ĐỀ CƯƠNG ôn THI CAO học đầu vào CHUẨN CHI TIẾT môn CHỦ NGHĨA xã hội KHOA học - Pdf 38

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI
Môn: CNXH khoa học
I. PHẦN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XHCN TRƯỚC MÁC
Câu 1: CNXH không tưởng? Điều kiện lịch sử ra đời? Ý nghĩa của nó
đối với sự phát triển tư tưởng nhân loại và chủ nghĩa Mác?
* CNXH không tưởng: Là những tư tưởng về giải phóng xã hội, giải phóng
con người, phản ánh nguyện vọng chưa chín muồi của quần chúng nhân dân, mong
muốn xây dựng một xã hội mới không có áp bức, bóc lột, mọi người thực sự bình
đẳng, hạnh phúc. Đó là tổng hợp các trào lưu tư tưởng không khoa học, một lý luận
về CNXH chưa chín muồi, thiên về lý trí, ra đời trước chủ nghĩa Mác.
CNXH không tưởng không dựa trên những tiền đề hiện thực về kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội nên chưa thể phản ánh khách quan, khoa học đời sống
xã hội. Chưa nhận rõ quy luật vận động khách quan của lịch sử xã hội loài người,
chưa thấy được bản chất bóc lột của CNTB và lực lượng xã hội có khả năng cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới đó là GCCN. Do đó, CNXH không tưởng
không thể vạch ra lối thoát thực sự cho nhân dân lao động khỏi cảnh áp bức, bóc
lột; không chỉ ra những lực lượng, con đường, biện pháp và điều kiện đúng đắn
để đi đến mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người. CNXH không tưởng
là những quan điểm, quan niệm thiếu cơ sở thực tiễn cho luận chứng khoa học,
thiếu tính hệ thống, vì vậy mang tính chung chung, chủ quan và không tưởng.
CNXH không tưởng là một lực cản của tư tưởng và hành động cách mạng của
GCCN khi các điều kiện kinh tế, xã hội biến đổi và yêu cầu phát triển của phong
trào công nhân ngày càng cao.
* Điều kiện ra đời
Sự ra đời của CNXH không tưởng:
Những tư tưởng đầu tiên của CNXH không tưởng xuất hiện từ thời cổ đại,
khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, phản ánh sự bất bình của quần
chúng đối với sự bóc lột của giai cấp thống trị và mơ ước của họ về một xã hội
công bằng tốt đẹp hơn. CNXH không tưởng với tính cách là một học thuyết ra đời
vào thời kỳ hình thành CNTB, phê phán xã hội đương thời và hướng tới một xã hội
công bằng, không có áp bức bóc lột.

* Lý thuyết “trạng thái tự nhiên” – tiêu biểu của Knich
- Kịch liệt lên án luật lệ và trật tự của xã hội đương thời, lý tưởng hoá trạng
thái tự nhiên đầu tiên, đó là giai đoạn phát triển tự nhiên nhất, hợp lý nhất.
- Những tư tưởng đó còn mang tính bình quân khỏ hạnh, là ước mơ về một
xã hội công bằng không có lối thoát.
- Ảnh hướng đến các học giả, các nhà cải cách trên các lĩnh vực khác nhau.
+ Ảnh hưởng đến Platon: XH hiện đại CHNL là xấu xa bất công… là do con
người đã đi chệch khỏi trạng thái tự nhiên, để chống lại trạng thái tự nhiên ấy thì
con người phải quay về trạng thái ban đầu (CSNT) => Đã có lý luận soi đường bởi
các nhà triết học DT đó là tác phẩm “Nhà nước và luật lệ của Praton. Trạng thái
nguyên thuỷ là trạng thái không có quyền lực. Để trở về trạng thái ban đầu, theo
Praton thì:
Trong xã hội phải đấu tranh chống cả người giàu và người nghèo; giàu là an bám
xa hoa, tham lam; nghèo là thấp hèn đôi khi ham muốn vật chất.
Chủ động điều tiết giữa người giàu và người nghèo.
(Đây chính là lý thuyết của tôn giáo xuất phát từ đạo Cơ đốc giáo sơ kỳ)
+ Ảnh hưởng đến nhà sử học, triết học Đikêác (Thế kỷ IV TCN) học trò của
Arixtot khi ông cho rằng trạng thái nguyên tử là trạng thái hòa bình, yên ổn, trong đó con
người công bằng những sản phẩm do thiên nhiên đem lại nhưng do sự phát triển kinh tế
đã làm mất đi trạng thái đó.
2


+ Ảnh hưởng đến nhà sử học đương thời Hêrôđốt (490-425 TCN); đến Eepho
(405-330 TCN)...
- Có thể nói, lý thuyết “Trạng thái tự nhiên” đối lập với chế độ tư hữu, CHNL và
đã trở thành tư tưởng phổ biến trong giới trí thức của xã hội Hy Lạp và là cơ sở triết học
của phái khắc kỷ hồi bấy giờ.
Như vậy, lý thuyết “Trạng thái tự nhiên” về đời sống cộng đồng nguyên thủy được
coi là một trong những mầm mống đầu tiên của lịch sử các tư trưởng XHCN.

