Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp do cục thuế nam định quản lý - Pdf 39

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu do tôi
thực hiện, Luận văn được nghiên cứu, tập hợp từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ
thực tế viết ra, không sao chép của bất kỳ luận văn nào trước đó và dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS.Nguyễn Bình Giang.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Mạnh Hùng

Trần Mạnh Hùng

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản,
chuyên sâu, kỹ năng nghiên cứu để áp dụng trong thực tế công tác, hoạt động tại cơ
quan.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Bình Giang đã tận tình hướng dẫn và

văn
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Cơ sở lý luận về thuế GTGT
1.1.1. Khái niệm thuế GTGT
1.1.2. Đặc trưng của thuế GTGT
1.1.3. Các phương pháp xác định thuế GTGT
1.1.4. Quá trình ban hành và hoàn thiện Luật thuế GTGT đến
năm 2011 ở Việt Nam
1.2. Quản lý thuế GTGT
1.2.1. Nội dung quản lý thuế GTGT
1.2.2. Sự cần thiết thiết phải hoàn thiện công tác quản lý thuế
GTGT
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế GTGT
1.3.1. Cơ quan quản lý thu thuế
1.3.2. Người nộp thuế
1.4. Các yêu cầu của Nhà nước trong hoạt động thu thuế GTGT
1.4.1. Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
1.4.2. Đảm bảo khách quan, công bằng nhằm khuyến khích mọi

1

Trần Mạnh Hùng

2
2
2
3
3

21

22
22
22

29
2.2. Kết quả hoạt động thu nộp thuế GTGT của Văn phòng Cục thuế
tỉnh Nam Định giai đoạn 2007-2011
2.3. Phân tích công tác quản lý thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Nam
Định
2.3.1. Về phân cấp quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
2.3.2. Về ban hành và thực hiện quy trình quản lý thuế GTGT
đối với doanh nghiệp
2.3.3. Xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
2.3.4. Đánh giá những thành công
2.3.5. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DO
VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH NAM ĐỊNH QUẢN LÝ
3.1. Mục tiêu, định hướng về quản lý thuế GTGT ở Cục thuế Nam
Định
3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Nam Định
đến năm 2015
3.1.2. Một số dự báo về doanh nghiệp
3.1.3. Một số dự báo về thu thuế GTGT tại văn phòng Cục thuế
Nam Định giai đoạn 2012 – 2015
3.1.4. Định hướng quản lý thu thuế GTGT ở Cục thuế Nam Định
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT
của các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Số TT

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

GTGT

Giá trị gia tăng

2

VAT

Giá trị gia tăng

3

NSNN

Ngân sách nhà nước


9

NNT

Người nộp thuế

10

TNCN

Thu nhập cá nhân

11

TTĐB

Tiêu thụ đặc biệt

12

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

Trần Mạnh Hùng

Lớp Cao học QTKD 2010



Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam
Định

4
25
27
28

Thu thuế trên địa bàn tỉnh Nam Định
Sô lượng và cơ cấu doanh nghiệp của Văn
phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý
Thu thuế ở Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định
chia theo loại hình doanh nghiệp
Tốc độ tăng thu của các loại hình doanh nghiệp
do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý

29

Tổng thu và tỷ trọng của thuế GTGT
Cơ cấu thu thuế GTGT của các loại hình DN ở
Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định
Tốc độ tăng thuế VAT theo loại hình doanh
nghiệp ở Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định
Dự báo thu thuế GTGT tại văn phòng Cục thuế
Nam Định từ năm 2012-2015

35

30
32


26

Hình 2.3

Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế
Số thu thuế của Văn phòng Cục thuế tỉnh
Nam Định
Cơ cấu thu thuế ở Văn phòng Cục thuế
tỉnh Nam Định
Tốc độ tăng thu thuế VAT của Văn phòng
Cục thuế

