Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý xuất khẩu lao động ở Bắc Ninh. - Pdf 32

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề lao động, việc làm, thất nghiệp luôn là vấn đê quan tâm hàng đầu
của mọi quốc gia nói chung và mọi địa phương nói riêng trong tất cả các giai
đoạn phát triển của thời đại, bởi vậy để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng
thời để phù hợp với thời kì hội nhập kinh tế quôc tế hiện nay, Bắc Ninh cũng
như các địa phương khác trong cả nước đã và đang dành sự quan tâm đặc biệt
cho vấn đề lao động ,việc làm ở địa phương. Để giải quyết việc làm cho lao
động ở địa phương, Bắc Ninh đã đề ra không ít các giải pháp như: phát triển
các làng nghề thủ công, xây dựng và mở rộng khu công nghiệp,... và một
trong những biện pháp hữu hiệu đã và đang được Bắc Ninh đẩy mạnh đó là
xuất khẩu lao động.
Đất nước bước vào thời kỳ mới thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế mà dấu
mốc cho thời kỳ mới này là sự kiện Việt Nam tổ chức thành công hội nghị cấp
cao APEC ( 11/2006) và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới (WTO), trong hoàn cảnh đó đặt ra không ít những khó
khăn và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam đặc biệt cho lực lượng lao động
Việt Nam. Lao động dồi dào là một trong những điểm mạnh mà cũng là điểm
yếu của chúng ta. Mở cửa hội nhập là cơ hội tốt để tìm việc làm tốt hơn cho
những lao động trẻ có trình độ nhưng cũng là thách thức lớn khi số lượng lao
động không lành nghề, lao động thủ công vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong số
người thuộc độ tuổi lao động. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải quyết
việc làm cho số lao động này và câu trả lời là: xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, xuất khẩu lao động không chỉ đơn giản là đưa lao động đi làm
việc ở nước ngoài rồi bỏ phóng họ mà phải là cả một quá trình quản lý đòi hỏi
phải được quan tâm và có những biện pháp hữu hiệu để công tác xuất khẩu lao
động đạt hiệu quả. Chính từ thực tế đó kết hợp với những kết quả thu được
trong thời gian thực tập nghiên cứu tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
tỉnh Bắc Ninh, người viết quyết định chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm
hoàn thiện công tác quản lý xuất khẩu lao động ở Bắc Ninh” để làm luận
văn tốt nghiệp của mình.

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
Do kiến thức và trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài viết
không thể tránh khỏi có những sai xót, mong quý thầy cô và bạn đọc thông
cảm! Để hoàn thành được bài viết này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
của lãmh đạo và cán bộ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian thực tập và đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo
Đoàn Thị Thu Hà. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
2
Luận văn tốt nghiệp
TÓM TẮT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
I. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
1. 1. Khái niệm.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu lao động:
Phát triển hợp tác quốc tế trong việc tổ chức đưa người lao động và chuyên
gia Việt nam ( trừ những cán bộ, công chức được quy định tại pháp lệnh cán
bộ, công chức đi thực hiện nhiệm vụ, công vụ ở nước ngoài do sự phân công
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền) đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là
một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết
việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động,
tăng nguồn thu cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với
các nước trên thế giới.
1