đánh đập dẫn đến phong trào lan rộng.
2. Cuộc đấu tranh do Xpáctaquýt lãnh đạo (171 TCN)
3


Chế độ CHNL La Mã cổ đại cũng tương tự như Hy Lạp cổ đại. Người nô lệ
ở đây bị đối xử có phần tàn bạo hơn. Họ đấu tranh bằng cách hủy hoại các công cụ
sản xuất, cướp phá mùa màng, tài sản của quý tộc chủ nô và bỏ trốn. Càng về sau
càng có những hình thức mới quyết liệt hơn như bạo động có tổ chức, vũ trang
khởi nghĩa… Đó chính là mảnh đất hiện thực làm nảy sinh những mầm mống tư
tưởng XHCN hoặc CSCN ban đầu mộc mạc đơn sơ.
* Mầm mống tư tưởng XHCN và CSCN La Mã cổ đại
- Thể hiện trong tư tưởng Cơ đốc giáo sơ kỳ La Mã.
- Nội dung tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản tiêu dùng, “giang sơn ngàn năm của
Chúa”: phê phán cái ác, mơ ước xã hội mà những kẻ xấu, tàn ác bị trừng phạt, nhờ
phép mầu của Chúa để xây dựng giang sơn thánh thiện không còn đau khổ đói
nghèo, không có tội ác, con người sống bình đẳng, hạnh phúc.
- Tư tưởng đó mang tính ảo tưởng, hoang đường.
Ở La Mã cổ đại: Vì bị thất bại trong cuộc đấu tranh đầy khổ ải nên người ta
đi tìm hạnh phúc trong ảo tưởng của tôn giáo. Bởi vậy, trong tư tưởng của các tôn
giáo nguyên sơ thường chứa đựng những ước vọng của quần chúng lao khổ mang
những mầm mống XHCN và CSCN. Họ mơ ước sự xuất hiện một vị thần linh có
thể xóa bỏ mọi bất công trong XH và tạo lập một XH mới công bằng hơn.
Những mầm mống tư tưởng này chính là tiếng nói, là khát vọng của quần
chúng bị áp bức về một XH mới công bằng, bình đẳng và hòa bình nhưng còn rất
sơ khai và ngây thơ giản dị. Nội dung của nó chhủ yếu vẫn là sự thi vị hóa chế độ
nguyên thủy, về tính cộng đồng công hữu, tính công bằng và bình đẳng.
Về sau nó ngày càng mang tư tưởng tôn giáo thần bí và có tính chất hoang
đường. Những tư tưởng đó còn tản mạn mơ hồ cả về hình thức lẫn nội dung.
Tuy vậy nó cũng đã có những tác dụng nhất định, thôi thúc quần chúng đấu

. Giám mục, nhà thờ Cơ đốc giáo là chỗ dựa cho chế độ phong kiến.
. Tôn giáo trở thành một thế lực của xã hội phong kiến. Tư tưởng tôn giáo
chi phối nặng nề được tư tưởng xã hội, nó đóng vai trò thông soái hệ tư tưởng xã
hội phong kiến.
* Những phong trào dị giáo thời kỳ trung đại
Dị giáo là sự thể hiện dười hình thức tôn giáo ý nguyện chống phong kiến
của quần chúng lao động.
Những phong trào dị giáo điển hình:
- Phong trào dị giáo ở Bungari (bắt đầu từ thế kỷ X) có tên là “Thánh thiện”
mang tính chất chống phong kiến, giành quyền lợi cho nhân dân lao động (chủ yếu
là nông dân).
+ Biện pháp đấu tranh đòi phục hồi những truyền thống dân chủ của công xã
thiên chúa giáo sơ khai.
+ Mục đích của họ dạy cho đồng bào không tuân thủ chính quyền, nguyền
rủa bọ giàu có, vua chúa, phê phán bọn quan lại.
- Phong trào đấu tranh của giáo phái Cât và Vanđenxơ (Miền nam nước
Pháp).
+ Khẩu hiệu đấu tranh: Mọi tài sản đều là của chung và sở hữu riêng bị bãi
bỏ.
+ Tuyên truyền từ bỏ quyền lực vật chất.
+ Coi giáo hội là bộ máy thống trị bóc lột.
+ Coi Cơ đốc giáo chân chính là sự tiếp xúc giữa chúa và con người, con
người trực tiếp thi hành mệnh lệnh của Chúa mà không cần đến bộ máy giáo hội.
- Phong trào dị giáo ở miền Bắc Italia (Thế kỷ XIII): Đấu tranh của phái dị
giáo cộng sản, đứng đầu là Đôsinô.
+ Thực tiễn xã hội hiện thực sắp sụp đổ và sẽ tiến lên XHCS sơ kỳ.
+ Xây dựng xã hội mới không phải bằng con đường hoà bình mà bằng bạo
lực.
- Các giáo pháo cộng sản ở Anh (Thế kỷ XIV): Phong trào này được xây
dựng bởi những người từ các nước khác trong lục địa bị truy nã trốn chạy sang

