BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN NGỌC THỦY
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
HÓA CHẤT 21- BỘ QUỐC PHÒNG
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM CẢNH HUY
HÀ NỘI - 2013
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU ......................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC TỪ QUY ƯỚC ............................................................................ 5
LỜI CẢM ƠN……………………………………………………………………….....6
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 7
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, QUẢN LÝ VÀ
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM ............................................................ 10
1.1. Khái niệm chất lượng và quản lý chất lượng ................................................ 10
1.1.1. Khái niệm về chất lượng ........................................................................... 10
2.1.7. Cơ cấu lao động của Nhà máy Z121………………………………………38
2.1.8. Cơ cấu sản xuất các sản phẩm chính của Nhà máy Z121…………………39
2.1.9. Hình thức tổ chức của Nhà máy Z121…………………………………….40
2.1.10. Quy trình sản xuất của Nhà máy Z121…………………………………..40
2.2. Phân tích tình chất lượng sản phẩm và công tác quản lý chất lượng sản phẩm
ở Nhà máy Z121 .................................................................................................... 41
2.2.1. Đánh giá chung về chất lượng sản phẩm của Nhà máy Z121 ..................... 41
2.2.2. Phân tích chất lượng sản phẩm ở Nhà máy Z121 Error!
Bookmark
not
defined.
2.2.3. Phân tích quản lý chất lượng của Nhà máy Z121Error! Bookmark not
defined.………………………...47
2.2.3.1. Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế .Error! Bookmark not defined.
2.2.3.2. Quản lý chất lượng trong khâu cung ứngError!
defined.
2
Bookmark
not
2.2.3.3. Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất.............................................. 56
2.2.4. Phương pháp chấm điểm chuyên gia cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm
..................................................................................... Error! Bookmark not defined.
Kết luận Phần 2 ................................................................................................. 69
defined.38
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ cơ cấu lao động của Nhà máy Z121 năm 2012 ................ Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Tình hình cơ cấu các sản phẩm chính của Nhà máy Z121 .......................... 39
Bảng 2.4: Các mặt hàng sản xuất- kinh doanh của Nhà máy Z121Error!
Bookmark
not defined.
Bảng 2.5: Bảng thống kê đánh giá lỗi sai, số lượng, nguyên nhân của pháo hoa đại lễ
tầm cao theo đơn hàng của tỉnh Phú Thọ……………………………………………...……44
Hình 2.4: Thiết bị trộn thuốc tạo màu pháo hoa ......................................................... 44
Bảng 2.6: Bảng thống kê đánh giá lỗi sai, số lượng, nguyên nhân của sản phẩm ống nổ
đốt số 8 theo đơn đặt hàng của Công ty Hóa chất mỏ Sơn LaError! Bookmark not
defined.
Hình 2.5: Dây chuyền sản xuất ống nổ đốt số 8 .......................................................... 46
Bảng 2.7: Bảng thống kê đánh giá lỗi sai, số lượng, nguyên nhân của bán thành phẩm
“Cụm xương đuôi B41-M” theo đơn đặt hàng của Nhà máy Z183-BQPError!
Bookmark not defined.
4
Hình 2.6: Máy tiện công nghệ cao (CNC) sử dụng cho sản xuất hàng quốc phòng
................................................................................... 47Error! Bookmark not defined.
Hình 2.7: Sơ đồ quy trình thiết kế sản phẩm ở Nhà máy Z121 .................................... 50
Hình 2.8: Sơ đồ quá trình bảo quản và cung cấp nguyên vật liệu………………..…….53
Hình 2.9: Quy trình nhập nguyên vật liệu vào sản xuất .............................................. 54
Hình 2.10: Quy trình sản xuất và kiểm tra theo công đoạn………………………………57
Hình 2.11: Quy trình các bước kiểm tra sản phẩm ở Nhà máy Z121……………………58
KCS:
Kiểm tra chất lượng sản phẩm
QC:
Kiểm soát chất lượng
TQC:
Kiểm soát chất lượng toàn diện
5
TQM:
Quản lý chất lượng đồng bộ
NVL:
Nguyên vật liệu
BQP:
Bộ Quốc Phòng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kỹ thuật với đề tài: “Phân tích và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty trách nhiệm
đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp với giá cả cạnh tranh, bên cạnh đó đảm bảo sự
cho phép hoạt động sản xuất kinh doanh của pháp luật Nhà nước.
