhau.
Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và các quan điểm,
cách đánh giá. Đây là vấn đề cốt lõi để giáo dục hoà nhập đạt hiệu quả cao nhất.
Điều chỉnh chương trình là việc làm tất yếu của giáo dục hoà nhập, có điều chỉnh
chương trình cho phù hợp thì mới đáp ứng cho mọi trẻ em có nhu cầu, năng lực
khác nhau.
Giáo dục hoà nhập không đánh đồng mọi trẻ em như nhau. Mỗi đứa trẻ là
một cá nhân, một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ học
không như nhau. Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là cần thiết.
Dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác. Đó là mục tiêu của dạy học
hoà nhập. Trong dạy học hoà nhập tạo ra được cho trẻ kiến thức chung, tổng thể,
cân đối. Muốn thế phương pháp dạy học phải có hiệu quả và đáp ứng được các nhu
cầu khác nhau của học sinh. Muốn dạy học có hiệu quả kế hoạch bài giảng phải cụ
thể, theo phương pháp học tập hợp tác. Phải biết lựa chọn phương pháp và sử dụng
đúng lúc: phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháp trùng lập
giáo án, phương pháp thay thế, phương pháp cá biệt.
sức nghe ở những mức độ khác nhau dẫn tới khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh
hưởng đến quá trình nhận thức và các chức năng tâm lý khác. Tùy theo mức độ suy
giảm thính lực, trẻ khiếm thính được phân chia ra các mức độ khác nhau.
- Trẻ khiếm thị (Childen with Seeing Diffculy): Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi
có khuyết tật thị giác, khi đã có phương tiện trợ giúp nhưng vẫn gặp khó khăn trong
các hoạt động cần sử dụng mắt.
15
- Trẻ chậm phát triển trí tuệ (Chiden with Intellectual Disability): Trẻ chậm phát
triển trí tuệ là trẻ có chức năng trí tuệ dưới mức trung bình. Hạn chế ít nhất 2 lĩnh
vực hành vi thích ứng như : Giao tiếp, liên kết cá nhân, tự phục vụ, sống tại gia
đình, xã hội, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường,
giải trí, lao động, sức khỏe và an toàn.
-Trẻ khuyết tật ngôn ngữ và giao tiếp (Chiden with Language problems): Trẻ
khuyết tật ngôn ngữ - giao tiếp là những trẻ có sự phát triển lệch lạc ngôn ngữ.
Đánh giá này dành cho các trẻ có những biểu hiện như: Nói ngọng, nói lắp, nói
không rõ, không nói được ( câm không điếc) không kèm theo các dạnh khó khăn
khác như chậm phát triển trí tuệ, đao, bại não….
-Trẻ khuyết tật vận động (Chiden with Moving Difculy): Là những trẻ có sự tổn
thức các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển , sinh hoạt và học tập.
- Trẻ đa tật (Childen with Multiple Disabilities): Là những trẻ có từ hai khuyết
tật trở lên. Ví dụ như vừa khiếm thính,khiếm thị hay vừa chậm phát triển trí tuệ, vừa
khuyết tật vận động,…
1.1.2.2.Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
*Khái niệm giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật
Hiện nay, khái niệm giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đã trở nên phổ
biến ở nước ta. Với những nêu dẫn ở trên với những quan niệm chung về giáo dục
hòa nhập cho trẻ khuyết tật. Chúng tôi cho rằng giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết
trường là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch
của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, được tổ chức theo các loại hình
công lập, bán công, dân lập, tư thục. Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc học
mầm non và cũng được tổ chức theo các loại hình như các bậc học khác [3].
1.2.2. Nội dung giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non
1.2.2.1.Quy định về nội dung giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non
Nội dung giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tạt tại trường mầm non cần phải
thực hiện theo đúng quyết định của Bộ Giáo dục – Đào tạo, số 23/QĐ - BGDĐT
ngày 22/5/2006. Trong đó nêu rõ:
- Huy động và tiêp nhận trẻ khuyêt tật đến học, xây dựng cơ sở vật chất, tạo cơ
hội và điều kiện cho người khuyết tật, được tham gia các hoạt động hòa nhập với
cộng đồng.
17
- Xây dựng kế hoạch hoạt động, đội ngũ giáo viên, nhân viên hỗ trợ cho người
khuyết tật theo đơn vị lớp hoặc khối lớp. Phối hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức
xã hội và các lực lượng cộng đồng để chăm sóc, giáo dục cho trẻ khuyết tật.
- Mỗi lớp hòa nhập dành cho người khuyết tật ở giáo dục mầm non có nhiều nhất
không quá ba trẻ khuyết tật cùng một loại tật.
- Mỗi cơ sở giáo dục hòa nhập thành lập một tổ, nhóm chuyên môn giáo dục hòa
nhập dành cho người khuyết tật. Tổ, nhóm chuyên môn gồm các các cán bộ chuyên
môn, giáo viên giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
- Nhiệm vụ của tổ nhóm xây dựng, thống nhất, triển khai kế hoạch hòa nhập cho trẻ
khuyết tật ở từng đơn vị phụ trách theo sự chỉ đạo của Bộ [5].
1.2.2.2.Quy trình giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non
Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non đòi hỏi tính phân
hóa (phân biệt) rất cao. Không thể có một chương trình chung cho mọi trẻ khuyết
tật. Vì vậy, để xác định các nội dung giáo dục trẻ khuyết tật tại trường mầm non cần
sinh;
Mục tiêu giáo dục cho học sinh có thể được xây dựng theo kiểu mục tiêu giáo
dục của năm học và mục tiêu giáo dục của từng học kỳ, từng tháng, từng tuần và
được thể hiện bằng kế hoạch, bài học trong từng ngày, tiết học.
* Bước 3: Lập kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non
- Xác định các yếu tố và lập kế hoạch
+ Các yếu tố: Thời gian thực hiện; Nội dung hoạt động; Biện pháp thực hiện và
phương tiện liên quan; Người thực hiện; Kết quả mong đợi
+ Các yêu cầu: Hệ thống kiến thức, kỹ năng cần được xây dựng từ mức độ đơn giản
đến mức độ khó cao hơn; Các nhiệm vụ càng được chia nhỏ thành các bước và thực
hiện từng bước, từng phần nhỏ thì càng tốt.
- Thiết kế và tổ chức các hoạt động được diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau
nhằm tăng số lượng kiến thức cũng như tăng mức độ thành thạo các kỹ năng cho trẻ
khuyết tật tại trường mầm non.
- Sử dụng đồ dùng, phương tiện cần tuân thủ chặt chẽ quy luật của quá trình nhận
thức. Có thể sử dụng vật thật, mô hình, hình ảnh để hình thành khái niệm cho trẻ
khuyết tật tại trường mầm non.
- Xây dựng kế hoạch chuyển tiếp về thời gian, ví dụ như giữa hai học kỳ, hai
tháng... hay chuyển tiếp về kiến thức, kỹ năng mang tính củng cố và lĩnh hội tri thức
19