TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ BẰNG MỘT SỐ PHẦN
MỀM NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Mạnh Tuấn
Sinh viên thực hiện
: Phạm Thu Thảo
Lớp
: K61 A
Hà Nội - 2015
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài “Thiết kế bài giảng điện tử bằng một số
phần mềm nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi” đã hoàn
thành.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến TS.Nguyễn Mạnh
Tuấn về sự hướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết trong suốt quá trình xây dựng và
hoàn thành khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong khoa Giáo dục mầm nonTrường Đại học Sư phạm Hà Nội và các bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo và các em học sinh trường
Công nghệ thông tin
BTSL
Biểu tượng số lượng
BGĐT
Bài giảng điện tử
MGL
Mẫu giáo lớn
MỤC LỤC
4
DANH MỤC BẢNG
5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
học toán” ở trường mầm non. Thực tiễn cho thấy rằng, trong quá trình hình
thànhbiểu tượng số lượng(BTSL) cho trẻ mầm non, nếu trước đây GVMN phải rất
vất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ dùng phục vụ bài giảng
thì hiện nay với ứng dụng CNTT, GV có thể sử dụng internet để chủ động khai thác
7
tài nguyên giáo dục phong phú, chủ động quay phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bài
giảng điện tử (BGĐT). Chỉ cần vài cái "nhấp chuột" là hình ảnh những con vật ngộ
nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết
nhảy theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập
tức thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động hoạt
động nhiều hơn để khám phá nội dung bài giảng. Đây có thể coi là một phương
pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được
nguyên lý giáo dục của Vưgốtxki "Dạy học lấy học sinh làm trung tâm" một cách
dễ dàng. Có thể thấy ứng dụng của CNTT mà đặc biệt là BGĐT trong GDMN đã
tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành GDMN, tạo ra một
môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa GVMN và trẻ.
Việc thiết kế BGĐT thường xuyên sẽ làm GV nảy sinh thêm nhiều ý tưởng
mới. Bên cạnh đó còn giúp cho GV có thể nâng cao trình độ tin học, mở rộng kiến
thức cho bản thân.Khi thiết kếxong BGĐT, GV có thể chia sẻ với các đồng nghiệp
hoặc với phụ huynh có nhu cầu sử dụng trên khắp cả nước bằng cách đưa lên mạng
Internet. Sử dụng BGĐT, phụ huynh có thểgiúp cho trẻ ôn tập, củng cố lại bài học ở
nhà mà không cần phải vất vả tìm kiếm đồ dùng dạy học, tiết kiệm được rất nhiều
thời gian, công sức và chi phí tiền bạc. Điều này khiến cho phụ huynh rất hào hứng
khi chính họ cũng có thể trở thành thầy cô giáo cho con em mình ở nhà.
Tuy hiện nay việc ứng dụng BGĐT vào giảng dạy đã được nhiều trường
mầm non đặc biệt quan tâm và sử dụng nó trong quá trình hình thành BTSL cho trẻ
nhưng các BGĐT này còn đơn điệu, chưa phong phú, sinh động, hấp dẫn do GVMN
còn chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các PM, kết hợp các PM trong
riêng.
6.2. Đề xuất cách thiết kế BGĐT cho GV bằng một số PM.
6.3. Thực nghiệm việc sử dụng BGĐT trong quá trình tổ chức hình thành BTSL cho
trẻ 5-6 tuổi.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, hệ
thống các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để phục vụ cho việc xây
dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
9
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1. Phương pháp điều tra.
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến của GV để nắm được
mức độ nhận thức của họ về việc hình thành BTSLcho trẻ 5-6 tuổi, cũng như khả
năng thiết kế BGĐT bằng một số PM trong việc dạy học ở trường mầm non.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại.
Trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn các GV để thu thập các thông tin có liên
quan đến đề tài phát hiện thực trạng giải thích nguyên nhân và làm sáng tỏ những
thông tin nhận được từ phiếu điều tra.
