BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN HÀ VIỆT
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO
KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản trị Kinh Doanh
Khóa: 2009-2011
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Thanh Hồng
PHÚ THỌ, NĂM 2012
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đề ra nhiều chủ trương
đúng đắn, nhờ vậy tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Trong các
chủ trương đó, phải kể đến chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, huy động
mọi nguồn lực để phát triển đất nước, trong đó có vốn đầu tư trong nước và nước
ngoài. Khu công nghiệp (sau đây gọi tắt là KCN), Khu kinh tế ( sau đây gọi tắt là
KKT), Khu chế xuất (KCX) được hình thành là một trong những giải pháp quan
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
và lao động các địa phương trên cả nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những đóng góp tích cực của KCN, KCX vào phát triển kinh tế, xã hội trong 20
năm qua đã khẳng định đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về
xây dựng và phát triển các KCN, KCX.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở nước ta chưa thực sự vững chắc, việc
xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa đồng bộ, chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi
trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu, liên kết
kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN chưa cao, khả
năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn nhiều hạn chế.
Vấn đề đặt ra là làm sao để nâng cao khả năng thu hút vôn đầu tư vào KCN
hay nói cách khác là nâng cao hiệu quả của các KCN là một vấn đề mà Đảng và
Nhà nước, các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hạ tầng KCN, các doanh nghiệp và
nhân dân trong cả nước đã và đang rất quan tâm.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía tây Bắc Việt Nam, vị trí địa lý trng tâm
của vùng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cầu nối vùng Tây Bắc với
thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, có truyền thống về phát triển tiểu thủ
công nghiệp và chế biến nông sản thực phẩm. Nhằm phát triển Phú Thọ là trung tâm
phía tây bắc về kinh tế, xã hội và công nghiệp tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18 và
19 đã xác định rõ mục tiêu: “Chủ động nắm thời cơ tranh thủ xây dựng các dự án
đầu tư để phát triển những cơ sở sản xuất công nghiệp mới, hình thành khu công
nghiệp tập trung và đầu tư cơ sở hạ tầng vào khu vực này để thu hút, đón nhận đầu
tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước"
Từ chủ trương trên, trong những năm qua UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành
xây dựng quy hoạch các KCN tập trung phù hợp với các điều kiện thực tế của địa
phương, đồng thời tỉnh cũng ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm kêu gọi và thu
hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào
KCN Thụy Vân.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở các khu công nghiệp của tỉnh Phú
Thọ nói chung, KCN Thụy Vân nói riêng và một số KCN của các tỉnh lân cận.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu sẵn có, kết hợp điều tra khảo sát tại các
KCN của tỉnh Phú Thọ, từ đó phân tích, đánh giá các số liệu thu thập được và đưa
ra các giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào KCN Thụy Vân.
5. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
Việc nghiên cứu để xây dựng đề tài: “Phân tích thực trạng và đề xuất một số
giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Thụy
Vân” là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cơ quan quản lý
nhà nước, cơ quan hoạch định chính sách phát triển của địa phương có những thông
tin cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển KCN Thụy Vân.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua các nội dung sau đây:
Nguyễn Hà Việt
3
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về các KCN, các tiêu chí
đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư của các KCN nói chung.
1.1. Khái niệm về KCN
1.1.1. Khái niệm về KCN
Kinh tế thế giới đã bước sang một giai đoạn mới với việc ứng dụng cách
mạng công nghệ thông tin. Thị trường toàn cầu dần rộng mở với tốc độ vận chuyển
và truyền thông nhanh hơn bao giờ hết. Các công ty có thể dễ dàng tận dụng chi phí
nhân công và nguyên vật liệu rẻ ở nơi khác để cạnh tranh về giá thành. Người ta
không còn cần phải tập trung vào các khu vực dồi dào tài nguyên và nguồn lao động
khi xây dựng cơ sở kinh doanh. Phải chăng, nền kinh tế mới đang dần xoá bỏ vai trò
của vị trí địa lý trong các quyết định chiến lược.
Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh khu vực đang dần chuyển biến sang một
hướng khác. Đó là việc hình thành nên các khu công nghiệp tập trung (mang tính tự
phát), mà Michael E. Porter, giáo sư kinh tế Đại học Havard, gọi là những
"clusters". Trước đây, lợi thế khu vực phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, nguồn lao
động,... mà ở nơi khác không có được. Ngày nay, khái niệm cluster đã khẳng định
lợi thế khu vực qua hiện tượng quy tụ của các ngành công nghiệp. Không phải ngẫu
nhiên mà Hollywood trở thành trung tâm công nghiệp điện ảnh, Wall Street trở
thành trung tâm công nghiệp tài chính, Silicon Valley trở thành trung tâm công
nghệ cao và bắc Ý trở thành trung tâm công nghiệp giày da cao cấp. Vì khả năng
kiểm soát giá thành của các Công ty ngày càng tương đương, năng lực cạnh tranh
đang và sẽ phụ thuộc vào tính năng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ, với yếu tố
quyết định là khả năng đổi mới (innovation) của công ty.
Trước hết cần hiểu khu công nghiệp tập trung như thế nào? Theo định nghĩa
của Porter, "cluster" là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại
trong một lĩnh vực cụ thể. Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp
chuyên môn hoá các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng. Khu công nghiệp
tập trung bao trùm lên cả các kênh phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là
những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ, các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ
thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng một loại đầu vào. Các khu công nghiệp tập
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế
quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch,
khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp
với đặc điểm của từng khu kinh tế.
1.1.2. Đặc điểm của khu công nghiệp:
Về mặt pháp lý: các khu công nghiệp là phần lãnh thổ của nước sở tại, các
doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp của Việt Nam chịu sự điều
chỉnh của pháp luật Việt Nam như: luật đầu tư nước ngoài, luật lao động, quy chế
về khu công nghiệp và khu chế xuất...
- Về mặt kinh tế: khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn lực để phát triển
công nghiệp, các nguồn lực của nước sở tại, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát
Nguyễn Hà Việt
6
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
triển cơ cấu kinh tế, những ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư. Bên cạnh
đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội
tốt tại đây thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác.
Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư với quy
mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công
nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường.
1.1.3. Sự cần thiết khách quan xây dựng và phát triển KCN
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
nâng cao dân trí. Các KCN sẽ góp phần tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, nâng
cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả vốn đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
liên kết, hợp tác với nhau nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh,
tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hội nhập kinh tế quốc tế. KCN phát triển sẽ tác động
đến việc hình thành các vùng nguyên liệu, các vùng công nghiệp vệ tinh, góp phần
thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phát triển các KCN cũng đồng thời với việc tiết kiệm hạ tầng, có điều kiện thuận lợi
để thu hút đầu tư, cung cấp các dịch vụ hành chính công cho các Doanh nghiêp và
có môi trường tốt để tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến.
Trong điều kiện thực tế của Việt Nam, chúng ta chưa thể có ngay được một
hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ trên cả nước, chưa thể tạo ra một mặt
bằng pháp lý thống nhất và bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong và ngoài
nước hoạt động, phát triển KCN là một giải pháp để có được một hệ thống kết cấu
hạ tầng đồng bộ, môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất để thu hút vốn trong
nước và vốn đầu tư nước ngoài để phát triển. Đăc biệt trong thời gian gần đây, quan
điểm về phát triển KCN có sự thay đổi: phát triển KCN không chỉ chú trọng vào
mục tiêu thu hút vốn FDI nhằm du nhập các yếu tố vốn, công nghệ, trình độ lao
động của thế giới vào Việt Nam, xem nhẹ khu vực trong nước, mà KCN còn là một
giải pháp để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực của
các thành phần kinh tế trong nước, thông qua việc thu hút các doanh nghiệp trong
nước tham gia đầu tư vào KCN. Biểu hiện rõ nét nhất của xu hướng này là dòng
vốn đầu tư trong nước vào KCN vài năm gần đây ngày càng gia tăng.
KCN là mô hình kinh tế đã được áp dụng phổ biến trên thế giới. Ở các nước
phát triển ở Châu Âu và Bắc Mỹ, có một thời kỳ các nước này đã đẩy mạnh việc
nghiệp; góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
khai thác tốt nhất mọi nguồn lực và những lợi thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh
và đẩy nhanh tốc độ phát triển chung của nền kinh tế. Trong những năm qua, doanh
thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN, KCX liên
tục tăng nhanh đều qua các năm. Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp trong
KCN, KCX tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3 lần tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân của cả nước (nguồn: Vụ QL các KKT – Bộ KHĐT). Giá trị xuất
khẩu và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong các KCN, KCX tăng trưởng
mạnh, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN, KCX giai đoạn từ
năm 2005-2010 là 38,1%, cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước.