- Những trào lưu tư tưởng và phong trào dị giáo đấu tranh chống cả thế
quyền và thần quyền, vì:
+ Giai cấp quý tộc, phong kiến đã lấy giáo lý tôn giáo làm công cụ bảo vệ sự
thống trị của mình.
+ Giai cấp quý tộc, phong kiến câu kêté chặt chẽ với giáo hội để bảo vệ sự
thống trị của mình, áp bức nhân dân lao động.
+ Lấy hình mẫu của Công xã Cơ đốc giáo sơ kỳ để phê phán xã hội đương
thời và tiến xã hơn thực hiện tư tưởng này trong thực tế.
- Tư tưởng CSCN về phân phối bình quân chủ nghĩa, mang tính khổ hạnh,
hết sức hạn chế tiêu dùng trong phạm vi công xã nhỏ.
+ Xã hội lúc này đang bị phân hoá nặng nề.
+ Một bộ phận giàu sang phú quý “ngồi mát ăn bát vàng”, đại bộ phận quần
chúng bị bóc lột đến cùng.
Phản ứng một cách tự nhiên, muốn có một xã hội bình quân theo kiểu chia
đều, mang tính tiêu dùng và hưởng thụ, vì: Tâm lý sản xuất nhỏ, chưa hình dung ra
chế độ CSCN trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, dựa trên cơ sở kinh tế là
công hữu về tư liệu sản xuất.
- CNCS thời trung đại phần nhiều mang tính chất vô chính phủ.
+ Phủ nhận vai trò của nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội.
+ Nhà nước là nguòn gốc của mọi tệ nạn xã hội.
6


+ Xoá bỏ mọi quyền lực trong xã hội.
- Những trào lưu cộng sản thời kỳ trung đại phần nhiều mang tính chất phi
bạo lực.
+ Chủ trương biến đổi đời sống xã hội bằng con đường tuyên truyền và cầu
mong sự thay đổi của tầng lớp thống trị.
+ Chưa nhận thức được vai trò to lớn của quần chúng trong quá trình phát
triến của lịch sử.

ĐCPK, đề cao vai trò con người và tự do cá nhân, đề cao tính dân tộc.
* Nội dung tư tưởng XHCN trong tác phẩm “Không tưởng”
7


- Phê phán sâu sắc xã hội đương thời, đó là chế độ xã hội phản động, bảo thủ
và hà khắc.
+ Xã hội hình thành 2 cực đối lập, 2 trạng thái tương phản: kẻ giàu có đến
tột đỉnh và người nghèo khó đến tận cùng. Ông chỉ ra trong xã hội “bên cạnh sự
nghèo nàn thảm hại lại có sự xa hoa táo bạo”. Kêu gọi: “Hãy chặn bàn tay vơ vét
của bọn giàu có, hãy chống lại sự chuyên quyền độc đoán, tàn bạo của bọn thống
trị, hãy xoá bỏ sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội”.
+ Nguyền rủa tính tàn bạo, bất chấp đạo lý và lương tâm của bọn tư sản mới
trong thời kỳ tích luỹ ban đầu TBCN với hình ảnh “cừu ăn thịt người”. Ông viết:
“Những con cừu thường rất dễ tinh và không đòi hỏi gì nhiều, nhưng ngày nay trở
thành những con vật háu ăn thậm chí không thể chế ngự nổi,… ăn thịt người…”
+ Chỉ ra nguyên nhân sâu xa của mọi tệ nạn xã hội: đó là chế độ tư hữu,
“không có công bằng, bình đẳng trong xã hội”. Cần xoá bỏ chế độ tư hữu – nguồn
gốc sâu xa của mọi bất công. “tôi hoàn toàn tin tưởng rằng không thể phân phối
mọi thứ ngang nhau và công bằng như nhau, và cũng không thể quản lý xã hội 1
cách tốt nhất không bằng cách nào khác là việc hoàn toàn xóa bỏ chế dộ tư hữu”.
- Trình bày dự án tổng thể về một xã hội tốt đẹp hơn.
+ Về kinh tế:
Nền kinh tế thống nhất dựa trên chế độ công hữu về TLSX và tư liệu tiêu
dùng.
Lấy kinh tế gia đình là đơn vị kinh tế của xã hội.
Lao động sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng, nhưng vất
vả và nặng nhọc. Mọi người đều phải thực hiện nghĩa vụ lao động, thời gian 2
năm.
Dân cư sống tập trung ở các thành thị và đó là trung tâm kinh tế.

được pháp luật bảo vệ.
- Về quan điểm và thái độ đối với tôn giáo: Thừa nhận sự tồn tại của tôn
giáo, song tôn giáo đã được duy lý hoá, không còn những gì trái với lý trí lành
mạnh của con người.
- Vấn đề con người:
+ Con người là giá trị cao nhất và không còn gì sánh được với sinh mạng
con người.
Tư tưởng về thời gian lao động của con người trong xã hội: 1 ngày lao động
6 tiếng, chia làm 2 ca, 10 giờ giành cho hoạt động khoa học, văn học, vui chơi giải
trí, quan hệ xã hội => còn lại ngủ nghỉ.
+ Xã hội tôn trọng và yêu thương mỗi con người cụ thể, bênh vực người
nghèo khổ, bị áp bức.
Hướng tới mục tiêu là làm cho con người sống hạnh phúc, sung sướng hơn.
- Quan điểm con người trong xã hội tốt đẹp đối với vấn đề chiến tranh và
hoà bình: Xã hội hoà bình, phi bạo lực và chiến tranh, căm ghét chiến tranh.
* Những giá trị và hạn chế
- Những giá trị:
+ Tác phẩm là viên gạch đầu tiên đánh dấu sự phát triển của CNXHKT trong
lịch sử tư tưởng nhân dân.
+ Phê phán sâu sắc xã hội đương thời, đưa ra mô hình xã hội mới trong
tương lai.
+ Có nhiều quan điểm có giá trị về mặt lý luận.
- Những hạn chế:
+ Quan điểm trong tác phẩm là sản phẩm tư duy thuần tuý, chưa có sơ sở để
thực hiện.
+ Chưa chỉ ra biện pháp, lực lượng xã hội nào để thực hiện xã hội tốt đẹp
trong tương lai – hình thức là một tác phẩm văn học.
+ Nguyên nhân hạn chế: Do thành phần xuất thân; Do điều kiện KT-XH lúc
bấy giờ.
* Ý nghĩa