Hoạt động xuất khẩu lao động cũng là cầu nối để quốc gia tăng cường quan
hệ hợp tác về mọi mặt, giúp cho sự giao lưu giữa các nền văn hoá trên thế giới
ngày càng được mở rộng.
1.3. Đặc điểm.
 Xuất khẩu lao động mang tính tất yếu khách quan.
 Xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt.
 Xuất khẩu lao động mang tính lợi ích cao.
 Xuất khẩu lao động mang tính xã hội cao.
 Xuất khẩu lao động cũng có tính cạnh tranh.
 Xuất khẩu lao động là hoạt động có tính rộng rãi trên toàn thế giới.
 Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của các quốc gia.
1.4. Phân loại các hoạt động xuất khẩu lao động.
Có rất nhiều cách phân loại hoạt động xuất khẩu lao động khác nhau, theo
điều 134a* - Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã được sửa đổi, bổ xung năm 2002,2006 thì các hình thức đưa lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài gồm có:
1- Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài;
2- Đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán
công trình ở nước ngoài;
3- Đưa lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư ở nước ngoài;
4- Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Và nhiều cách phân loại khác nữa.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
4
Luận văn tốt nghiệp
 Các yếu tố thuộc về Nhà nước:
Bao gồm cả những yếu tố thuộc về nhà nước của nước tiếp nhận lao động
và của nước đưa lao động đi xuất khẩu.
 Yếu tố thuộc về các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động.

Bước 1- Nghiên cứu và dự báo.
Bước 2 - Thiết lập các mục tiêu.
Bước 3- Phát triển các tiền đề.
Bước 4 - Xây dựng các phương án.
Bước 5 - Đánh giá các phương án.
Bước 6 - Lựa chọn phương án và ra quyết định.
2.3.2. Tuyển mộ, tuyển chọn lao động xuất khẩu.
Căn cứ để tuyển chọn lao động đi xuất khẩu lao động được Chính phủ quy
định cụ thể tại Nghị định 81/2003/NĐ-CP.
2.3.3. Đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài.
Được quy định cụ thể theo Quy chế đào tạo và giáo dục định hướng cho
người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (ban hành kèm
theo Quyết định số 1635/1999/QĐ-BLĐTB&XH ngày 13 tháng 12 năm 1999
của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB & XH).
2.3.4. Quản lý lao động đã xuất khẩu.
2.3.4.1. Quản lý ở trong nước.
a) Quản lý hợp đồng lao động.
b)Quản lý sổ lao động, sổ bảo hiểm xã hội của lao động.
c) Quản lý việc thanh lý hợp đồng.
2.3.4.2. Quản lý ở nước ngoài.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH BẮC NINH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU LAO ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
1. Đặc điểm kinh tế - xã hội.
Từ năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập cho đến nay trải qua 10 năm phấn
đấu Đảng và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tạo ra một diện mạo kinh tế - xã hội
mới.

Trong những năm gần đây, song song với việc đẩy mạnh công tác giải
quyết việc làm cho lao động trong tỉnh thì công tác xuất khẩu lao động của
tỉnh Bắc Ninh cũng dành được một sự quan tâm khá lớn do đó hoạt động xuất
khẩu lao động cũng đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của
tỉnh trong những năm qua.
1.1.2.Về chất lượng.
Tuy đã được cải thiện nhiều song vẫn còn nhiều tồn tại bất cập.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
7
1. 2. Các yếu tố tác động chủ yếu đến hoạt động xuất khẩu lao
động ở địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
1. Về phía Nhà nước.
1.2.2.Về phía các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh.
1.2.3.Về phía người lao động.
1. 3. . Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý xuất khẩu lao động.
1. Những thành tựu và những bất cập.
1.3.1.1. Những thành tựu đạt được.
Bắc Ninh cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về số lượng và
chất lượng lao động xuất khẩu trong thời gian vừa qua.
1.3.1.2. Những bất cập.
Tuy có nhiều htành tựu song cũng gặp phải không ít những bất cập trong
quá trình quản lý hoạt động xuất khẩu lao động cần phải khắc phục.
2. Nguyên nhân
1. Nguyên nhân của những thành tựu.
Có nhiều nguyên nhân trong đó từ phía Nhà nước là chủ yếu.
2. Nguyên nhân của những bất cập.
Nguyên nhân của những bất cập xuất phát từ cả phía người lao động lẫn các
doanh nghiệp và cả Nhà nước.
3. Nhận định chung về thực trạng hiện nay.
CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