7.2.3. Phương pháp quan sát.
Dự một số hoạt động hình thành BTSLcho trẻ 5-6 tuổi. Quan sát quá trình
hoạt động của cô và trẻ để từ đó phân tích kết quá, phát hiện những khó khăn và
thuật lợi, làm cơ sở để sửdụng các phần mềm hỗ trợ thiết kế BGĐT cho GVMN.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính
đúng đắn của giả thuyết khoa học được đưa ra trong đề tài.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
cho GV tiết kiệm được thời gian hơn trong việc tìm hiểu và soạn BGĐT, gây hứng
thú được cho trẻ nhiều hơn khi dạy học.
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục hình thành đều chú trọng đến ứng
dụng CNTT, sử dụng BGĐT như: Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapo, Mỹ…Để có được ứng dụng CNTT như ngày nay họ đã có một quá trình
nghiên cứu và hình thành lâu dài với nhiều dự án, chương trình quốc gia về tin học
hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, đặc biệt ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục. Họ coi đây là vấn
đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và
hình thành công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để
xây dựng và hình thành nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và
trên toàn thế giới.
11
Từ những năm 1990, ứng dụng CNTT, BGĐT vào phương pháp dạy và học
mới trong trường học đã được các nước hình thành như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,
Australia đề cập tới trong chiến lược hình thành giáo dục của quốc gia mình nhằm
đào tạo một đội ngũ lao động có trình độ cao đáp ứng cho sự hình thành nhanh của
nền công nghệ cao ở các nước này. Tuy nhiên, các quốc gia này đều cùng chung
một vấn đề là hệ thống giáo dục bao gồm trường học các cấp và đại học là quá lớn
và lâu đời. Phương pháp giáo dục cổ điển đã thành hệ thống không còn thích ứng
với sự hình thành nhanh của kỷ nguyên CNTT vì thế vấn đề đặt ra là phải có những
thay đổi mang tính cách mạng trong nhà trường về phương pháp quản lí, phương
pháp dạy và học và cùng với nó là trang thiết bị hiện đại trong lớp học, trường học
và viện nghiên cứu. Chính vì thế, các tập đoàn lớn như IBM, Intel đã đầu tư rất lớn
cho các dự án hỗ trợ giáo dục toàn cầu nhằm thay đổi việc ứng dụng CNTT.
Đối với ngành GDMN, theo kết quả của báo cáo do tổ chức Hệ thống các
trường quốc gia Australia đánh giá hiệu quả của chương trình IBM Kidsmart trong
Chỉ thị ngày 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết
định về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo
dục giai đoạn 2001-2005. Những điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất, khoa học- công
nghệ và giáo dục đào tạo của nước ta đã có những bước tiến đáng kể, điều này đã
giúp cho việc triển khai các ứng dụng CNTT và truyền thông vào cuộc sống trở nên
mạnh mẽ và khả thi hơn.
Đối với ngành GDMN, năm học 2004-2005 là một bước tiến lớn khi Vụ
GDMN ra công văn số 9318/GDMN gửi đến tất cả các trường mầm non trên cả
nước về việc triển khai ứng dụng CNTT trong nhà trường.Khuyến khích các phòng
GD-ĐT, các trường mầm non thực hiện công tác quản lý bằng CNTT; xây dựng kế
hoạch và tiến hành bồi dưỡng nhân rộng ứng dụng BGĐT trong giảng dạy.Tiến
hành tập huấn cho GV bước đầu sử dụng phần mềm PowerPoint để xây dựng
BGĐT cơ bản.Năm học 2008-2009. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai cuộc vận
động “Năm học ứng dụng CNTT trong giảng dạy” ở tất cả các trường từ Đại học, cao
đẳng cho đến trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học và cả bậc học mầm non.
Vài năm trở lại đây, các hội thi ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục bắt
đầu thu hút một lượng lớn GVMN tham gia với các sản phẩm hết sức phong phú và
có giá trị trong dạy học. Các BGĐT, bài giảng E-learning được chia sẻ phổ biến
rộng rãi trên mạng internet giúp không chỉ GV mà phụ huynh đều có thể xem và sử
dụng một cách dễ dàng. Từ đó nâng cao khả năng tiếp nhận và lĩnh hội tri thức của
trẻ.Trẻ không chỉ được học trên lớp mà ở nhà còn có thể cùng bố mẹ ôn lại kiến
thức, bài học thông qua các phương tiện CNTT.Các hội thảo thảo luận, chia sẻ kinh
nghiệm ứng dụng CNTT sao cho phù hợp với từng thời điểm, thời lượng vừa sức
với trẻ trong GDMN cũng được tổ chức thường xuyên và đạt được hiệu cao.