- Trong thời kỳ nội chiến ở Anh, G.Uynxtenli đã tích cực viết các tài liệu tuyên
truyền kêu gọi và tổ chức quần chúng lao động đứng lên đấu tranh.
+ Ông thành lập phái “Đào đất”, lúc đầu nhằm tập hợp những người lao
động thiếu ruộng đất đi khai thác, phục hoá đất hoang, đất vô chủ.
+ G.Uynxtenli cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị như: “Ngọn cờ do những
người chủ trương bình đẳng chân chính dựng lên”; “Món quà năm mới giữa nghị
viện và quân đội”...
+ Trong hoàn cảnh mới, GCTS, bọn quí tộc phong kiến tìm cách thủ tiêu các
thành quả của phái “Đào đất”. Đến năm 1650, phái “Đào đất” bị tan rã hoàn toàn.
- G.Uynxtenli trốn thoát sự truy lùng của bọn thống trị, viết những tác phẩm
mới, trong đó có “Luật tự do” viết năm 1652, chứa nhiều nội dung tư tưởng XHCN
đặc sắc.
* Nội dung tư tưởng XHCN của G.Uynxtenli
- Phê phán xã hội đương thời
+ Ông lên án sự bóc lột tàn bạo và thâm độc của giai cấp thống trị.
+ Ông phê phán những điều vô lý, bịa đặt trong các giáo lý và hoạt động của
giáo hội. Ông cho rằng cơ sở để nhận thức chân lý không phải là Kinh thánh cũng
không phải là “khai thị của Chúa” mà là khai thị trực tiếp, là “tiếng nói bên trong
của các tín đồ”. .
+ Ông phủ nhận chế độ tư hữu về ruộng đất.
10


+ Ông lên án vương triều Anh tập trung của mọi sự tham lam, là trung tâm
quyền lực của bọn ích kỷ, luôn dùng gươm để giết hại dân lành.
- Về mô hình xã hội tương lai.
+ Về kinh tế:
Nền kinh tế dựa trên chế độ cộng đồng về ruộng đất và các sản phẩm lao
động. Sở hữu công xã trên đất đai vô chủ, hoang hoá là hợp lẽ tự nhiên.
Gia đình là đơn vị cơ sở sản xuất (nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp) gắn

- Ông đã có tác phẩm triết học đầu tay nổi tiếng: "Triết học dựa trên cảm
giác", nhưng nổi tiếng nhất là tác phẩm "Thành phố mặt trời" (1601).
* Nội dung tư tưởng XHCN không tưởng của T.Campanenla
11


Bằng hình thức đối thoại giữa các nhân vật trong câu chuyện hư cấu,
Campanenla đã trình bày những quan điểm có tính XHCN:
- Về kinh tế
+ Nền kinh tế dựa trên nền tảng chế độ công hữu toàn diện: đất đai, vườn
tược, nhà cửa, công cụ sản xuất, sản phẩm lao động, tư liệu sinh hoạt...
+ Tổ chức quản lý lao động sản xuất được duy trì chặt chẽ, nghiêm túc, công
bằng với tất cả thành viên xã hội.
+ Quan tâm phát triển nông nghiệp, đảm bảo cho nguồn sống no đủ của con
người, các ngành sản xuất thủ công nghiệp, thương mại cũng được chú ý.
+ Lao động 4 giờ trong ngày, thời gian còn lại để học tập, nghiên cứu khoa
học, vui chơi giải trí, thể thao, du lịch...
+ Cơ sở sản xuất là các công xã - hình thức lao động tập thể.
+ Về phân phối: thực hiện phân phối sản phẩm lao động theo kết quả lao động
và theo nhu cầu.
=> Campanenla quan niệm rằng: với việc sở hữu tập thể, tổ chức lao động và
phân phối đều nhau, có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ, xã hội sẽ không có người
giàu, người nghèo, mà xã hội vừa giàu vì ai cũng có mọi thứ họ cần, và vừa nghèo
vì không ai có gì là của riêng mình cả.
- Về chính trị - xã hội
+ "Thành phố mặt trời" có cơ cấu xã hội rất độc đáo. Nền tảng xã hội là
những người lao động chân tay và lao động trí óc trong các ngành nghề đa dạng,
tính chất, trình độ lao động khác nhau nhưng không có sự phân biệt đẳng cấp.
+ Nhà nước được tổ chức theo kiểu cộng hoà các chức vụ chủ chốt đều được
nhân dân tín nhiệm bầu ra, người đứng đầu là "ông mặt trời".