Các doanh nghiệp cần tập trung các biện pháp trước mắt là nâng cao số
lượng và chất lượng cho lao động xuất khẩu.
Doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm hơn nữa với lao động khi lao động
trở về nước trong việc hoàn tất thủ tục cho người lao động cũng như thủ tục
cho họ gia hạn hợp đồng hoặc ký kết hợp đồng mới nếu họ có nhu cầu.
2.3. Giải pháp đối với người lao động.
Điểm yếu nhất của lực lượng lao động tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của cả
nước nói chung đó là chất lượng lao động bởi vậy để nâng cao hiệu quả công
tác xuất khẩu lao động và hoàn thiện công tác quản lý hoạt động này biện
pháp chủ yếu của người lao động là nâng cao chất lượng của bản thân mình.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
9
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
III. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
1. 1. Khái niệm.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu lao động, dưới đây là một
số các khái niệm cơ bản về xuất khẩu lao động.
Khái niệm thứ nhất là:
Phát triển hợp tác quốc tế trong việc tổ chức đưa người lao động và chuyên
gia Việt nam ( trừ những cán bộ, công chức được quy định tại pháp lệnh cán
bộ, công chức đi thực hiện nhiệm vụ, công vụ ở nước ngoài do sự phân công
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền) đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là
một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết
việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động,
tăng nguồn thu cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với
các nước trên thế giới.
3
Khái niệm thứ hai về xuất khẩu lao động được ghi trong chỉ thị số 41 –

Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 5 năm
Lược đồ 1: Tỷ lệ lao động xuất khẩu trong số lao động được giải
quyết việc làm hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 (%)
Luận văn tốt nghiệp
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng như chính bản thân người lao động
cần phải hết sức chú ý tới hoạt động này, nó không chỉ mang lại thu nhập cao
cho người lao động mà còn đóng một vai trò rất lớn trong sự phát triển của
mỗi quốc gia.
1.2. Vai trò của xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm và
đang phát triển như Việt Nam.
Trước hết, xuất khẩu lao động có một vai trò đặc biệt trong việc giải quyết
việc làm và ổn định thị trường lao động. Đối với các quốc gia có nền kinh tế
chưa phát triển khối lượng việc làm tạo ra trong xã hội là rất hạn chế so với
khối lượng lao đông trong độ tuổi rất dồi dào của họ bởi vậy thất nghiệp và
giải quyết việc làm luôn là vấn đề đau đầu của các nhà lãnh đạo quốc gia.
Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng 400.000 lao động và chuyên gia làm việc
tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề,mỗi năm
tăng thêm khoảng trên dưới 70.000 người riêng năm 2006 Việt Nam đã đưa
được 78.885 lao động đi làm việc ở nước ngoài.
(Nguồn: http:// www.thanhnienonline.com.vn – tác giả Ngọc Minh, ngày 27/4/2005)
Với những con số ấn tượng trên chúng ta có thể nhận thấy rằng xuất khẩu
lao động đã giải quyết được việc làm cho một khối lượng lớn lao động, tỷ lệ
lao động xuất khẩu lao động trong tổng số lao động được giải quyết việc làm
giai đoạn 2001 – 2005 khoảng 3,42 %.
(Nguồn:Bản tin thị trường lao động số 8/2006-Một số vấn đề về xuất khẩu lao động
2000-2005 – tr 9, CN. Nguyễn Văn Dư.)
Tuy chưa phải là một con số cao song con số đó cũng cho thấy rằng xuất
khẩu lao động đã góp một phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho nước