28

Hình 2.4
Hình 2.5
Hình 2.6

Trần Mạnh Hùng

31
34
36

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội



Trần Mạnh Hùng

-1-

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

có thể đóng góp một số các ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế
GTGT đối với các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý.
2. Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý thuế
GTGT đối với các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý,
phân tích, đánh giá những thành công chủ yếu, những tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT
của các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý.
- Đối tượng nghiên cứu: Những công việc thuộc nội dung của công tác quản
lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định
quản lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi quản lý thuế thuộc Cục thuế tỉnh Nam Định
bao gồm: 9 Chi cục thuế huyện, 01 Chi cục thuế thành phố Nam Định và 01 Văn
phòng Cục thuế tỉnh Nam Định. Tuy nhiên, do tính đa dạng của các loại hình doanh
nghiệp thuộc các khu vực quản lý khác nhau, cho nên để đơn giản hoá những nội
dung nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung vào công tác quản lý thuế GTGT đối với
các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh Nam Định quản lý.
3. Phương pháp nghiên cứu:

quá trình sản xuất kinh doanh. Vấn đề quan trọng và cần thiết trong công tác quản
lý là phải xác định được GTGT ở mỗi giai đoạn sản xuất kinh doanh, có như vậy
mới tính được một cách chính xác số thuế GTGT của giai đoạn đó.
GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị HHDV bán ra với
tổng trị giá HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế:
GTGT =

Tổng giá trị HHDV
bán ra

-

Tổng giá trị HHDV mua vào
tương ứng

(1.1)

Thuế GTGT được xác định như sau:
Số thuế GTGT

=

GTGT của HHDV
chịu thuế

x

Thuế suất thuế GTGT
của HHDV đó


nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch
vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT. Người bán thực hiện nộp
khoản thuế GTGT phải nộp “đã được người mua trả” vào NSNN.
- Thuế GTGT đánh vào GTGT của HHDV phát sinh ở các giai đoạn từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng HHDV đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các
giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho người tiêu dùng cuối
cùng.
Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy
nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu
bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế
GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người
tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó.
Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua
từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh HHDV.
Ví dụ:
Giả sử vải bán trên thị trường được luân chuyển qua các khâu: từ bông kéo
thành sợi, sợi dệt thành vải và bán trên thị trường, thuế suất thuế GTGT ở mỗi khâu
là 10%, có bảng sau:
Bảng 1.1. Cách tính thuế GTGT của mặt hàng vải bán trên thị trường.

Cơ sở kinh doanh

(1)

Trần Mạnh Hùng

Giá
mua
(2)



1.000

100

Sợi

1.000

2.000

1.000

100

Vải

2.000

3.000

1.000

100

Bán trên thị trường

3.000

5.000

cung cấp HHDV.
Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia
quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số
thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.
Trần Mạnh Hùng

-5-

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

- Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn
ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc
điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không
thu thuế đối với HHDV xuất khẩu và đánh thuế đối với HHDV nhập khẩu [7, tr2931].
1.1.3. Các phương pháp xác định thuế GTGT:
Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo một trong hai phương pháp: Phương
pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Đối tượng áp dụng và việc xác định thuế phải nộp theo từng phương pháp
như sau:
1.1.3.1. Phương pháp khấu trừ thuế.
*/ Đối tượng áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở
kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của
pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ.
*/ Xác định thuế GTGT phải nộp:

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa
có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hoá
đơn chỉ ghi giá thanh toán (trừ trường hợp được phép dùng chứng từ đặc thù),
không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ
bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ.
b) Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT
mua hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của
hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo
hướng dẫn của Bộ Tài Chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư
cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát
sinh tại Việt Nam. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt
Nam đã quy định rất rõ việc xác định thuế GTGT đầu vào đối với các trường hợp cụ
thể để phục vụ cho công tác quản lý thuế được thuận lợi .
Trong thực tiễn, đối với nhiều loại sản phẩm hàng hóa có những đặc tính
riêng biệt thì hệ thống pháp luật về thuế GTGT cũng có những hướng dẫn cụ thể
việc xác định thuế đối với từng trường hợp.
1.1.3.2. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.
*/ Đối tượng áp dụng:
a) Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế
độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ
chức khác (bao gồm cả các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ

Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng
GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất áp dụng đối
với hàng hoá, dịch vụ đó.
a) Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toán
của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào
tương ứng.
Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá
đơn bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu
thêm mà bên bán được hưởng, không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu được tiền.
Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị
hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng.
Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:

Trần Mạnh Hùng

-8-

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

- Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh số bán
với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh.
Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư, hàng hoá, dịch
vụ mua vào tương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác định như sau:
Giá vốn hàng bán ra bằng (=) Doanh số tồn đầu kỳ cộng (+) doanh số mua



Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ bao gồm: Doanh số hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế GTGT; doanh số hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT và
chênh lệch giữa giá bán và giá mua của hoạt động mua bán, kinh doanh vàng, bạc,
đá quý (không bao gồm chênh lệch âm (-)).
- Đối với các hoạt động kinh doanh khác là số chênh lệch giữa tiền thu về
hoạt động kinh doanh trừ (-) giá vốn của hàng hóa, dịch vụ mua ngoài để thực hiện
hoạt động kinh doanh đó.
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp tính
trực tiếp trên GTGT không được tính giá trị tài sản mua ngoài, đầu tư, xây dựng làm
tài sản cố định vào doanh số hàng hoá, dịch vụ mua vào để tính giá trị gia tăng.
- Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia tăng âm (-) của vàng,
bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của vàng, bạc, đá
quý. Trường hợp không có phát sinh giá trị gia tăng dương (+) hoặc giá trị gia tăng
dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào giá
trị gia tăng của kỳ sau trong năm. Kết thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-)
không được kết chuyển tiếp sang năm sau.
b) Đối với cơ sở kinh doanh (trừ các doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu
trừ thuế, hộ, cá nhân kinh doanh) bán hàng hoá, dịch vụ có đầy đủ hoá đơn của hàng
hoá, dịch vụ bán ra theo chế độ quy định hoặc có đủ điều kiện xác định được đúng
doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ như hợp đồng và chứng từ thanh toán nhưng
không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào thì GTGT được xác định bằng
doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
Tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu làm căn cứ xác định giá trị gia
tăng được quy định như sau:

thuế GTGT trong thời gian qua, thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:
Đối tượng chịu thuế:
Vì để đảm bảo thuế GTGT bao quát hầu hết các mặt hàng được sản xuất kinh
doanh, tiêu dùng trên thị trường đều phải chịu thuế, Luật thuế GTGT các năm 1997,
2003, 2005, 2008 đều quy định rõ về đối tượng không phải chịu thuế GTGT. Phần
hàng hoá, dịch vụ còn lại trên thị trường đều chịu thuế GTGT.
Đối tượng không chịu thuế GTGT :
Những loại dịch vụ này còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh
và có nhiều lợi ích chung cho cả cộng đồng nên Nhà nước tạm thời chưa đánh thuế
GTGT với mục đích là để cho những loại hình dịch vụ này phát triển hơn nữa sau
đó sẽ dần điều chỉnh vào nhóm đối tượng chịu thuế, căn cứ vào tình hình phát triển
cụ thể.
Người nộp thuế GTGT:

Trần Mạnh Hùng

- 11 -

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

Người nộp thuế là: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
chịu thuế (gọi chung là cơ sở sản xuất kinh doanh ) và tổ chức, cá nhân khác nhập
khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu)”.
Căn cứ tính thuế GTGT:
Căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, trong đó:


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

Mục tiêu của quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp, đó là làm cho các
doanh nghiệp thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ về thuế của mình trên cơ sở
mức tuân thủ pháp luật về thuế ngày càng cao. Điều đó cũng có nghĩa là số thuế thu
từ doanh nghiệp sẽ tiến gần đến số thuế tiềm năng, hay thất thu thuế ngày càng
giảm thiểu và tiến dần đến 0; số thu từ NSNN sẽ lớn trong điều kiện chính sách thuế
ổn định, đồng thời chi phí thuế giảm khi mức độ tuân thủ của đối tượng nộp thuế
ngày càng tăng.
Xác định mục tiêu đúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động
quản lý. Mục tiêu của quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT thường được
xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể như: số thu thuế trong một thời gian nhất định; tỷ
lệ huy động nguồn thu từ thuế vào NSNN; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ
kế hoạch so với kỳ trước. Vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực
tài chính cho nhà nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nước, do
đó xét đến cùng, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm làm cho người nộp thuế thực
hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình.
Thứ hai, là phân cấp quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp.
Việc phân cấp quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng cho
từng cấp là hết sức cần thiết. Từ năm 1990 ở Việt Nam hệ thống thuế được tổ chức
lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương gồm ba cấp là: Tổng
cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế. Trong đó Tổng cục thuế trực thuộc Bộ Tài Chính,
là cơ quan định hướng và quản lý về chính sách, không trực tiếp thu thuế; Ở điạ
phương có Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế, Chi Cục thuế trực thuộc Cục thuế.
Hai cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý thu tất cả các khoản thu nội địa (không
phân biệt thuế Trung ương hay thuế địa phương).
Việc phân cấp quản lý thuế GTGT trong ngành thuế thường căn cứ vào đối