* Hoàn cảnh lịch sử nước Pháp thế kỷ XVIII
Về kinh tế- xã hội
Trong thế kỷ XVIII, phương thức sản xuất TBCN từng bước chiến thắng
phương thức sản xuất phong kiến.
- Nền kinh tế TBCN đã chiến thắng ở các thành thị, đang tiến triển mạnh mẽ
tới các vùng nông thôn.
- GCTS cũng đã bắt đầu mở rộng sự thống trị, áp bức ra thế giới.
=> Như vậy sự phát triển của lực lượng sản xuất TBCN, các quan hệ tư sản
trong các nước châu Âu thôi thúc GCTS châu Âu bước lên vũ đài chính trị để tuyên
chiến với chế độ phong kiến.
Về chính trị - xã hội
- Đến giữa thế kỷ XVIII, ở nước Pháp chế độ phong kiến chuyên chế của
dòng họ Buốc Bông - sản phẩm của sự cố kết giữa tầng lớp quí tộc phong kiến và
giáo hội Cơ đốc giáo - đã mục ruỗng và đang lung lay.
- Mâu thuẫn giữa GCTS và phong kiến đã gay gắt cực điểm.
Về văn hoá – xã hội
- Thế kỷ XVIII ở châu Âu văn hoá, nghệ thuật và tư tưởng, đỉnh cao là
phong trào Khai sáng phát triển rực rỡ.
+ Đề cao, ca ngợi tư tưởng tự do, dân chủ, nhu cầu vật chất của con người;
tuyên chiến với lễ giáo cổ hủ phong kiến, tiến công vào giáo hội, giáo lý tôn giáo
cũng như những công cụ nô dịch tư tưởng con người.
+ Phong trào Khai sáng đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lớn như Vônte, Rút
xô, Mongtekiơ, Hécđe, Létxanh...
* Giăng Mêliê (1664-1729)
- Giăng Mêliê sinh năm 1664 tại miền SămPanhơ (Pháp) trong gia đình thợ
dệt; ông học trong trường dòng, song chịu nhiều ảnh hưởng các quan điểm triết
học duy vật, vô thần khác nhau.
- Năm 23 tuổi, ông được phong linh mục và hành đạo ở làng Eitơrơpênhi
đến tận cuối đời; rất gần gũi với nông dân.
- Trong những năm cuối đời, ông đã viết “Di chúc của tôi”, có nhiều tư

. Hiệu triệu quần chúng đứng lên đấu tranh, thực hiện bình đẳng xã hội.
* Ý nghĩa

Câu 9: Nội dung tư tưởng XHCN không tưởng của Môrenly thế kỷ
XVIII? Rút ra ý nghĩa?
* Hoàn cảnh lịch sử nước Pháp thế kỷ XVIII (8)
* Ph.răngxoa Morenly
- Tiểu sử của Morenly chưa rõ ràng.
- Tác phẩm nổi tiếng là “Bộ luật tự nhiên”, xuất bản năm 1755 ở Amxtecđam
(Hà Lan) và đến 1841 được tái bản.
14


* Nội dung tư tưởng XHCN của Ph.răngxoa Morenly
- Ông mong muốn xây dựng quan điểm cộng sản không tưởng trên cơ sở lý
thuyết về quyền bình đẳng tự nhiên mà ban đầu là trạng thái thiên đường nguyên
thủy sau đó là một quá trình sai lầm, cuối cùng là tỉnh ngộ lại và muốn quay lại
trạng thái ban đầu nhưng có ý thức (ca ngợi chế độ CSNT)
- Ông chủ trương xóa bỏ chế độ tư hữu, cho đây là nguồn gốc của mọi tai
họa “ Ở đâu có quyền tư hữu ở đó sẽ có nguy hiểm”, “ ở bất cứ xã hội nào… quyền
tư hữu là tai họa”
- Mô hình xã hội tương lai
Về kinh tế:
Tư tưởng về kinh tế phác họa lên trên cơ sở quan điểm của ông về “thời đại
hoàng kim” đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại. Đó là chế độ công xã nguyên
thủy.
Về chính trị:
+ Thành lập chế độ cộng hoà dân chủ.
+ Nhà nước phải quản lý, điều tiết mọi hoạt động sản xuất, phân phối của cải
và duy trì được các lĩnh vực đời sống xã hội ổn định, hài hoà.

biện pháp cụ thể để có thể thực hiện được các tư tưởng cộng sản, cải thiện tình
cảnh của người nghèo và trấn áp các hành động chống đối của các lực lượng phản
cách mạng.
+ Sự cần thiết phải thực hiện nền chuyên chính cách mạng của những người
lao động: tước đoạt tài sản của giai cấp bóc lột; "cần phải dùng bàn tay sắt để trấn
áp mọi kẻ thù".
- Bước đầu chỉ ra được luận điểm về ĐTGC.
+ Ông cho rằng lịch sử là cuộc đấu tranh giữa bình dân và quí tộc, giữa người giàu
và người nghèo, giữa người chủ và tôi tớ, giữa kẻ no và người đói.
+ Ông còn dự báo tiến trình của quá trình cách mạng phải đi đến cùng, đến
cuộc cách mạng vĩ đại hơn.
- Mô hình xã hội mới:
+ Nền tảng kinh tế là chế độ công hữu, toàn bộ ruộng đất, của cải trên lãnh thổ đất
nước đều thuộc về toàn dân.
+ Nền sản xuất xã hội được tổ chức tập trung, chính quyền nhà nước trực
tiếp xác lập kế hoạch sản xuất, phân phối sản phẩm và tiêu dùng của xã hội và điều
tiết việc thực hiện các kế hoạch đó.
+ Trong xã hội chỉ những người lao động có ích cho tổ quốc mới có quyền
thống trị.
+ Mọi người đều phải lao động;
+ Thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động.
+ Công dân được nhận từ xã hội những thứ cần thiết để thoả mãn nhu cầu cơ
bản của mình. Xã hội phân phối sản phẩm cho mọi người theo phương châm "phải
chăng, chân thật".
+ Nhà nước kêu gọi công dân tự nguyện hiến tài sản cho công xã; thủ tiêu
quyền thừa kế tài sản; tài sản của người chết phải chuyển vào công xã.
+ Việc tước đoạt tài sản của những người chiếm hữu lớn tư liệu sản xuất sẽ tiến
hành dần dần, từng bước, chứ không thể và không nên tước đoạt ngay.
=> Những hoạt động chính trị thực tiễn và dự án những biện pháp cách
mạng của phái Babớp là khuynh hướng cộng sản trong thực tế, phản ánh nhu cầu