chuyển giao công nghệ tiên tiến hiện đại của nước ngoài thông qua quá trình
đào tạo và làm việc ở nước ngoài của người lao động.Thông qua đó quốc gia
có lao động đi xuất khẩu sẽ có được một đội ngũ lao động có tay nghề trình độ
cao, có tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật cao.
Hoạt động xuất khẩu lao động cũng là cầu nối để quốc gia tăng cường quan
hệ hợp tác về mọi mặt, giúp cho sự giao lưu giữa các nền văn hoá trên thế giới
ngày càng được mở rộng.
Nói tóm lại công tác xuất khẩu lao động có một vai trò rất lớn đối với mỗi
quốc gia bởi vậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đây là một trong những
công tác trọng điểm mang tính chiến lược cho quốc gia trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
12
Luận văn tốt nghiệp
1.3. Đặc điểm.
 Xuất khẩu lao động mang tính tất yếu khách quan.
Xuất khẩu lao động diễn ra chủ yếu là do giữa các nước trên thế giới có sự
chênh lệch về kinh tế - xã hội. Những nước giàu có nền kinh tế phát triển
mạnh thường có nhiều lao động có tay nghề cao, nhiều chuyên gia giỏi có
trình độ cao mà lại thiếu những lao động phổ thông, lao dông cho những công
việc vất vả, nặng nhọc, độc hại hoặc những công việc có thu nhập tương đối
thấp so với thu nhập chung của xã hội. Điều ngược lại lại diễn ra tại những
quốc gia nghèo đang phát triển, nơi mà dân số đông nên rất dồi dào về lao
động song do nền kinh tế chậm phát triển nên trình độ lao động còn thấp chủ
yếu là lao động giản đơn thủ công là chính công thêm với mức thu nhập thấp,
thiếu việc làm, thiếu hụt những chuyên gia giỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao.Cũng tương tự như quy tắc hai bình thông nhau trong vật lý vậy điều
đương nhiên sẽ xảy ra là lao động từ chỗ dư thừa sẽ chảy về chỗ thiếu hụt. Đó
cũng chính là nguyên lý chính của quy luật cung – cầu trong nền kinh tế thị
trường.
 Xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt.

phát triển đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động: hoạt động xuất khẩu
lao động mang lại lợi nhuận trước hết cho các nhân viên của doanh nghiệp
nhờ vào các khoản thu từ chi phí đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
như: phí môi giới, phí đào tạo,...sau đó là mang lại lợi ích cho chủ doanh
nghiệp nhờ khoản lợi nhuận thu được từ hoạt đông của doanh nghiệp.
Đối với các đối tượng đi xuất khẩu lao động và người thân: khoản lợi ích
mà họ nhận được chính là khoản tiền lương họ được nhận và gửi về nước cho
người thân. Khoản tiền đó còn có thể trở thành khoản vốn đầu tư cho những
người lao động sau khi họ trở về nước, giúp họ làm giàu và cải thiện cuộc
sống của gia đình và bản thân. Một lợi ích vô hình nữa mà họ nhận được từ
việc đi xuất khẩu lao động đó là được nâng cao trình độ tay nghề, ý thức lao
động, kỷ luật,… cho bản thân họ điều mà ở trong nước không thể có được.
Không chỉ mang lại lợi ích lớn cho các quốc gia đưa lao động đi xuất khẩu
mà đối với các nước tiếp nhận hoạt động này cũng mang lại những lợi ích
không nhỏ. Trước tiên là nó bù đắp được một khối lượng lao động đang bị
thiếu hụt ở những nước này. Kế đến là khoản tiền lương phải trả cho lao động
nước ngoài là tương đối rẻ so với khoản lương phải trả cho lao động trong
nước.
 Xuất khẩu lao động mang tính xã hội cao.
Xuất khẩu lao động không chỉ đơn giản là một hoạt động kinh tế đơn thuần
mà nó còn mang tính xã hội rất cao. Việc xuất khẩu lao động giúp cho các
quốc gia giải quyết được phần nào những hạn chế của thi trường lao động như
giải quyết việc làm cho những lao động dư thừa, giảm thiểu thất nghiệp ở
những quốc gia đưa lao động đi xuất khẩu và giải quyết được tình trạng thiếu
hụt lao động ở những nước tiếp nhận.Hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ
đơn giản là đem sức lao động của người lao động từ nước này sang nước kia
mà nó còn đem theo cả một khối lượng dân cư từ nước đưa lao động đi xuất
khẩu tới nước tiếp nhận lao động. Biên giới giữa các quốc gia không chỉ là
mốc ngăn cách các quốc gia với nhau mà còn ngăn cách cả nền văn hoá, lối