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp đã sản xuất và cung cấp được những sản
phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đồng thời tạo được hình ảnh tốt
trong con mắt của khách hàng. Đứng trên quan điểm của khách hàng, các yếu tố tác
động đến quyết định của họ trong việc mua một sản phẩm hay dịch vụ chính là chất
lượng sản phẩm, giá thành, thời hạn giao hàng và chế độ sau bán hàng.
7
Trong điều kiện như vậy, việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sẽ
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm giúp Công ty đứng vững trên thị trường
đồng thời thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng.
Xuất phát từ nhận thức trên, bản thân tác giả có điều kiện được nghiên cứu, học
tập và làm việc tại Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP, tác giả đã chọn đề tài:
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hóa chất 21- Bộ Quốc Phòng” làm
chuyên đề nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Do yêu cầu về chất lượng của khách hàng ngày càng cao, vì vậy với đề tài:
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở
Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP”, tác giả hy vọng trên cơ sở lý thuyết về
chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng đã được học, đồng thời với kinh nghiệm rút
ra sau một thời gian công tác tại Công ty của bản thân trong thực tế kết hợp với các tài
liệu tham khảo từ các giáo trình, chuyên gia trong lĩnh vực. Tác giả muốn đề xuất các
biện pháp để nâng cao quy trình phối hợp, tham gia thực hiện và hoàn thiện hệ thống
quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty TNHH MTV Hóa chất 21, quản lý
và điều hành thực hiện để đảm bảo chất lượng sản phẩm, quản lý hiệu quả góp phần
làm giảm giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Từ các biện pháp
được đưa ra đem áp dụng vào công tác quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm
- Phần 2: Tình hình thực trạng về chất lượng sản phẩm ở Công ty TNHH MTV
Hóa chất 21(Nhà máy Z121)- Bộ Quốc Phòng.
- Phần 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty
TNHH MTV Hóa chất 21- BQP.
9
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM,
QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.
1.1. Khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm
1.1.1. Khái niệm về chất lượng
Vấn đề về chất lượng sản phẩm hàng hoá đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
và đã đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những tính
chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác”.
Theo cách định nghĩa này thì chất lượng sản phẩm được đánh giá thông qua các đặc
trưng và đặc tính riêng biệt.
Dựa vào những công trình nghiên cứu về tư bản và hàng hoá, C.Mac đã nêu rõ
hơn khái niệm về chất lượng sản phẩm hàng hoá. Theo ông thì: “Người tiêu dùng mua
hàng không phải vì hàng có giá trị mà vì hàng hoá có giá trị sử dụng cao”. Điều đó nói
lên giá trị sử dụng được đánh giá cao, ví dụ một hàng hoá có giá trị cao nhưng giá trị sử
dụng của nó thấp trong khi đó một hàng hoá khác cùng loại có giá trị nhỏ hơn mà giá
trị sử dụng lại cao thì được mọi người tiêu dùng sử dụng nhiều hơn.
Theo cách định nghĩa trên thì giá trị sử dụng và chất lượng của sản phẩm không
phải là những khái niệm đồng nghĩa mà chất lượng sản phẩm là thước đo mức độ hữu
ích của giá trị sản phẩm.
10
khách hàng thì doanh nghiệp đó đã có một nửa của sự thành công. Theo quan niệm này
thì chất lượng sản phẩm không phải là cao nhất hoặc tốt nhất mà là sự phù hợp nhất với
người tiêu dùng. Cùng với định nghĩa này, theo Giáo sư Ishikawa cho rằng “Chất
lượng là đáp ứng nhu cầu cao nhất với chi phí nhỏ nhất”. Với cách nhìn nhận mới mẻ
này của Giáo sư Ishikawa đã làm thay đổi những quan niệm sai lầm cho rằng muốn có
một sản phẩm chất lượng cao thì chi phí phải bỏ ra nhiều. Chính những cách nhìn nhận
này đã giúp cho chất lượng sản phẩm ngày một gắn liền với sự tăng trưởng của nền
kinh tế các nước cũng như đòi hỏi của toàn xã hội đồng thời cũng giúp các doanh
nghiệp có những cách nhìn nhận chất lượng của sản phẩm đóng một vai trò rất quan
trọng với sự tăng trưởng của của doanh nghiệp. Với cách định nghĩa này cũng cho ta
thấy được rằng sản phẩm có giá thành cao nhất chưa chắc đã là sản phẩm tốt nhất.