- Từ hiện thực xã hội vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã làm CNXH
không tưởng ở Tây Âu đã phát triển đến đỉnh cao của nó – CNXH không tưởng phê
phán. Với những đại biểu kiệt xuất của thời kỳ này là Xanhximông, Phuriê (Pháp) và
Ôoen (Anh).
* CLô- đơ Hăng-ri Ru- vơ Roa-đơ Xanh-xi-mông (1760 -1825)
- Xanh-xi-mông xuất thân trong một gia đình quý tộc Pháp, được học hành chu
đáo, kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực như triết học, sử học, kinh tế học...
- Năm 17 tuổi ông tham gia quân dịch và tham gia chiến đấu trong cuộc chiến
tranh giành độc lập của Hoa kỳ, đến năm 1783 ông về nước. Trong thời kỳ cách mạng
tư sản Pháp ông gia nhập phái Gia cô banh.
- Khoảng từ năm 1797 Xanh-xi-mông lưu tâm đến khoa học: nghe giảng ở
trường đại học, nghiên cứu ở thư viện, đi thăm Anh và Đức vì mục đích học tập.
Ông bắt đầu cầm bút vào những năm đầu thế kỷ XIX.
Các tác phẩm chủ yếu của Xanh-xi-mông gồm có :
- “Những bức thư của một người ở Giơnevơ gửi những người cùng
thời”(1802);
- “Khái luận khoa học về con người” (1813 -1816);
- “Tác phẩm về vạn vật hấp dẫn” (1813-1822);
- “Những bức thư gửi một người Mỹ” (1817);
- “Bàn về hệ thống công nghiệp” (1821);
- “Sách hỏi đáp của các nhà công nghiệp” (1823 -1824);
- “Đạo Cơ đốc mới” (1825)....
* Nội dung tư tưởng XHCN không tưởng của Xanhximông
- Tư tưởng về sự phát triển xã hội
+ Xanhximông coi sự phát triển của lịch sử có tính quy luật khách quan,
trong đó vai trò của khoa học, sản xuất công nghiệp gắn liền với CNTB có ý nghĩa
rất quan trọng.

17


+Theo Xanhximông sự ra đời của xã hội mới sẽ là kết quả tất yếu hợp qui
luật của lịch sử trước đó.
+ Xã hội tương lai xây dựng trên cơ sở nền đại công nghiệp có tổ chức khoa học
và có kế hoạch, nhưng vẫn duy trì chế độ tư hữu và các giai cấp.
+ Vai trò thống trị trong xã hội là thuộc về khoa học và công nghiệp, các nhà
khoa học và các nhà công nghiệp.
+ “Trong xã hội tất cả mọi người đều phải lao động”, xã hội phải bảo đảm
cho mọi người quyền được lao động, tính chất ăn bám của các tập đoàn thống trị
xã hội bị xoá bỏ.
+ Ông quan niệm xã hội như một xưởng lớn, mỗi người làm việc bằng khả
năng của mình.
+ Địa vị con người không phải do nguồn gốc xuất thân mà do năng lực của
họ quyết định; vị thế xã hội và thu nhập của mỗi người phải tỷ lệ với năng lực và
sự cống hiến của họ.
- Quan niệm về vai trò chính trị, nhà nước trong xã hội mới
18


Xanhximông cho rằng: chính trị chỉ là khoa học về sản xuất và dự báo chính
trị sẽ bị kinh tế nuốt mất.
Trong xã hội tương lai, việc quản lý con người sẽ bị thay thế bằng việc chi
phối tài vật và chỉ đạo sản xuất.
- Hạn chế:
+ Ông không hiểu được vai trò lịch sử của GCVS mà chỉ mới phản ánh sự đối
lập giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang ở trong quá trình phát sinh của nó.
+ Không phát hiện quy luật vận động phát triển của lịch sử.
+ Ông không thấy cách mạng là phương thức để cải tạo xã hội cũ, mà còn
ngây thơ tin vào việc tuyên truyền vận động hoà bình để làm chuyển biến xã hội
hiện tại thành xã hội XHCN tương lai.
* Ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc ĐTGC ở nước ta hiện nay?

- Phê phán xã hội sâu sắc xã hội tư sản.