dào dẫn đến dư thừa, còn các quốc gia phát triển sẽ chỉ là nước tiếp nhận lao
động. Song thực tế không phải như vậy, hoạt động xuất khẩu lao động lại diễn
ra trên hầu hết các nước kể cả các nước phát triển. Đối với các nước có nền
kinh tế phát triển họ xuất khẩu lao động của mình sang các nước phát triển
khác để làm việc hoặc tới các quốc gia đang và kém phát triển thông qua các
chương trình, dự án đầu tư. Đặc điểm nổi bật của hoạt động xuất khẩu lao
động ở các nước phát triển là lao động xuất khẩu của họ là lao động chất xám
có chất lượng cao, trình độ và tay nghề cao còn các nước đang và kém phát
triển thì hầu hết là lao động giản đơn, không lành nghề.
 Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của các quốc gia.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
15
Xuất khẩu lao động là một hoạt động có liên quan đến mối quan hệ hợp tác
giữa các quốc gia với nhau bởi thế chính sách của mỗi quốc gia có liên quan
mật thiết đến hoạt động xuất khẩu lao động. Chính sách, pháp luật của quốc
gia đưa lao động đi xuất khẩu có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động
của nước đó là điều đương nhiên rồi vì nó quyết định đến sự khuyến khích
hay hạn chế xuất khẩu của hoạt động xuất khẩu lao động nhưng chính sách,
pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động xuất khẩu lao động, ví dụ một quốc gia đưa ra chính sách hạn chế lượng
người nước ngoài nhập cư thì ngay lập tức sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu của
những quốc gia có lao động đi làm việc tại nước đó và ngược lại.
Xuất khẩu lao động còn có rất nhiều đặc điểm khác song trên đây người
viết chỉ đưa ra những đặc điểm nổi bật nhất, đáng chú ý của xuất khẩu lao
động để phân tích và giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về hoạt động xuất khẩu lao
động.
1.4. Phân loại các hoạt động xuất khẩu lao động.
Có rất nhiều cách phân loại hoạt động xuất khẩu lao động khác nhau, theo
điều 134a* - Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã được sửa đổi, bổ xung năm 2002,2006 thì các hình thức đưa lao động Việt

theo thị trường xuất khẩu với: xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan, Malaysia, Trung Đông,...và nhiều cách phân loại khác tuy nhiên tuỳ
theo những góc nhìn khác nhau và những mục đích nghiên cứu khác nhau mà
lựa chọn cách phân loại nào cho phù hợp.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đặc biệt bởi vậy nó cũng chịu
sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau. Trong số các nhân tố đó chúng ta
có thể nhóm thành các nhóm chính sau:
 Các yếu tố thuộc về Nhà nước
Công tác xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính chất quốc gia vì
nó liên quan đến việc đưa lao động ra khỏi biên giới lãnh thổ của một nước để
tới một nước khác do vậy yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng quyết định đến hoạt
động này chính là chủ chương chính sách của quốc gia. Bất cứ một chủ
trương, chính sách nào liên quan đến hoạt động ngoại giao, hợp tác quốc tế,
lao động - việc làm,... đều sẽ có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến hoạt động
xuất khẩu lao động.
Một yếu tố khác thuộc về Nhà nước cũng có tác động rất lớn đến hoạt động
xuất nhập khẩu đó là những quy định của Nhà nước về quyền và nghĩa vụ của
Nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động trong hoạt
động xuất nhập khẩu và quan trọng hơn cả là những quy định của Nhà nước
về thủ tục cần thiết khi tham gia hoạt động xuất nhập khẩu lao động.
Yếu tố thứ ba thuộc về Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất
khẩu lao động đó là quan hệ ngoại giao giữa các nước với nhau. Nếu hai quốc
gia có quan hệ lâu đời khăng khít thì lẽ đương nhiên hoạt động xuất khẩu lao
động sẽ thuận lợi còn ngược lại nếu quan hệ giữa hai nước đang trong tình
trạng căng thẳng, thù địch thì hoạt động xuất khẩu lao động rất khó tiến hành.
Yếu tố nữa cũng thuộc về phía Nhà nước nhưng mà là thuộc về nước tiếp
nhận lao động đó là môi trường pháp lý của quốc gia đó và luật pháp quốc tế.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
17

