TIỂU LUẬN TRIẾT học sự CHUYỂN hóa các mặt đối lập TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG - Pdf 38

hcohh

Tiểu luận: PHẦN DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Chủ đề: “SỰ CHUYỂN HÓA CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG”

LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật
và phương pháp biện chứng. Đồng thời là một trong những phạm trù trung tâm
của triết học Mác Lê nin nói chung, của chủ nghĩa duy vật hiện đại nói riêng.
Hiểu về phép biện chứng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn khi
nghiên cứu về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong phép
biện chứng, Lênin đã viết “ có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là một


2

học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là hiểu được hạt nhân
của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một
sự phát triển thêm”1.
Song để có cái nhìn tổng quan về phép biện chứng, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác Lê nin đã khái quát phép biện chứng là “ môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người
và tư duy.”2. Đó là một học thuyết toàn diện nhất, sâu sắc nhất, cách mạng nhất
về sự liên hệ phổ biến và sự phát triển.
Phép biện chứng là một học thuyết toàn điện đề cập đến mọi vấn đề thuộc
đối tượng nghiên cứu của triết học. Trong phạm vi một tiểu luận nhỏ, do điều
kiện thời gian, không gian, giới hạn phạm vi và trình độ nghiên cứu…nên không
thể đề cập tới tất cả các nội dung của phép biện chứng mà chủ yếu tập trung làm
rõ một số vấn đề thuộc phạm trù “chuyển hoá”. Trong đó đi sâu về sự chuyển
hóa của các mặt đối lập và những vận dụng của nó trong thực tiễn của phong trào

tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khoá của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián
đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu
diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới” 1.
Như vậy, khái niện chuyển hoá ở đây dùng để chỉ sự biến đổi của sự vật
này sang sự vật khác , của hiện tượng này thành hiện tượng khác. Điều này về
mặt khoa học tự nhiên, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng
minh đó là năng lượng không những luôn được bảo toàn mà còn luôn luôn có sự
chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác ( từ cơ năng sang nhiệt năng, từ nhiệt
năng sang điện năng..v.v). Trong giới tự nhiên có sự chuyển hoá từ giới vô cơ
thành giới hữu cơ, từ động vật thấp đến động vật cao .v.v... Khi chứng minh sự
vận động phát triển của xã hội loài người, Ăng ghen đã khẳng định về vai trò của
lao động trong sự chuyển hoá từ vượn thành người. Nhưng “sự chuyển hoá”như
thế rất phổ biến. Đó là một nguyên lý quan trọng của phép biện chứng khách
quan.
Trong tư duy phép biện chứng lại nói đến sự chuyển hoá của những khái
niệm. điều này chính Hê Ghen là người đã đưa ra phép biện chứng của những
khái niệm , nhưng đó là phép biện chứng duy tâm. Khắc phục những thiếu sót
của Hê ghen, chắt lọc những “hạt nhân hợp lý”ự trong phép biện chứng đó,
Lênin đã viết: “Trong sự thay thế, sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khái
niệm, trong tính đồng nhất của tất cả các mặt đối lập của chúng, trong những
chuyển hoá của những khái của một khái niệm này sang một khái niệm khác,
trong sự thay thế , sự vận động vĩnh viễn của những khái niệm, Hê ghen đã đoán
1

Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va. 1981 trang 379


4

được một cách TÀI TÌNH CHÍNH MỐI QUAN HỆ NHƯ VẬY, CỦA SỰ VẬT,

Nghiên cứu quy luật hạt nhân của phép biện chứng chúng ta có thể khái
quát nội dung của quy luật như sau: mỗi sự vật hay hiện tượng là một thể thống
nhất bao gồm hai mặt đối lập. Hai mặt đối lập này đấu tranh với nhau, bài trừ lẫn
nhau, làm cho sự vật, hiện tượng luôn vận động , phát triển không ngừng. Quá
trình đấu tranh đó diễn ra thông qua nhiều giai đoạn, đến một lúc nhất định hai
mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau, khi đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ
mất đi, sự vật mới ra đời.
Lê nin khi bàn về các yếu tố cấu thành phép biện chứng đã khẳng định
nguyên lý về sự chuyển hoá của các mặt đối lập như sau: “không phải chỉ là sự
thống nhất của các mặt đối lập mà còn là chuyển hoá của mỗi quy định, chất
đặc trưng , mặt, thuộc tính sang mỗi cái khác [sang cái đối lập với nó]”1.
Vấn đề đặt ra là hiểu sự chuyển hoá dó như thế nào cho đúng ?
Trước hết cần chú ý rằng “chuyển hoá” là một phạm trù triết học với tính
chất trừu tượng cao, nó khái quát những hiện tượng chuyển hóa muôn hình muôn
vẻ của sự vật khách quan. Nên không được hiểu khái niệm đó một cách đơn giản
máy móc. Sự chuyển hóa diễn ra đa giạng, Tuỳ theo từng sự vật có mâu thuẫn
khác nhau mà sự chuyển hoá của các mặt đối lập cũng diễn ra một cách khác
nhau. Ở mỗi trường hợp riêng biệt lại phải giải thích sự chuyển hoá cụ thể của
những mặt đối lập đúng như trong thực tế diễn ra . tuyệt đối không được coi mọi
sự chuyển hoá đồng loạt như nhau . Ở những trường hợp cụ thể có những sự
chuyển hoá cụ thể. Phương thức chuyển hoá lẫn nhau là hết sức phong phú và đa
dạng. Tính chất phong phú và đa dạng này, một mặt là do tính chất của mâu
thuẫn, mặt khác là do tính chất của điều kiện lịch sử trong đó diễn ra cuộc đấu
tranh giữa các mặt đối lập quy định. Nhưng bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng
hướng tới sự phá vỡ sự thống nhất cũ để thiết lập sự thống nhất mới cao hơn, và
vì thế, bất cứ sự chuyển hoá nào cũng không phải là sự chuyển đổi vị trí giản đơn
giữa hai mặt đối lập. Tuy nhiên suy đến cùng tất cả đều là sự chuyển hóa của các
1

Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va. 1981 trang 240.

thức thống trị tư bản chủ nghĩa như một chất mới so với phương thức thống trị của
1
2

Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va. 1981 trang 133
Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va. 1981 trang 240


7

các giai cấp trước đó trong lịch sử phát triển xã hội, trong Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản C. Mác so sánh: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một
thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn tất cả các thời đại
trước gộp lại”3
Như vây có thể khẳng đinh nội dung cơ bản của quy luật chuyển hoá từ
những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại như
sau: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần
dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản về chất của
sự vật thông qua bước nhảy tại điểm nút; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới
sự thay đổi về lượng .
Trong đời sống xã hội cũng vậy, sự vận động biến đổi, chuyển hoá của xã
hội loài người là tuyệt đối. Nhưng do tính chất đặc thù của xã hội nên việc thực
hiện bước chuyển hoá đó như thế nào lại còn phụ thuộc rất lớn ở ý muốn chủ
quan của con người. Các dân tộc, các quốc gia muốn thực hiện bước rút ngắn, đi
tắt đón đầu trong sự phát triển một mặt cũng không thể nôn nóng đốt cháy giai
đoạn, mặt khác lại hoàn toàn không thể thụ động nằm chờ mà phải xem xét, vận
dụng một cách linh trong những điều kiện cụ thể, vừa thực hiện bước tuần tự,
vừa thực hiện bước nhảy vọt, vừa đảm bảo tôn trọng quy luật khách quan, vừa
phát huy cao độ nhân tố chủ quan trong xem xét và vận dụng. Một nguyên tắc
bất di bất dịch là để có sự chuyển hoá về chất của một xã hội đòi hỏi phải tích

không thể lìa nhau, vừa đối lập nhau, và dù đối lập đến mấy đi chăng nữa, hai
cái dó vẫn thâm nhập nhau”1. Vậy ở đây hai mặt khẳng định và phủ định chuyển
hoá lẫn nhau như thế nào? Trước hết ta phải hiểu mặt khẳng định là cái cũ, mặt
phủ định là mầm mống của cái mới , kết quả của cuộc đấu tranh giữa cái cũ và
cái mới là cái cũ mất đi, cái mới chiến thắng và thay thế cái cũ .Tuy nhiên cái cũ
chưa mất đi hoàn toàn và cũng không thể mất đi hoàn toàn mà những yếu tố tích
cực của nó vẫn còn được duy trì trong cái mới. Khi sự vật mới được hình thành ,
nó lại trở thành cái khẳng định vì nó tồn tại và cố duy trì cho sự tồn tại của mình.
Nhưng trong lòng nó bắt đầu nảy sinh những yếu tố phủ định nó và đó là mầm
mống của cái mới khác. Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập được hiểu là giữa
1