19


+ Ông lột trần cảnh khốn cùng của những người lao động trong xã hội tư sản. Những
người lao động làm ra sản phẩm thì được hưởng quá ít còn những kẻ không làm thì được
hưởng quá nhiều.
+ Ông phê phán quan hệ hôn nhân tư sản, đấu tranh cho địa vị bình đẳng của
phụ nữ trong xã hội. Ông quan niệm: Trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo tự
nhiên của sự giải phóng xã hội.
+ Xã hội tư sản vận động trong vòng luẩn quẩn, không thể khắc phục được
các mâu thuẫn vốn có:Trong xã hội văn minh, “sự nghèo khổ sinh ra từ chính bản
thân sự thừa thãi”.
- Quan niệm về giai cấp
+ Ông chia xã hội ra làm hai đẳng cấp cơ bản: đẳng cấp người giàu và đẳng
cấp người nghèo.
+ ĐTGC, “chiến tranh huynh đệ tương tàn của các giai cấp” là điều bất hạnh
lớn nhất đối với loài người.
+ Theo Phuriê trật tự XHCN không thiết lập sự bình đẳng xã hội nhưng sẽ
dẫn đến sự hợp tác giữa các giai cấp trong những liên hợp sản xuất và những tổ
chức xã hội khác của chế độ hoà hợp và sẽ có khả năng “thoả mãn tất cả mọi giai
cấp”.
- Động lực phát triển xã hội
+ Khẳng định vai trò của môi trường và giáo dục đối với việc đào tạo con người.
+ Ông cho rằng mọi dục vọng và mọi đam mê của con người đều tốt đẹp.
Với triết lý Không phải con người hư hỏng mà cái xã hội anh ta sống mới hư hỏng.
Vì vậy, cần tạo ra chế độ xã hội góp phần thoả mãn đầy đủ, phát hiện và phát huy
các dục vọng của con người.
+ Ông chia dục vọng của con người thành ba nhóm:

gia đình đa dạng nhiều vẻ; ông đề ra cho Fa lăng giơ XHCN ba loại yêu đương: Vợ chồng, người theo gái và người theo trai, nhân tình.
+ Phuriê rất quan tâm việc giải phóng phụ nữ, là người đầu tiên tuyên bố, trình
độ giải phóng phụ nữ là thước đo tự nhiên của sự giải phóng chung.
- Hạn chế
Học thuyết XHCN của Phuriê còn chứa đầy mâu thuẫn:
+ Ông thừa nhận tồn tại tư hữu tư sản dưới những hình thức cổ phần
+ Ông phản đối phương pháp đấu tranh cách mạng để cải tạo xã hội;
+ Ông phủ định mọi hình thức dân chủ đã có trong lịch sử, cho rằng, dưới xã
hội văn minh, dân chủ chỉ là một điều ảo tưởng.
+ Ông có ý định và hy vọng thực hiện các dự án XHCN bằng cách tuyên truyền,
thuyết phục và kêu gọi giai cấp có của (tư sản) ủng hộ để thực hiện.
Ăngghen đã nhận xét: “Càng phẫn nộ đối với sự bóc lột, GCCN không thể
tránh khỏi trong phương thức sản xuất ấy thì nó lại càng không thể hiểu rõ sự bóc
lột ấy là ở chỗ nào và sinh ra như thế nào”.
* Ý nghĩa
Câu 13: Những giá trị lịch sử và hạn chế trong tư tưởng XHCN phê
phán không tưởng của Rôbớc Ôoen? Rút ra ý nghĩa?
* Hoàn cảnh lịch sử châu Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (12)
* Rôbớc Ô-Oen (1771-1858)
- Sơ lược tiểu sử: Ông sinh ra trong một gia đình tiểu thủ công nước Anh. Là
người có tài về năng lực tổ chức quản lý. Năm 1787 ông sống ở Mansetxto, và tự
khẳng định nghề nghiệp của mình. Năm 20 tuổi ông có nhiều cải tiến kỹ thuật ứng
dụng vào sản xuất và ít lâu sau trở thành giám đóc nhà máy công ty kéo sợi. Năm
1824, ông sang Mỹ thực hiện dự án của mình ở bang Indiana. Năm 1839, ông về
nước khi của cải đã khánh kiệt và tiếp tục hoạt động trong phong trào công nhân.
- Tác phẩm chính: “Nhận xét về ảnh hưởng của hệ thống công nghiệp”,
“Luật công xưởng”.
* Những tư tưởng lớn của Rôbớc Ô-Oen:
- Hoạt động thực tiễn có tính “XHCN kiểu mẫu”:
Ông tiến hành thí nghiệm có một không hai ở Nui-la-nác: Là một nhóm công