động. Đây là một trong những hình thức quản lý người lao động đã xuất cảnh
một cách khá tốt trong quá trình quản lý hoạt động xuất khẩu lao động.
 Yếu tố thuộc về người lao động.
Người lao động là đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao
động, nếu không có người lao động tham gia thì cũng không thể có được hoạt
động xuất khẩu lao động chính vì vậy nhân tố này giữ một vai trò hết sức quan
trọng đối với hoạt động xuất khẩu lao động.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
18
Luận văn tốt nghiệp
Một yếu tố quan trọng thuộc về bản thân người lao động có ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu lao động đó là chất lượng của lao động.
Chất lượng lao động ở đây bao gồm có: trình độ tay nghề, trình độ ngoại ngữ,
trình độ học vấn, ý thức kỷ luật,...Nếu chất lượng lao động tốt thì chất lượng
của hoạt động xuất khẩu lao động cũng sẽ tốt từ đó tạo uy tín cho quốc gia
trên thị trường và có thẻ thu hút được những thị trường khó tính nhưng có thu
nhập cao và ngược lại. Chất lượng của lao động cũng có ảnh hưởng đến ý
thức của bản thân họ, hiện nay có nhiều trường hợp do lao động có nhận thức
kém nên tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài tự làm
việc,..Nhiều lao động do có trình độ kém nên không đáp ứng được yêu cầu
của công việc buộc phải quay về nước. Chính những yếu tố đó đã gây ra
những sự kỳ thị đối với lao động nước ta khiến cho hoạt động xuất khẩu lao
động bị hạn chế đi rất nhiều. Ngoài ra, các yếu tố khác như: số lượng lao
động, việc làm và thu nhập của lao động,… cũng có ảnh hưởng đến hoạt động
xuất khẩu lao động và việc quản lý hoạt động này.
 Các yếu tố khác.
Ngoài những yếu tố trên còn có rất nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng ít nhiều
đến hoạt động xuất khẩu lao động ví dụ như:
− Các yếu tố thuộc về văn hoá như tôn giáo, tín ngưỡng, lối sống, phong
tục tập quán, ...

chủ yếu là các nước thuộc khối các nước xã hội chủ nghĩa như các nước Đông
Âu gồm : Liên Xô (cũ), Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ) và
Bungari thông qua việc Nhà nước ký kết các Hiệp định lao động và đứng ra
trực tiếp thực hiện.Thời kỳ này cũng có một bộ phận lao động không nhỏ
được dưa sang các nước như Iraq, Libya,… một số chuyên gia trong lĩnh vực
y tế, nông nghiệp và giáo dục thì được đưa sang làm việc ở một số nước thuộc
Châu Phi. Khối lượng lao động được đưa đi trong thời gian này là 250.000 lao
động, khoảng hơn 7.000 lượt chuyên gia đi làm việc và 23.713 thực tập sinh
vừa học vừa làm ở nước ngoài, thu về cho ngân sách khoảng 800 tỷ đồng, hơn
300 triệu USD và khối lượng hàng hóa người lao động đưa về nước với giá trị
hàng nghìn tỷ đồng. Tuy thời kỳ này Nhà nước chưa thực sự quan tâm nhiều
đến hoạt động xuất khẩu song đây cũng là điểm khởi đầu khá tốt cho hoạt
dộng này sau này.
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ từ năm 1991 đến nay:Thời kỳ này mở đầu bằng
sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu dẫn đến sự tan dã của khối SEV
buộc Nhà nước ta phải nhanh chóng đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Kể từ đó đến nay, cùng với sự phát triển
vượt bậc của nền kinh tế đất nước, hoạt động xuất khẩu lao động cũng được
quan tâm một cách đúng mực. Số lượng người đi làm việc ở nước ngoài tăng
lên một cách nhanh chóng, từ con số 1.022 người năm 1991 đến năm 2000 đã
tăng lên là 31.500 người và năm 2006 là 78.885 người.Tính đến nay nước ta
đã có khoảng 400.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài với mức lương trung
bình khoảng 400 – 500 USD/tháng tập trung chủ yếu ở các thị trường: Nhật
Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, Trung Đông,...Xuất khẩu lao động cũng
trở thành một kênh đem lại nguồn thu nhập quan trong cho đất nước. Theo
tính toán, trung bình mỗi năm số lao động gửi về nước khoảng 1,5 tỷ USD,
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
20
Luận văn tốt nghiệp
bình quân mỗi tháng họ gửi về cho gia đình khoảng 302,5USD. Trong thời