Mỗi cách định nghĩa khác nhau lại nảy sinh một nhược điểm do đó để khắc phục
nhược điểm này Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã đưa ra cách định nghĩa như
sau: “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực
thể đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”. Theo định nghĩa
này thì chất lượng sản phẩm là phản ánh sự kết hợp giữa đặc tính nội tại khách quan
của sản phẩm với chủ quan bên ngoài là sự phù hợp với khách hàng nên định nghĩa của
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) được chấp nhận phổ biến rộng rãi nhất. Từ
những cách định nghĩa trên chất lượng sản phẩm được kết luận ngắn gọn như sau:
- Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn của con người hoặc xã hội, nếu vì một lý
do nào đó mà sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu ta gọi là sản phẩm kém chất
lượng.
- Do nhu cầu luôn luôn biến động, biến đổi theo sự tiến hoá của khoa học kỹ thuật
nên chất lượng sản phẩm cũng không ngừng được nâng cao, hoàn thiện hơn.
- Nhu cầu có thể được công bố dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng
cũng có thể có những nhu cầu không thể mô tả một cách rõ ràng được, người sử dụng
chỉ có thể cảm nhận được chúng khi tiếp xúc, khi sử dụng chúng.
12
Đối với tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, họ đưa ra cách định nghĩa về quản
lý chất lượng như sau: “Quản lý chất lượng là các phương pháp hoạt động được sử
dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chất lượng”. Theo cách định nghĩa này thì việc
quản lý có chất lượng tốt nhất là việc làm như thế nào để tạo ra sản phẩm có khả năng
đáp ứng cao nhất những mong đợi của khách hàng.
Các tác giả, các tổ chức có lập luận khác nhau song đều nhìn nhận tương đồng với
nhau đó là quản lý chất lượng sản phẩm là một hệ thống các biện pháp, các quy định
dựa trên các thành tựu của khoa học nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực để đưa ra các
sản phẩm có nguồn lực thoả mãn những yêu cầu của thị trường với chi phí và hiệu quả
kinh tế nhất.
* Một số định nghĩa liên quan đến quản lý chất lượng.
- Chi phí chất lượng (Quality Costs): Muốn nâng cao chất lượng thì cần phải đổi
mới công nghệ do đó rất nhiều doanh nghiệp không dám đổi mới công nghệ để nâng
cao chất lượng. Chi phí chất lượng là khoản đầu tư nhằm làm cho sự không phù hợp
với mục đích của người tiêu dùng.
- Sản phẩm (Products): Đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khác nhau như:
kinh tế học, công nghệ học, tâm lý học, xã hội học…đó là sản phẩm. Trong mỗi lĩnh
vực, sản phẩm được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau theo những mục tiêu nhất
định. Trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý chất lượng, sản phẩm được xem xét trong
mối quan hệ của nó với khả năng và mức độ thoả mãn nhu của người tiêu dùng, của xã
hội với những điều kiện và chi phí nhất định. Sản phẩm là kết quả của các hoạt động
hoặc các quá trình (tập hợp các nguồn lực và hoạt động có liên quan với nhau để biến
đổi đầu vào thành đầu ra). Nguồn lực ở đây được hiểu là bao gồm nhân lực, trang thiết
bị, công nghệ và phương pháp.
- Chính sách chất lượng (Quality Policy): Một bộ phận của chính sách chung trong
doanh nghiệp, phản ánh phương hướng, mục đích và nhiệm vụ cơ bản của doanh
nghiệp trong lĩnh vực chất lượng là chính sách chất lượng. Qua chính sách chất lượng
14
chức, các thủ tục, quá trình và các nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng.
Hệ thống chất lượng phải có quy mô phù hợp với tính chất của các hoạt động của
doanh nghiệp. Các thủ tục trong hệ thống chất lượng cần được văn bản hoá trong hệ
thống hồ sơ chất lượng nhằm mục đích đảm bảo sự nhất quán trong các bộ phận của
quá trình.
- Cải tiến chất lượng (Quality Improvement): Thực tế cho thấy không một tiêu
chuẩn chất lượng nào là hoàn hảo vì những đòi hỏi của người tiêu dùng, xã hội ngày
càng cao. Cải tiến chất lượng là các hoạt động thực hiện trong toàn tổ chức, để làm
tăng hiệu quả của các hoạt động và quá trình dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
và tăng chất lượng cho khách hàng.
1.1.3. Vai trò của quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng không chỉ là bộ phận hữu cơ của quản lý kinh tế mà quan
trọng hơn nó là bộ phận hợp thành của quản trị kinh doanh. Khi nền kinh tế và sản
xuất- kinh doanh phát triển thì quản trị chất lượng càng đóng vai trò quan trọng và trở
thành nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được của doanh nghiệp và xã hội.