* Giá trị lịch sử
- Đã phê phán ngày càng sâu sắc, toàn diện CNTB và phủ nhận nó từ khi
mới ra đời.
Tomatmorơ: Phê phán kịch liệt chế độ quân chủ chuyên chế, lên án chính
sách xâm lược của bọn vua chúa, nhấn mạnh hiện tượng ghê tởm của quá trình tích
lũy ban đầu tư bản với hình ảnh “cừu ăn thịt người”.
Xanhximông: Vạch trần điều bất hợp lý trong xã hội tư bản bởi lẽ nó gây ra
tình trạng vô chính phủ, tàn phá xã hội. Đó là một xã hội đầy rẫy những đặc quyền,
đặc lợi với bao nghịch cảnh xã hội mà người nghèo phải thương lượng với người
giàu, kẻ vô đạo đức lên mặt dạy đời người dân lương thiện, kẻ lớn nhất đi trừng trị
những lỗi lầm nhỏ.
- Chỉ ra chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguyên nhân của mọi tội lỗi và
tệ nạn xã hội; cần phải xoá bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất.
Ô-Oen: “Chế độ tư hữu đã và đang là nguyên nhân của vô số tội phạm và tai
họa mà con người phải chịu đựng”.
- Đưa ra mô hình xã hội tương lai khá toàn diện trên các lĩnh vực như kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội...
- Dự kiến nhiều ý định tốt đẹp cho xã hội tương lai (Đã nêu lên nhiều luận
điểm có giá trị, nhiều dự đoán thiên tài về sự phát triển của xã hội tương lai) Đó là:
Xóa bỏ áp bức bóc lột; Giải phóng phụ nữ; Giáo dục con người; Phân phối theo lao
động; Sự tự tiêu vong của nhà nước CCVS.
Tomatmorơ: Xã hội không tưởng là một khối thống nhất dựa trên chế độ
công hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất.
Xanhximông: Có nhận xét sâu sắc về giai cấp và ĐTGC, hay tư tưởng xóa
bỏ giai cấp và nhà nước. Ông cho rằng: chính trị chẳng qua chỉ là khoa học về sản
xuất, sớm muộn cũng sẽ bị kinh tế nuốt mất.
Phuriê: Đã phác họa bức tranh lịch sử qua các giai đoạn: Mông muôi  dã man
 gia trưởng  văn minh. Tư tưởng về giải phóng phụ nữ: Trình độ giải phóng phụ
nữ là thước đo chính xác, tiêu chí để xem xét xã hội đó.

- Các nhà không tưởng mặc dù đã phát hiện, phê phán và lên án tội ác của xã
hội tư bản nhưng họ không vạch ra được “bức màn bí mật” của tình trạng đó. Có
người còn cho ràng do ý chúa chưa được thực hiện hoặc do ý thức của con người
chưa được thức tỉnh.
- Không thấy được vai trò SMLS của GCCN (đây là hạn chế lớn nhất). Họ
bênh vực người nghèo khổ nhưng chưa trong số họ thấy được vai trò nhân tố cách
mạng trong những người nghèo khổ ấy. Họ chưa tháy được vai trò của GCCN, coi
GCCN cúng như những người lao động khác mà thôi.
- Con đường và biện pháp đưa ra không mang tính cách mạng, koa học để
cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Một số cách mà các nhà không tưởng nêu
ra:
+ Làm cho mọi người, nhất là những kẻ cầm quyền biết điều và có học thức,
có đạo đức.
+ Thay đổi các luật lệ cũ bằng các luật lệ mới.
+ Bằng âm mưu của một nhóm người mang tính chất manh động.
+ Kêu gọi lòng hảo tâm của những kẻ quyền quý.
+ Bằng tổ chức mô hình thực nghiệm (Ô-Oen).
* Nguyên nhân của những hạn chế
- Về khách quan:
+ PTSX TBCN mới ra đời chưa phát triển đầy đủ, nền đại công nghiệp chưa
phát triển mạnh mẽ nên nảy sinh mâu thuẫn xung đột và phương pháp giải quyết
chưa chín muồi.
+ Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội còn đang ở trình độ phát triển nhất
định.
23


+ GCCN chưa có đủ năng lực hành động với tư cách là một giai cấp độc lập,
cuộc đấu tranh của học đang ở trình độ tự phát.
- Về chủ quan: Các nhà tư tưởng XHCN thời kỳ này còn chịu ảnh hưởng ít

Đuyrinh (1843-1921) là nhà triết học, đồng thời là nhà kinh tế, là trợ giảng
trường đại học. Tư tưởng nổi bật của Đuyrinh là tư tưởng tiểu tư sản phản động.
Do đó những tư tưởng Đuyrinh ảnh hưởng tới phong trào công nhân và phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Trong các tác phẩm Đuyrinh ra sức xuyên tạc chủ
nghĩa Mác trên tất cả các bộ phận. C.Mác và Ăngghen đã có những bài viết phê
pháp Đuyrinh để bảo vệ tư tưởng XHCN.
Theo yêu cầu của Pômlaphácgơ con rể C.Mác, Ăngghen soạn lại thành 3
chương trong đó chống Đuyrinh gồm chương 1,2 và 3 thàng một tác phẩm riêng và
24


lấy tên là "Sự phát triển CNXH từ không tưởng đến khoa học". Công việc này
Ăngghen hoàn thành vào tháng 3 năm 1880.
Vào năm 1877-1878 trên những tờ báo tiên tiến, Ăngghen đã cho đăng một
loại các bài phê phán Đuyrinh. Sau đó các bài này được in thành sách "ông
Đuyrinh đảo lộn khoa học" gồm:
Lời tựa
Phần 1: Triết học (từ trang 275-293)
Phần 2: Kinh tế chính trị (từ trang 294-305)
Phần 3: CNXH (từ trang 306-333)
Thông qua tác phẩm Ăngghen đã bảo vệ phát triển những tư tưởng của Mác
trên cả 3 bộ phận.
Tác phẩm trình bày một cách toàn diện hệ thống những tư tưởng của chủ
nghĩa Mác-Lênin
Tác phẩm có ảnh hưởng lớn tới phong trào công nhân vào những năm cuối
thế kỷ XIX.
* Nội dung chính của tác phẩm
Tư tưởng xuyên suốt là thông qua phê phán quan điểm sai trái của Đuyrinh
để luận chứng quá trình chuyển biến của CNXH từ không tưởng đến khoa học
(được trình bày trong phần 1 và phần 2 của tác phẩm). Qua đó rút ra những nhiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status