13
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản
•
hay cả một môn học. Thiết kế BGĐT giúp người dạy chuyền tải đầy đủ và sinh
động nội dung kiến thức, giúp người học đạt được mục tiêu học tập cao nhất.
•
Biểu tượng
Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn
trực quan sinh động.Đó là hình ảnh có tính chất đặc trưng tương đối hoàn chỉnh còn
lưu lại trong bộ óc của con người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác
động vào các giác quan.
14
Biểu tượng toán học là những hình ảnh có tính đặc trưng tương đối hoàn
chỉnh các kiến thức về tập hợp, con số, phép đếm, về kích thước, hình dạng của các
vật, về khả năng định hướng trong không gian, thời gian và mối quan hệ các đại
lượng khi những đối tượng này tác động vào con người.
•
Biểu tượng số lượng.
Khái niệm về số lượng: Số lượng là khái niệm chỉ số phần tử có trong một
tập hợp tại một không gian và thời điểm xác định. Khái niệm số lượng có liên quan
đến số tập hợp, bất kì một tập hợp nào cũng xác định được độ lớn (số lượng) nhất
định của nó, dù là các phần tử thuần nhất hay không thuần nhất.
Khái niệm BTSL: là những hình ảnh về đặc trưng số lượng của các tập hợp
còn lưu lại và được tái hiện trong óc của ta khi các tập hợp ấy không còn được tri
giác trực tiếp, không còn đang tác động vào các giác quan của ta như trước. BTSL
bao gồm: BTSL (so sánh số lượng 2 nhóm đối tượng xem chúng như thế nào với
nhau), biểu tượng về mối quan hệ số lượng (so sánh số lượng hai nhóm đối tượng
khái niệm đơn vị- đơn vị của phép đếm có thể là cả nhóm vật chứ không chỉ là từng
vật riêng lẻ.
Hơn nữa dưới tác động của dạy học, trẻ MGL không chỉ biết đếm xuôi mà
còn biết đếm ngược trong phạm vi 10, trẻ nhận biết các số từ 1-10. Trẻ hiểu rằng
mỗi con số không chỉ được diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết, và muốn biết
số lượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, mà đôi
lúc chỉ cần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng. Việc cho trẻ làm quen với các
con số có tác dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, phát triển khả năng trừu suất
số lượng khỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các kí hiệu- các con số.
Như vậy, trẻ 5-6 tuổi cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp, bước đầu
cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo cơ sở cho trẻ học
các phép tính đại số sau này ở trường phổ thông. Tiếp tục dạy trẻ phép đếm trong
phạm vi 10, giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn khái niệm đơn vị, tạo tiền đề cho trẻ hiểu bản
chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học tập ở trường phổ thông. Dạy trẻ làm
quen với các bài toán đơn giản trên các tập hợp cụ thể bằng cách phân tích để biết
cái gì đã cho, cái gì cần tìm, để tìm cái đó phải làm như thế nào? Đó chính là cơ sở
để trẻ học tốt môn toán sau này ở trường phổ thông.
•
Quá trình dạy học nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
Nội dung hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi:
- Mở rộng và phát triển biểu tượng về tập hợp cho trẻ, trẻ tạo nhóm theo các
dấu hiệu (mầu sắc, hình dạng, kích thước, chất liệu, công dụng,...).
- Dạy trẻ đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng, nhận biết các nhóm
có số lượng trong phạm vi 10. Nhận biết chữ số 10.
16
Phần mềm PowerPoint:
PowerPoint là PM khá quen thuộc đối với mỗi GV, được sử dụng để thiết kế
minh họa, thuyết trình. PM này có tính hiệu quả mạnh về đồ họa và hiệu ứng hỗ trợ
cho GV thiết kế BGĐT sinh động, hấp dẫn giúp cho quá trình học trở nên sống
động và lôi cuốn hơn.