Năm 2005, các doanh nghiệp trong KCN, KCX đã nộp ngân sách đạt 650 triệu
USD, đến năm 2010, các doanh nghiệp này đóng góp vào ngân sách nhà nước đạt
2.620 triệu USD, cao gấp 4 lần so với năm 2005 (xem Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các khu công nghiệp toàn quốc
Chỉ tiêu
ĐVT
GTSX Công nghiệp
2011
Triệu USD
31350
Giá trị xuất khẩu
"
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của các KCN, KCX tăng trưởng
mạnh đã góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng công nghiệp trong GDP, từ 23,79% năm 1991 lên 41% năm 2010. Trong
khi đó, tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp giảm tương ứng từ 40,49% năm 1991
xuống còn 22% năm 2010 (nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam, 2009).
Sự chuyển dịch cơ cấu này chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng nhanh của
những ngành công nghiệp chế biến có liên quan mật thiết đến xuất khẩu và KCN,
KCX. Hiện nay các ngành công nghiệp chế biến chiếm tới 80% giá trị sản lượng
công nghiệp (trừ ngành khai thác mỏ). Trong đó có một số ngành có tốc độ tăng
trưởng rất cao như may mặc và da giầy. Chính những ngành này là động lực chính
làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp trong thời gian qua, góp phần đẩy mạnh quá
trình công nghiệp hóa đất nước. Việc phát triển các KCN, KCX có vai trò quan
trọng trong việc góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa.
(2) KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tạo ra lực lượng lao động có trình
độ tay nghề cao, thích ứng với nền công nghiệp hiện đại; đội ngũ cán bộ có trình độ
quản lý giỏi:
KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng
với chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng. Đây là điểm đến lý tưởng để các nhà
đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài. Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên
thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay
nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam.
Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng
với dòng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong
KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công
mở rộng trong giai đoạn đầu (1991 – 1995) và đặc biệt tăng trưởng với tốc độ cao
trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 và 2001 – 2005. Nếu như cả giai đoạn 1991 –
1995, khi các KCN, KCX đang trong quá trình triển khai xây dựng, số dự án thu hút
được mới đạt 155 dự án với tổng vốn 1.550 triệu USD, thì trong 5 năm 1996 –
2000, các KCN, KCX đã thu hút thêm được 590 dự án với tổng vốn đầu tư tăng
thêm đạt 7.213 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần về số dự án và 4,65 lần về tổng vốn đầu
tư đăng ký so với kế hoạch 5 năm 1991 – 1996. Số dự án thu hút mới trong kế
hoạch 5 năm 2001 – 2005 là 1.377 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 8.080
triệu USD, tăng gấp 2,34 lần về số dự án và 12% về tổng vốn đầu tư so với kế
hoạch 5 năm 1996 – 2001. Tốc độ tăng bình quân về số dự án thu hút mới và tổng
vốn đầu tư tăng thêm giai đoạn 1996 – 2000 tướng ứng là 37% và 46%, kế hoạch 5
năm 2001 – 2005 là 16% và 37%. Số dự án thu hút mới trong kế hoạch 5 năm 2006
– 2010 là 1.860 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 36.800 triệu USD, tăng gấp
Nguyễn Hà Việt
11
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
1,35 lần về số dự án và 4,5 lần về tổng vốn đầu tư so với kế hoạch 5 năm 2001 –
2005. (nguồn: Vụ quản lý các KKT – Bộ KHĐT).
Ngoài ra, KCN, KCX còn là một trong những giải pháp để thực hiện chủ
trương phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước. Nhìn vào bảng 1.2
ta thấy, nếu như trong 5 năm 1991 – 1995, chỉ có gần 50 dự án đầu tư trong nước
đầu tư vào KCN, KCX, thì đến giai đoạn 5 năm 1996 – 2000 đã thu hút thêm được
án
án
ĐT
ĐT
án
Đầu tư
trong nước
50
200
450
35000
1870
80000
2010
218860
155
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
có thể cho thuê của các KCN cả nước đạt khoảng 55%, riêng các KCN đã vận hành
đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 65%. Giải quyết việc làm cho gần 1,76 triệu lao động và
tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp mỗi năm khoảng 25 tỷ USD (nguồn: Báo cáo
năm 2011 của Vụ quản lý KKT – Bộ KHĐT).