Tầm quan trọng của quản trị chất lượng được quyết định bởi vị trí của công tác
quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh. Bởi vì, theo quan điểm hiện đại thì quản lý chất
lượng chính là quản lý có chất lượng, quản lý toàn bộ qua trình sản xuất- kinh doanh.
- Với nền kinh tế quốc dân, đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ tiết kiệm
được lao động xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, sức lao động, công cụ
lao động, tiền vốn… Nâng cao chất lượng có ý nghĩa như tăng sản lượng nhưng tiết
kiệm được lao động. Trên ý nghĩa đó, tiết kiệm lao động cũng có ý nghĩa là tăng năng
suất.
16
- Với người tiêu dùng, đảm bảo nâng cao chất lượng sẽ thỏa mãn được yêu cầu
của người tiêu dùng, tiết kiệm cho người tiêu dùng và góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống. Đảm bảo nâng cao chất lượng sẽ tạo lòng tin và tạo ra sự ủng hộ của khách
hàng với người sản xuất, do đó sẽ góp phẩn phát triển sản xuất kinh doanh.
nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh và đánh giá chất lượng sản phẩm
Tuỳ theo mục đích sử dụng, chất lượng sản phẩm hàng hoá lại được chia thành
bốn nhóm sau:
- Nhóm chỉ tiêu sử dụng là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng khi
mua hàng thường quan tâm đến để đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá. Nhóm này
bao gồm thời gian sử dụng (tuổi thọ, độ bền...); mức độ an toàn trong sử dụng, khả
năng sửa chữa, thay thế các chi tiết, hiệu quả sử dụng (sinh lợi, tiện lợi).
- Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ: đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ quan
nghiên cứu, thiết kế, sản xuất kinh doanh thường dùng để đánh giá giá trị sử dụng của
sản phẩm hàng hoá.
- Nhóm chỉ tiêu hình dáng, trang trí, thẩm mỹ: bao gồm các chỉ tiêu về hình
dáng sản phẩm, tính chất các đường nét, sự phối hợp của các yếu tố tạo hình chất lượng
trang trí, màu sắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ...
- Nhóm chỉ tiêu kinh tế: bao gồm chi phí sản xuất, giá cả, chi phí cho quá trình
sử dụng... đây là những chỉ tiêu có tính chất tổng hợp mà trước đây quan điểm “kỹ
thuật thuần tuý” thường ít chú ý kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Trong sản xuất kinh doanh khi kiểm tra cần căn cứ vào đặc điểm sử dụng và
nhiều yếu tố như: tình hình sản xuất, quan hệ cung cầu, điều kiện xã hội... mà chọn
những chỉ tiêu chủ yếu và chỉ tiêu bổ sung cho phù hợp.
Theo cách phân loại trên, ta thấy mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của chất
lượng sản phẩm nhưng chúng không tồn tại một cách độc lập mà quan hệ chặt chẽ với
18
nhau. Vai trò và ý nghĩa của từng chỉ tiêu đối với mỗi loại sản phẩm là khác nhau do
đó mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định những chỉ tiêu quan trọng để sản
phẩm của doanh nghiệp mình mang sắc thái riêng đối với những sản phẩm riêng biệt
trên thị trường. Hiện nay, chỉ tiêu an toàn và chỉ tiêu sinh thái trở thành những chỉ tiêu
bắt buộc đối với các doanh nghiệp vì nó liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và cuộc sống
điều kiện để ứng dụng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất những thành tựu khoa học
kỹ thuật vào sản xuất là vấn đề quyết định đối việc nâng cao chất lượng sản phẩm.
c) Nhu cầu của thị trường.
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng tạo lực hút, định
hướng cho cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm. Cơ cấu tính chất, đặc điểm và xu
hướng vận động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm có thể đánh
giá cao ở thị trường này nhưng lại không cao ở thị trường khác. Điều đó đòi hỏi phải
tiến hành nghiêm túc, thận trọng trong công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường,
phân tích môi trường kinh tế xã hội, xác định chính xác nhận thức khách hàng, thói
quen, truyền thống, phong tục tập quán, văn hoá nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp
với nhu cầu của từng phân đoạn thị trường.