17
Điểm mạnh của PM PowerPoint là chức năng trình diễn, tính linh hoạt cao
và có thể liên kết với các PM khác như: nhúng file Word vào slide, liên kết với PM
Violet,…
Các chức năng chính của PM PowerPoint trong việc hỗ trợ GV thiết kế BGĐT:
-
Chức năng chèn hình ảnh: PM PowerPoint hỗ trợ GV có thể
chèn hình ảnh với nhiều định dạng cũng như chất lượng ảnh khác nhau, bao
gồm: ảnh thường, ảnh động, ảnh vẽ, ảnh đã chỉnh sửa từ PM GIMP,… PM
này cũng cho phép GV có thể điều chỉnh kích thước ảnhhoặc đặt chồng
nhiều hình ảnh lên nhau.
-
Chức năng chèn âm thanh: PowerPoint hỗ trợ GV có thể chèn
âm thanh vào hình ảnh. Âm thanh được chèn vào có thể là âm thanh sẵn có
trong phần mềm hoặc những âm thanh mà GV tự tìm kiếm từ bên ngoài. Khi
cài đặt, PowerPoint cho phép âm thanh có thể được phát trước hoặc sau hoặc
cùng lúc với hình ảnh; thời gian phát âm thanh được phép thay đổi dài, ngắn
hữu ích trong quá trình GV thiết kế BGĐT nhằm hình thành BTSL cho trẻ.
-
Tạo các hiệu ứng hoạt hình: Với PM này, GV có thể tạo ra các hiệu
ứng hoạt hình rất ấn tượng như: làm chữ bay, hình ảnh chuyển động, in
nghiêng, bóng đổ,… Các hiệu ứng này có thể sử dụng kết hợp với nhau,
đồng thời mỗi loại cũng có thể thay đổi được các tham số một cách tùy ý, vì
vậy sẽ tạo được rất nhiều các kết quả đẹp mắt đồng thời tạo các hiệu ứng
chuyển động và biến đổi.
-
Chức năng đóng gói bài giảng: Bài giảng được xuất ra thành một sản
phẩm chạy độc lập, có thể copy vào CD hoặc USB hay đưa lên mạng internet
để chạy trên các máy tính khác mà không cần chương trình PowerPoint,
thuận tiện cho việc chia sẻ và bảo quản.
hỗ trợ GV thiết kế BGĐT
Sơ đồ 1: Các chức năng chính của PowerPoint trong việc hỗ
trợ GV thiết kế BGĐT
Tạo các trang slide
Tạo siêu liên kết
Gõ văn bản, vẽ hình
ảnh
Chèn các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim có sẵn
Tạo hiệu ứng
19
ra các bức ảnh động bằng cách chồng nhiều ảnh lên nhau theo một thứ tự
nhất định và tự động chuyển ảnh theo thời gian đã cài đặt bằng một vài thao
tác đơn giản, nhanh chóng. Ưu điểm của chức năng này là sau khi tạo xong
ảnh động, GV có thể xuất ra thành file ảnh và có thể mở bất kì máy tính nào
hoặc nhúng thả, chèn vào Word hay PowerPoint.
20
Sơ đồ 2: Các chức năng chính của GIMP trong việc
hỗ trợ GV thiết kế BGĐT
Hình ảnh
Chỉnh sửa ảnh
Tạo ảnh động
Lưu ảnh
•
Nhúng thả vào PowerPoint
Phần mềm MovieMaker
PM MovieMaker với tên gọi đầy đủ là Windows Live Movie Maker là công
cụ biên tập và chỉnh sửa video, với nhiều tính năng chỉnh sửa cơ bản giúp GV kết
hợp hình ảnh và video tạo thành một bộ phim hoàn chỉnh. Tiện ích hỗ trợ hầu hết
các định dạng âm thanh, hình ảnh, video phổ biến, bao gồm cả những file media
được tạo ra từ các thiết bị kĩ thuật số như máy ảnh, camera, điện thoại di động…
phụ lục, màu sắc có sẵn cho đoạn phim. Việc này khiến cho việc thiết kế
phim trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn mà vẫn đảm bảo đoạn phim được
tạo ra thật chuyên nghiệp và đẹp mắt.