Các dự án đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đa dạng hóa về hình thức
đầu tư. Các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 85% về số dự án và hơn 80% về tổng vốn đầu
tư đăng ký, còn lại là các hình thức liên doanh, doanh nghiệp cổ phần và hợp đồng
hợp tác kinh doanh. Các dự án đầu tư trong nước cũng bao gồm đa dạng các loại
hình doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là công ty trách nhiệm hữu hạn (trên 80% số
dự án và gần 60% vốn đầu tư).
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là trong
giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, KCN, KCX với vai trò
thu hút và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư đã thực sự đóng góp không nhỏ trong
việc huy động nguồn lực lớn vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.
(4) KCN, KCX góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng:
Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện hết sức quan trọng và cấp
thiết của nền kinh tế quốc dân. Để thu hút đầu tư vào KCN, tạo điều kiện thuận lợi
cho nhà đầu tư trong việc triển khai nhanh dự án.Việc phát triển các KCN trong thời
gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp
phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN,
KCX. Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các
khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm,
bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích
khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh),
Việt Hương (Bình Dương).
Thứ tư là, quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN,
KCX còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát
triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp
phụ trợ, dịch vụ, các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và
cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí.
Thứ năm là, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các
ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt
động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường
địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN, KCX.
(5) KCN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao trình
độ của đội ngũ lao động quản lý:
Nguyễn Hà Việt
14
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Các KCN có không gian kinh tế rộng lớn với nhiều doanh nghiệp sản xuất đã
tạo ra kênh hiệu quả để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động xã hội,
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
doanh nghiệp trong các KCN có điều kiện tiêu thụ sản phẩm tại các cơ sở kinh
doanh xung quanh KCN.
KCN ra đời đã tạo nên những vùng công nghiệp tập trung, tác động rất tích
cực tới việc phát triển các cơ sở nguyên liệu, thúc đẩy phát triển các loại hình dịch
vụ phục vụ công nghiệp, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa, nâng cao hiệu quả tổng
hợp của các ngành sản xuất. Hiệu quả này đặc biệt rõ nét ở các KCN thuộc vùng
đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các doanh nghiệp chế biến tại
các KCN ở Nam Định, Hà Nam, Cần Thơ…đã góp phần tiêu thụ nông sản ở các hộ
gia đình, cơ sở công nghiệp ở các vùng nông thôn xung quanh, cải thiện một bước
đời sống nông dân.
KCN góp phần mở rộng thị trường yếu tố đầu vào, đầu ra tại các vùng lân
cận, đặc biệt là những địa phương trình độ công nghiệp phát triển, thấy rõ nhất điều
này là sức lan tỏa lớn của KCN tại thành phố Hồ Chí Minh lan tỏa tới các tỉnh lân
cận như Đồng Nai, Bình Dương, chuyển các địa phương này từ cơ cấu kinh tế thuần
nông sang cơ cấu kinh tế công nghiệp hiện đại. Trong thời gian tới, xu hướng lan
tỏa từ các KCN ở các địa phương này sẽ còn mở rộng hơn nữa sang các địa phương
khác như Long An và Tây Ninh.
Cùng với quá trình phát triển các KCN, nhu cầu về nhân lực ngày càng lớn.
Để đáp ứng nhu cầu này, trong quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch
phát triển công nghiệp trên địa bàn, các địa phương đưa ra chương trình kế hoạch và
giải pháp cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực; các cơ sở đào tạo trong vùng và lân cận
phải xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch đào tạo theo định hướng phù hợp với nhu
KCN góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khỏi
thành phố, do vậy, góp phần giải quyết ô nhiễm đô thị, tạo điều kiện quy hoạch đô
thị hiện đại.
(8) Các KCN góp phần tạo ra công nghệ, năng lực sản xuất mới:
Cùng với việc đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư đã đưa
vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ được đánh giá là tiên tiến,
hiện đại. Trong đó, có những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến
khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử.
Trước đây, các dự án đầu tư vào KCN chủ yếu thuộc ngành công nghiệp nhẹ
như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số dự
án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đó góp phần
nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm... Tuy
nhiên, đến nay, các KCN đã có nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, mới
như dầu khí, cơ khí chính xác, sản xuất phụ tùng ô tô.... Nhiều công ty sản xuất
công nghiệp đa quốc gia lớn đã có mặt tại Việt Nam như: Sam Sung, Hồng Hải,
Robert Bosch, Cannon. Một số dự án sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư lên đến
hàng trăm triệu USD như Dự án của Tập đoàn Foxcon (Đài Loan) tại Bắc Ninh, Dự
Nguyễn Hà Việt
17
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
án sản xuất linh kiện máy điện thoại di dộng của Tập đoàn Hồng Hải tại Vĩnh
18
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
xét trên khía cạnh hiện tại và sự duy trì khả năng ấy trong tương lai. KCN đảm bảo
được nhiều điều kiện thuận lợi thì khả năng thành công là rất cao và ngược lại nếu
không đáp ứng được các yêu cầu trên thì sẽ rất khó khăn trong quá trình hình thành,
phát triển thu hút đầu tư và hiệu quả đầu tư phát triển KCN sẽ thấp rất dễ thất bại.