PH. Ăng ghen;’ chống Đuy-rinh, nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1971, trang 36


9

cái cũ và cái mới, cái tích cực và cái tiêu cực. Cái mới phủ định cái cũ,cái tích
cực phủ định cái tiêu cực… cũng đồng thời đó là quá trình thực hiện sự chuyển
hoá giữa các mặt đối lập. Đây là quy luật về sự chuyển hóa giữa cái cũ và cái
mới. Trong xã hội, quy luật này luôn hoạt động theo đúng tuần tự như vậy, sự
thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội là sự phủ định giữa hình thái
kinh tê xã hội tiến bộ đối với hình thái kinh tế xã hội lạc hậu. Và tính chu kỳ của
nó là xã hội loài người tất yếu phải tiến lên chủ nghĩa cộng sản với bản chất của
xã hội là cơ bản giống hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thủy nhưng đó là
một xã hội mới và phát triển cao hơn. Thực hiện quy luật đó, Đảng ta trong quá
trình lãnh đạo cách mạng đã vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với quy luật
phát triển tất yếu của lịch sử và điều kiện hoàn cảnh Việt Nam. Đó là bằng mọi
giá phải giành cho được độc lập, phải thay thế xã hội thối nát nửa thực dân
phong kiến bằng một xã hội mới và chúng ta đã thực hiện bước quá độ tiến lên

Về sự chuyển hoá giữa hai mặt đối lập Nguyên nhân và kết quả. Trước hết
cần thấy rằng đây không phải là vòng luân hồi luẩn quẩn : từ nguyên nhân sinh
ra kết quả rồi kết quả này lại trở thành nguyên nhân của cái sinh ra nó. ở đây chỉ
có thể hiểu là: Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng kết quả này lại là nguyên
nhân của cái khác do nó đẻ ra.
Ăng ghen đã khẳng định: “chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân và kết
quả là những biểu tượng chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi nào được
ứng dụng vào một trường hợp cá biệt; nhưng khi ta xét trường hợp cá biệt ấy
trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những biểu tượng ấy lại
hoà hợp với nhau , xoắn xuýt với nhau trong sự tác động qua lại lẫn nhau một
cách phổ biến. Trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho
nhau (chúng tôi nhấn mạnh - NTD), cái ở đây hay bây giờ là kết quả thì ở chỗ
khác hay lúc khác lại trở thành nguyên nhân và ngược lai.”1 Sự huyển hoá giữa
1

Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va, 1981, trang 380-381

1

PH. Ăng ghen;’ chống Đuy-rinh, nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1971, trang 36


11

các mặt đối lập nguyên nhân và kết quả cùng tồn tại trong một thể thống nhất
của sự vật hiện tượng là phổ biến, tuần tự theo mỗi quan hệ biện chứng giữa hai
phạm trù ấy.
Đối với cặp phạm trù Nội dung và Hình thức cũng luôn có sự chuyển hoá
lẫn nhau. Nhưng không phải là nội dung trở thành hình thức,nghĩa là nội dung
mất đi để hình thức ra đời hay ngược lại. Trong hiện thực khách quan nội dung