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm, yêu cầu
người tiêu dùng chưa cao thì chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Nhưng đời sống
xã hội tăng lên, đòi hỏi của khách hàng sẽ tăng lên cả về tính năng sử dụng và giá trị
thẩm mỹ... Khách hàng sẵn sàng mua với giá cao với điều kiện chất lượng sản phẩm
phải thỏa mãn nhu cầu của họ. Trên cơ sở đó việc lựa chọn mức chất lượng phải phù
hợp sẽ làm tiền đề cho sự phát triển chung của xã hội.
d) Hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước.
Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách riêng biệt mà luôn có mối quan hệ
chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, xã hội và cơ chế chính
sách quản lý kinh tế của mỗi nước. Khả năng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm
của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào cơ chế quản lý của từng nước. Cơ chế
quản lý vừa là môi trường vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng tốc độ
20
cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Thông qua cơ chế chính
sách quản lý vĩ mô của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi kích thích:
- Tính độc lập, dân chủ, sáng tạo, xoá bỏ tâm lý ỷ lại, không ngừng phát huy sáng
kiến cải tiến hoàn thiện chất lượng của doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào việc cấu thành lên sản
phẩm của doanh nghiệp. Những đặc tính của nguyên vật liệu sẽ được đưa vào sản
xuất sản phẩm. Vì vậy, chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng sản phẩm sản xuất ra. Không thể có chất lượng sản phẩm cao từ nguyên liệu
có chất lượng không tốt. Chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên vật
liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm. Ngoài ra, chất lượng hoạt
động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập hệ thống cung ứng
nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin
cậy lẫn nhau giữa nhà sản xuất và nhà cung ứng đầy đủ, kịp thời, chính xác, đúng
nơi, đúng thời gian quy định.
d) Công tác quản lý chất lượng sản phẩm.
Công tác quản lý chất lượng là sự tác động một cách chủ động có kế hoạch lên
các yếu tố hình thành và ảnh hưởng tới chất lượng nhằm duy trì và tăng cường chất
lượng hàng hoá dịch vụ, chất lượng được tạo ra từ nhiều bộ phận trong doanh nghiệp,
là kết quả nỗ lực của nhiều người. Vì vậy, quản lý chất lượng phải là hệ thống bao trùm
lên mọi hoạt động, mọi công việc, hướng mọi hoạt động tới chất lượng.
- Chất lượng hàng hoá là vấn đề kỹ thuật cho nên quản lý chất lượng phải có
chuyên môn nghiệp vụ, phải có trang thiết bị kỹ thuật phù hợp.
- Chất lượng hàng hoá dịch vụ bao gồm cả nội dung kinh tế, cho nên quản lý
chất lượng phải gắn liền với quản lý chi phí, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4. Các chức năng quản lý chất lượng sản phẩm
Quản lý chất lượng cũng như bất kỳ loại quản lý nào đều phải thực hiện một số
chức năng cơ bản như: hoạch định, tổ chức, kiểm tra, điều hòa, phối hợp. Nhưng do
22
mục tiêu và đối tượng quản lý của quản lý chất lượng có những đặc thù riêng nên các
chức năng của quản lý chất lượng cũng có những đặc thù riêng.
Deming là người đã khái quát chức năng quản lý chất lượng thành vòng tròn chất
+ Làm cho mọi người thực hiện kế hoạch biết rõ mục tiêu, sự cần thiết và nội
dung công việc cần thực hiện;
+ Tổ chức chương trình đào tạo và giáo dục cần thiết đối với những người thực
hiện kế hoạch;
+ Cung cấp nguồn lực cần thiết ở mọi nơi và mọi lúc.
1.4.3. Chức năng kiểm tra, kiểm soát.
Kiểm tra, kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển, đánh giá các hoạt động
tác nghiệp thông qua những phương tiện, phương pháp hoạt động nhằm đảm bảo chất
lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu đặt ra. Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra, kiểm
soát chất lượng là:
- Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng như yêu cầu;
- Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của doanh nghiệp;
- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện những sai lệch;
- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch, đảm bảo
thực hiện đúng những yêu cầu.
Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh giá
một cách độc lập các vấn đề sau:
+ Liệu kế hoạch có được tuân thủ một cách trung thành không?
+ Liệu bản thân kế hoạch đã đủ chưa?
Nếu mục tiêu không đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều trên đều
không thỏa mãn.
1.4.4. Chức năng điều chỉnh, điều hòa, phối hợp.
Đó là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp đồng bộ, khắc phục các
tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn trước nhằm giảm dần khoảng cách
giữa mong muốn của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được. Hoạt động điều
24