2.1. Khái niệm.
Để hiểu được quản lý xuất khẩu lao động là gì thì trước hết ta phải hiểu
được quản lý là gì. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý do vậy cũng
có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể đưa ra một
khái niệm chung nhất về quản lý như sau:
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
21
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện
biến động của môi trường.
5
Như vậy quản lý được hiểu là tất cả những tác động có tổ chức và hướng
đích mà chủ thể tác động lên đối tượng trong điều kiện biến đổi của môi
trường nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Theo đó quản lý xuất khẩu lao động
cũng mang tính chất là một hoạt động quản lý trong đó chủ thể quản lý có thể
là Nhà nước có thể là các cơ quan Nhà nước quản lý về lao động có thẩm
quyền hay các doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động,... còn đối
tượng quản lý ở đây là người lao động, các doanh nghiệp chuyên doanh xuất
khẩu lao động và hoạt động xuất khẩu lao động. Các chủ thể quản lý sẽ sử
dụng các công cụ quản lý như: các chính sách, chế độ, quy chế, quy định về
hoạt động xuất khẩu lao động hay các kế hoạch, chỉ tiêu xuất khẩu lao động
hoặc những quy định ràng buộc về mặt vật chất, pháp lý,... để tiến hành quản
lý.
Quá trình quản lý có thể diễn ra dưới nhiều hình thức từ quản lý trong nước
cho đến quản lý ở nước ngoài, từ quản lý trực tiếp cho đến việc gián tiếp quản
lý...Nhưng dù sử dụng cách thức quản lý nào thì mục đích của hoạt động quản
lý đều là nhằm làm cho hoạt động xuất khẩu thực sự hiệu quả, mang lại lợi ích
cho cả quốc gia, doanh nghiệp lẫn người lao động.Từ đây ta có thể thấy rằng
quản lý xuất khẩu lao động là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng

việc đứng ra quản lý của các cơ quan Nhà nước và của các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động là điều tất yếu cần có.
Cũng xuất phát từ lợi ích to lớn của xuất khẩu lao động mang lại mà nảy
sinh ra sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động này. Không chỉ cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, giữa những người lao động mà còn cả
giữa các quốc gia với nhau. Sự cạnh tranh này mang tính chất rất phức tạp bởi
vậy để đảm bảo cho quá trình cạnh tranh diễn ra trong một môi trường lành
mạnh và thực sự công bằng thì không thể thiếu mặt của quản lý xuất khẩu lao
động.
Một nguyên nhân nữa làm cho việc quản lý xuất khẩu lao động trở nên cần
thiết đó là do những tranh chấp và vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao
động xảy ra. Vấn đề tranh chấp và sự cố trong quan hệ lao động là rất khó có
thể tránh khỏi nên trong hoạt động xuất khẩu lao động việc xảy ra tranh chấp
và vi phạm là điều cần phải tính đến. Tranh chấp và sự cố trong quan hệ lao
động ở trong nước bình thường đã là vấn đề khó giải quyết rồi song nếu nó
xảy ra trong hoạt động xuất khẩu lao động thì lại càng khó khăn hơn do nó có
thêm yếu tố nước ngoài vào đó. Sự khác biệt về pháp luật, văn hoá, phong tục
tập quán, ... giữa các quốc gia lại càng làm cho việc giải quyết trở nên khó
khăn, phức tạp hơn nhiều lần nhưng nếu có sự quản lý chặt chẽ thì sẽ hạn chế
được rất nhiều những vi phạm và tranh chấp trong hoạt động xuất khẩu lao
động.
Đưa lao động đi xuất khẩu sẽ là đem đến quốc gia đó một khối lượng dân
cư khác biệt họ về môi trường sống, khí hậu, ngôn ngữ, tôn giáo,... do vậy sẽ
tạo ra một sự xáo trộn lớn cho xã hội của nước tiếp nhận lao động do đó yêu
cầu các nước này phải có sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động quản lý lao
động này. Hơn nữa khi số lao động này trở về nước thì vấn đề phức tạp nhất là
giải quyết việc làm cho họ do đó cần phải có hệ thống quản lý chặt chẽ từ các
cơ quan Nhà nước.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
23

Bất cứ một quá trình lập kế hoạch quản lý nào đều phải bắt đầu bằng việc
nghiên cứu và dự báo. Qua nghiên cứu và dự báo mà các nhà quản lý nhận
thức được về môi trường xuất khẩu lao động, thị trường các nước, sự cạnh
tranh vv… để đưa ra được kế hoạch cụ thể. Đối với hoạt động quản lý xuất
khẩu lao động thì việc nghiên cứu và dự báo đặt ra yêu cầu là phải hiểu được
hoạt động xuất khẩu lao động đang trong tình trạng như thế nào? Có những
77 Đoàn thị Thu Hà + Nguyễn thị Ngọc Huyền – Khoa Khoa Học Quản Lý – ĐH KTQD – Giáo trình Khoa
Học Quản Lý – tr333 – HN, 2004
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
24
Luận văn tốt nghiệp
đối thủ cạnh tranh nào cùng hoạt động với ta? Tiềm năng và khả năng tiếp cận
thị trường ra sao? Thế mạnh của ta, thế mạnh của họ, khuyết điểm của ta,
khuyết điểm của họ…Việc nghiên cứu và dự báo phải dựa trên những kết quả
thực tế, chuẩn xác nhằm đảm bảo tính thực tế và khả thi của kế hoạch.
Bước 2 - Thiết lập các mục tiêu.
Để đưa ra được một kế hoạch thì không thể thiếu được các mục tiêu cần đạt
được của một quá trình quản lý. Cần nhận thức rõ các mục tiêu phải phù hợp
không được quá cao xa cũng không nên đặt ra mục tiêu quá thấp để dễ ràng
đạt được. Cũng cần phải xác định những mục tiêu nào là mục tiêu chủ yếu,
mục tiêu cốt lõi của quá trình quản lý. Đối với hoạt động quản lý xuất khẩu
lao động mục tiêu chủ yếu là làm sao cho hoạt động xuất khẩu lao động thực
sự hiệu quả.
Bước 3- Phát triển các tiền đề.
Từ các dự báo, các nghiên cứu đã thu thập được từ bước một chúng ta sẽ
phát triển lên thành các tiền đề. Tiền đề lập kế hoạch có thể coi như là các giả
thiết cho việc thực hiện kế hoạch. Đối với hoạt động quản lý xuất khẩu lao
động thì các tiền đề lập kế hoạch có thể là địa bàn tuyển dụng, địa bàn xuất
khẩu, mức lương bình quân, loại công việc, các chi phí cần thiết,…Tuy nhiên,
không phải bất cứ một vấn đề gì có liên quan đều trở thành tiền đề cho quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status