Bản chất và hiện tượng có thể chuyển hoá lẫn nhau. Bản chất hiện ra, tràn
ra hiện tượng, xâm nhập vào hiện tượng; còn hiện tượng không tách rời bản chất,
có tính bản chất. Sự chuyển hóa của bản chất và hiện tượng không có nghĩa là
bản chất trở thành hiện tượng và ngược lại. Bản chất không ẩn kín ở bên trong sự
vật một cách thần bí mà bao giờ nó cũng bộc lộ ra bên ngoài hiện tượng. Hiện
tượng không tách rời với bản chất, mà bao giờ nó cũng là hiện tượng của một
bản chất nhất định. Nó là mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng trong hiện
thực khách quan. Về mặt nhận thức chúng ta có thể nói tư duy của con người đi
từ hiện tượng đến bản chất, thông qua hiện tượng mà tìm ra bản chất của sự vật.
Như vậy cũng có thể gọi là sự chuyển hóa giữa bản chất và hiện tượng nhưng chỉ
ở trong quá trình nhận thức mà thôi. Còn tùy thuộc vào điều kịên cụ thể để xem
xét cụ thể mới thấy hết sự chuyển hóa đó. Tránh không được nhầm lẫn một cách
chung chung vô căn cứ.
Trong mối quan hệ giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cũng có sự chuyển
hóa lẫn nhau giữa hai mặt đối lập đó. ở đây sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt
đối lập tất nhiên và ngẫu nhiên được biểu hiện theo hai nghiã:
Thứ nhất: có cái là ngẫu nhiên trong mối liên hệ này lại là cái tất nhiên
trong mối liên hệ khác.
Thứ hai: có hiện tượng từ chỗ là ngẫu nhiên phát triển thành tất
nhliên và ngược lại. Sự chuyển hóa này cũng giống như sự chuyển hóa của cái
riêng và cái chung. Về vấn đề này Lê nin đã viết: “ khoa học tự nhiên chỉ cho
chúng ta …giới tự nhiên khách quan với cùng những tính chất như vậy của nó,
sự chuyển hóa từ cái riêng thành cái chung, từ ngẫu nhiên thành tất yếu ( chúng
tôi nhấn mạnh -NTD), hững chuyển hóa, những chuyển hoán, mối liên hệ lẫn
nhau của các mặt đối lập.”2Xét sự chuyển hóa giữa khả năng và hiện thực, trong
sự vận động phát triển của hai mặt đối lập đó thì sự chuyển hóa được vận động
từ khả năng trở thành hiện thực. Trong quá trình vận động liên tục của thế giới
2


nguyên lý này vào việc phân tích những mâu thuẫn trong xã hội. Lịch sử loài
1

PH. Ăng ghen;’ chống Đuy-rinh, nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1971, trang 332


14

người đã chứng minh rằng, cuộc đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ phát
triển đến mức độ nào đó thì cả hai giai cấp đều biến đi, nhường chỗ cho sự ra đời
của hai giai cấp khác là địa chủ và nông dân. Trong xã hội phong kiến , ở một số
nước phương tây cuộc đấu tranh giữa địa chủ và nông đân đẫ diễn ra hàng nghìn
năm, nhưng cuối cùng không đưa lại một chế độ xã hội mới, vì giai cấp nông dân
không đại diện cho một phương thức sản xuất mới. Để giải thích sự vận động
của xã hội phong kiến ở những nước đó, Ở đây ta phải phân tích một mâu thuẫn
khác: mâu thuẫn giữa một bên là địa chủ phong kiến với một bên là ba giai cấp
tư sản, vô sản và nông dân. Trong ba giai cấp này thì giai cấp tư sản đóng vai trò
lãnh đạo. Nên khi mâu thuẫn được giải quyết thì có sự chuyển hóa về vị trí của
hai giai cấp phong kiến và tư sản. Giai cấp phong kiến từ chỗ là giai cấp lãnh đạo
trở thành giai cấp bị trị còn giai cấp tư sản từ chỗ là giai cấp bị trị lại trở thành
giai cấp thống trị. Ở Việt Nam cuộc đấu tranh giữa địa chủ phong kiến và nông
dân cũng diễn ra hàng nghìn năm, có lúc giai cấp nông dân đã lật đổ được ách
thống trị của phong kiến (cuộc cách mạng Tây Sơn) nhưng cuối cùng rồi cũng
lập lại chế độ phong kiến. ở đây sự chuyển hóa của hai mặt đối lập không mang
lại một chế độ xã hội mới. Điều này do tính chất đặc thù của hai mặt đối lập
trong chế độ xã hội đó và do điều kiện lịch sử của xã hội ta lúc bấy giờ.
Trong xã hội tư sản, cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp tư sản và vô sản cũng
đi đến chỗ chuyển hóa lẫn nhau. Nhưng ở đây không được hiểu một cách máy
móc là giai cấp tư sản trở thành vô sản còn giai cấp vô sản trở thành giai cấp tư
sản. Mà ở đây với một ý nghĩa nào đó thì có thể nói giai cấp tư sản từ chỗ là giai