và kế toán thuế; Hoàn thuế; Kiểm tra thuế; Quản lý thu nợ thuế và cưỡng chế nợ
thuế; Khiếu nại, tố cáo về thuế.
Thứ tư, là xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
- Về cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng,
nhiệm vụ quyền hạn khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí
thành từng cấp, từng khâu khác nhau, thực hiện các chức năng quản lý được chuyên
môn hoá nhằm đạt mục tiêu xác định.
Về mô hình tổ chức quản lý thuế cụ thể, có 3 hình mẫu phổ biến nhất, đó là
tổ chức theo sắc thuế, tổ chức theo nhóm người nộp thuế, tổ chức theo chức năng.
Trong quá trình phát triển của ngành Thuế nước ta, đã đều trải qua các hình thức
trên. Hiện nay, ngành Thuế áp dụng mô hình quản lý theo chức năng.
- Về cán bộ quản lý: Đội ngũ cán bộ nói chung gồm cán bộ lãnh đạo và cán
bộ chuyên môn nghiệp vụ, cùng kết hợp để tạo nên bộ máy quản lý thuế. Đội ngũ

Trần Mạnh Hùng

- 14 -

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

cán bộ quản lý giữ vai trò cực kỳ quan trọng, là nhân tố quyết định sự thành công
hay thất bại của một hệ thống quản lý.
Để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, trước hết phải xác định yêu cầu về
phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ. Từ đó, kế hoạch hoá đội ngũ cán bộ về số

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

nhiệm dễ dàng trong việc kiểm tra, xác định đúng doanh thu và nghĩa vụ thuế phải
nộp.
Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người
nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế
tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế. Từ đó, tạo tâm
lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận về
mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng
có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ,
hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập
trung được nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu
sản xuất và thu thuế ở khâu sau, kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu
trước nên hạn chế thất thu về thuế.
1.2.2.2. Tăng cường điều tiết kinh tế vĩ mô.
Xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế GTGT, xây
dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế thì
thông qua quản lý thuế GTGT Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ
đạo chung, phù hợp với lợi ích xã hội. Tác động điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế có thể
biểu hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, quản lý thuế GTGT góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả,
kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Theo các lý thuyết kinh tế, lạm phát và tăng giá có thể xuất phát từ nguyên
nhân cầu kéo hoặc chi phí đẩy. Trường hợp lạm phát do nguyên nhân cầu kéo làm
giá cả tăng cao, Nhà nước có thể dùng biện pháp điều chỉnh tăng thuế GTGT làm

Sự hoàn thiện của pháp luật thuế GTGT có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả
thực thi của pháp luật thuế GTGT. Hệ thống pháp luật thuế GTGT có hoàn chỉnh,
đồng bộ, sát với thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển của
xã hội, phù hợp với các điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa xã hội,…đáp ứng nhu
cầu phát triển thì hiệu quả pháp luật thuế GTGT mới cao.
Ngược lại, nếu pháp luật còn thiếu các qui định cần thiết, còn nhiều bất cập
với thực tế thì không thể có hiệu quả thực thi pháp luật cao được mà nó còn làm
phát sinh nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng làm giảm hiệu quả trong hệ
thống pháp luật đó. Một môi trường pháp lí vững mạnh, an toàn không chỉ đảm bảo
các hoạt động áp dụng thuế GTGT diễn ra thuận lợi, hiệu quả mà còn tạo cơ hội cho
các chủ thể trong và ngoài nước sẵn sàng đầu tư vào nước ta một cách mạnh mẽ
hơn.
Để góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT trong
đời sống xã hội thì vấn đề quan trọng là thực hiện đúng đắn, nghiêm minh các qui
định của pháp luật thuế. Trong đó thì áp dụng pháp luật thuế là một hình thức thực

Trần Mạnh Hùng

- 17 -

Lớp Cao học QTKD 2010


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

hiện pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì pháp luật thuế trong đó có pháp
luật thuế GTGT được thực hiện làm thay đổi quyền sở hữu đối với khoản tiền thuế.
Mục đích chung của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho các quy phạm pháp


Lớp Cao học QTKD 2010



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status