Dưới đây là sơ đồ quy trình thiết kế một đoạn phim bằng PM MovieMaker:
Sơ đồ 3: Quy trình thiếtTrình
kế một
làm đoạn
phim phim bằng PM MovieMaker.
Chèn ảnh
Chèn âm thanh
Chỉnh sửa, tạo hiệu ứng
22
Hoàn thiện, đóng gói sản phẩm
1.1.5. Vai trò của việc thiết kế BGĐT bằng một số phần mềm nhằm hình thành
BTSL ở trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Các PM PowerPoint, GIMP, MovieMaker đều là những PM có giao diện
thân thiện và dễ sử dụng. Những nút lệnh và thanh công cụ đều hiển thị sẵn ở phía
góc trên của màn hình và được liệt kê rất chi tiết.Bên cạnh đó, các PM này đều có
khả năng tích hợp đa phương tiện, dễ dàng chèn tranh ảnh, âm thanh và đóng gói
một cách thuận tiện, nhanh chóng. Do đó việc tìm hiểu và sử dụng của GV đối với
việc thiết kế BGĐT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi sẽ trở nên dễ dàng nếu
được tập huấn và thực hành trên máy tính trong một thời gian ngắn.
Khi thiết kế BGĐT bằng các PM PowerPoint, GIMP, Movie Maker cho mỗi
nội dung của bài học như: Ôn tập củng cố kiến thức cũ; giới thiệu kiến thức mới; trò
chơi luyện tập, đều có thể sắp xếp trên các slide và đúng theo trình tự nội dung hình
BGĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường mầm non.
1.2.1.2. Đối tượng điều tra
Thực hiện điều tra 55 GV tại trường mầm non Đống Đa- Q. Đống Đa- TP.
Hà Nội.Đa số các GV có trình độ cao đẳng và đại học.GV tại trường có thâm niên
công tác nhiều nhất là 27 năm và thấp nhất là 10 tháng.
1.2.1.3. Nội dung điều tra
-
Thực trạng hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
-
Điều tra nhận thức của GV trong việc sử dụng BGĐT nhằm hình thành
BTSL cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
-
Tìm hiểu cách thiết kế BGĐT của GV, những khó khăn mà họ gặp phải khi
sử dụng các phần mềm để thiết kế BGĐT.
-
Tìm hiểu tần suất, thời gian GV sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học.
1.2.1.4.Thời gian điều tra
Từ 02/03/2015- 09/04/2015.
1.2.1.5. Phương pháp điều tra
-
Phương pháp quan sát: Quan sát toàn bộ quy trình tổ chức một giờ học hoặc
Không quan trọng
Số GV lựa chọn
Tỉ lệ
40
15
0
72.73%
27.27%
0%
Hầu hết tất cả các GV đều nắm được nội dung hình thành BTSL cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi. Tuy nhiên số GV nhận thức đầy đủ và chính xác thì vẫn còn chưa cao.
VD: Về nội dung “Biết tách một nhóm đối tượng ra làm hai nhóm nhỏ theo nhiều
cách khác nhau và xếp thứ tự trong phạm vi các số đã học” thì chỉ có 34.55% GV
lựa chọn phương án này, 65.45% GV không lựa chọn mặc dù đây là kiến thức nằm
trong nội dung dạy học về BTSL.
•
Đánh giá nhận thức của GV về việc ứng dụng CNTT vào quá trình hình
thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
Quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy đa số GV đã nhận thức được vai trò, ý
nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào quá trình giảng dạy nói chung và hình thành
BTSL nói riêng. 18.18% ý kiến GV cho rằng việc này rất cần thiết, 72.73% GV cho
rằng cần thiết và 9.09% cho rằng không cần thiết. Số GV cho rằng không cần thiết
tập trung chủ yếu ở nhóm GV lớn tuổi, có số năm giảng dạy lâu năm.