cũ mất đi, sự vật mới ra đời thì cũng xuất hiện những mâu thuẫn mới vơí những
mặt đối lập mới. ở trường hợp trên, khi đế quốc Mỹ đã bị thất bại hoàn toàn, sự
nghiệp giải phóng dân tộc cơ bản đã hoàn thành thì về phía cách mạng nước ta,
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta cũng không còn nguyên như cũ nữa mà đã
có sự thay đổi về chất, các mặt đối lập mới lại được thiết lập, sự chuyển hóa của
các nặt đối lập mới lại hình thành.
1

Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va, 1981, trang 13.


16

Trong công tác hàng ngày, chúng ta tiến hành phê bình và tự phê bình để
giải quyết những mâu thuẫn giưa hai mặt ưu điểm và khuyết điểm. Vậy có nên
nói là phải bỏ mặt khuyết điểm và giữ lại mặt ưu điểm hay không? Thực tế trong
cuộc đấu tranh tư tưởng, hai mặt đối lập ưu điểm và khuyết điểm chuyển hóa lẫn
nhau không có nghĩa là một còn, một mất một cách máy móc. Điều này không có
nghĩa là chúng ta chỉ bỏ khuyết điểm và giữ nguyên ưu điểm nguyên như cũ.
Thựu ra sau khi sửa chữa khuyết điểm rồi thì ưu điểm sẽ cũng không còn nguyên
như trước nữa mà có sự hoàn thiện và phát triển hơn. Nên có thể nói là các mặt
ưu và khuyết điểm thực hiện chuyển hóa trong cơ chế là khắc phục khuyết điểm
và phát huy ưu điểm mới đúng trong cơ chế chuyển hóa.
Những thí dụ nói trên về sự chuyển hóa khác nhau của các mặt đối lập
trong các sự vật khác nhau, chính là “sự chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối
lập” Ăng ghen đã tổng hợp sự chuyển hóa muôn vẻ đó như sau: “…tức là
những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa
cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, hoặc lên những
hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên” 1. ở đây chúng ta thấy
Ăng ghen đã khái quát thành hai hình thức chuyển hóa : một là hai mặt đối lập

quốc tế hóa và hợp tác hóa toàn cầu chúng ta có thể ngăn chặn được chiến tranh
để bảo vệ hóa bình trên thế giới, đẩy lùi được nguy cơ chiến tranh.
Qua đây đồng thời cũng phê phán thuật ngụy biện, cần phải phân biệt và
đấu tranh kiên quyết với những luận điệu giả danh biện chứng với phép biện
chứng chân thực. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là một vấn đề rất phức tạp.
Dễ bị xuyên tạc và bị thay thế bằng thuật ngụy biện. Vì vậy, muốn hiểu và thực
hiện đúng phép biện chứng chúng ta phải phân tích cụ thể sự vật khách quan để
phản ánh đúng sự chuyển hóa cụ thể của các mặt đối lập.
Một khía cạnh nữa cần được giải quyết là sự chuyển hóa đó xảy ra lúc nào
trong quá trình đấu tranh của các mặt đối lập? Có ý kiến cho rằng sự chuyển hóa
đó diễn ra ngay từ đầu và trong suốt quá trình đấu tranh của các mặt đối lập.
Quan điểm này cho rằng quá trình đấu tranh của các mặt đối lập cũng là quá
trình chuyển hóa giữa chúng. Nói như vậy là không đúng. Ở đây có sự lẫn lộn
khái niệm chuyển hóa với khái niệm biến đổi nói chung. Sự chuyển hóa cũng là
sự biến đổi nhưng không phải bất cứ sự biến đổi nào cũng là sự chuyển hóa.


18

Trong quá trình đấu tranh của hai mặt đối lập, với sự tác động qua lại lẫn nhau,
hai mặt đó biến đổi dần dần về lượng, nhưng sự biến đổi đó chưa phải là sự
chuyển hóa về chất, khái niệm chuyển hóa của hai mặt đối lập chỉ dùng khi nào
hai mặt đối lập trở thành “đồng nhất”, khi sự đấu tranh đã lên tới cực độ, tức là
giai đoạn cuối của cuộc đấu tranh, khi mâu thuẫn được giải quyết. Trong câu
trích ở trên, chúng ta thấy Ăng ghen nói tới sự chuyển hóa cuối cùng của chúng,
Người còn chỉ rõ: “sự chuyển hóa từ mặt này sang mặt khác khi các mặt đó lên
tới cực độ”…”ở một điểm nhất định, cực này chuyển thành cực kia”1.Về vấn đề
này Lê nin cũng đã nói: “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt
đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất-trong những
điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau-”2

biện chứng vào công tác quản lý giáo dục học viên tại các trường sỹ quan nói
chung, điều cốt yếu là phải hiểu thế nào là sự chuyển hóa trong quá trình đào tạo,
lúc nào thì sự chuyển hóa xẩy ra, sự chuyển hóa diễn ra như thế nào.v.v. Trước
hết cần thấy rằng quá trình quản lý giáo dục học viên tại các học viện nhà trường
quân đội là quá trình đào tạo ra những người cán bộ, đảng viên cho quân đội nói
riêng cũng như cho đất nước nói chung mà cồng việc của họ đó là huấn luyện,
giáo dục và quản lý con người. Một công việc khó hơn tất cả mọi công việc. Bởi
trước những đối tượng mà họ giáo dục là hiểm nguy và thử thách, là sự sống và
cái chết trong chiến tranh. Nên cái sự chuyển hóa đầu tiên của người học viên
đào tạo ở các nhà trường đó là sự chuyển hóa về mặt lập trường, nhận thức. Đòi
hỏi người cán bộ nói chung, đặc biệt là người cán bộ chính trị nói riêng đó là sự
mẫu mực về đạo đức, lập trường để cho học viên soi mình phấn đấu. Trong công
tác quản lý giáo dục cần phải tìm hiểu cặn kẽ về nhận thức, tâm tư, tình cảm của
học viên. Ở đây cần phải thấy rằng họ là những người rất đa dạng về mọi mặt.
Kể cả nhận thức, hoàn cảnh điều kiện xuất thân, bản sắc văn hóa vùng miền…
Tuy họ dã có nhu cầu được phấn đấu rèn luyện trong quân đội để trưởng thành.
Song thực tế là họ chưa hiểu hết về môi trường quân đội, chưa hiểu đúng thực
chất bản chất của quân đội ta. Nhiều người còn cho rằng các trường quân đội
cũng như các trường dân sự ngoài, chỉ cần học cho tốt là được, chỉ cần có kết
quả học tập cao là được… chứ không cần phải rèn luyện nhiều, đặc biệt là bản
lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, tính bền bỉ trong chịu đựng gian khổ, khó
khăn…vậy diều cốt yếu đầu tiên của người cán bộ là phải làm cho họ chuyển hóa


20

về mặt nhận thức lập trường, phải có sự cảm hóa, giáo dục để họ nhận thức đúng
về môi trường quân đội. Tuy nhiên, giáo dục để làm chuyển biến nhận thức là
một quá trình, phải kết hợp nhuần nhuyễn nhiều hình thức giáo dục, tùy từng
trường hợp cụ thể và những hoàn cảnh cụ thể để có những hình thức giáo dục

ở đơn vị cơ sở để làm chuyển hóa kiến thức phong phú trong học viên.
Cần chú ý rằng, giáo dục huấn luyện để làm chuyển hóa toàn diện một con
người từ một chiến sỹ hoặc một học sinh vừa rời ghế nhà trường phổ thông để
trở thành một sỹ quan là một quá trình khó khăn phức tạp đòi hỏi phải qua nhiều
khâu, nhiều bước trung gian, kết hợp chặt chẽ nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên
nghành cùng tham gia vào quá trình giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục
chung với giáo dục riêng. Quá trình đó phải tiến hành đồng thời song song xen
kẽ. Tuyệt đối không được có quan niệm tách rời giữa các lĩnh vực. Có như vậy
sự chuyển hóa mới đem lại cho chúng ta kết quả như mong đợi.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status