1.3.1.2. Chất lượng qui hoạch KCN :
Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu của quá
trình qui hoạch, sử dụng và phát triển KCN. Nó thể hiện ở tính hợp lý, đồng bộ,
khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong qui hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như
xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ,... nhằm đạt được các mục
tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, và thu hút lao động.
Tiêu chí này xét trên 2 khía cạnh:
- Một là, mục đích hình thành khu công nghiệp: nếu việc hình thành khu
công nghiệp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì quy mô có hiệu quả nằm trong
khoảng 200-300 ha (đối với các khu công nghiệp nằm trong khu vực thành thị và
vùng kinh tế trọng điểm), còn 200-400 ha đối với khu công nghiệp nằm trên các
tỉnh; với mục tiêu di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn tập
trung vào thì khu công nghiệp có quy mô nhỏ hơn 100 ha; với mục tiêu tận dụng
nguồn lao động là thế mạnh tại chỗ của các địa phương thì quy mô khu công nghiệp
từ 100 ha; với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình thành các khu công
nghiệp có quy mô từ 100-200 ha.
Quá trình xây dựng quy hoạch phát triển KCN cần thiết phải kết hợp một
cách hữu cơ giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, không gian và sử dụng đất,
giữa quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ. Rà soát chi tiết quy hoạch sử dụng đất
để xây dựng và phát triển các KCN trên phạm vi cả nước, để điều chỉnh cho phù
hợp với phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và từng vùng kinh tế. Quy
hoạch phải mang tính tổng thể, phải xem xét tất cả các yếu tố: vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, nguồn lực vật chất, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực ... đảm bảo
liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội chung, dựa trên sự phân công, căn cứ vào
tiềm năng, lợi thế phát triển tương lai của từng địa phương và khu vực từ đó tận
dụng được lợi thế so sánh, tránh tình trạng cạnh tranh gay gắt làm hiệu quả hoạt
động của các KCN bị giảm sút. Quy hoạch phải có tính toàn diện, bao quát cả quy
hoạch bên trong và bên ngoài các KCN, bao gồm cả vùng dân cư, các cơ sở hạ tầng
kỹ thuật và xã hội. Các quy hoạch cần được xác định rõ mục tiêu và nguồn thu hút
đầu tư.
(3) Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và vấn đề xã hội :
Phát triển kinh tế và vấn đề xã hội luôn là hai mặt của đời sống xã hội cần
được quan tâm. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, từ một nước có trình
độ phát triển thấp, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh cần có những
Nguyễn Hà Việt
20
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
"điểm nhấn", lựa chọn ngành mũi nhọn, KCN mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm để
21
Khóa học 2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
triển KCN trong quy hoạch xây dựng vùng và đô thị có một tầm quan trọng đặc biệt
và xuất phát từ bối cảnh Việt Nam hiện nay mật độ dân cư và ngày càng tăng, tỷ lệ
đô thị hoá đang tăng nhanh song song với tiến trình CNH, quỹ đất canh tác nông
nghiệp truyền thống do đó đang dần bị thu hẹp nhường chỗ cho đất dành cho phát
triển đô thị, công nghiệp và hàng loạt các nhu cầu xã hội khác không gắn bó trực
tiếp với sản xuất hàng hoá như dịch vụ, nghỉ ngơi, giải trí.
1.3.1.3. Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả việc sử dụng tối ưu mặt bằng các KCN, tiêu chí
này xác định hiệu quả của việc khai thác và sử dụng đất có ích trên tổng diện tích được
cấp phép theo dự án của KCN, đó chính bằng tổng diện tích đất trong KCN đã được
các doanh nghiệp và dịch vụ thuê so với tổng diện tích đất của KCN. Tỷ lệ lấp đầy này
không đòi hỏi phải đạt cao ngay từ đầu mà phải chia theo từng phân kỳ đầu tư và đánh
giá theo từng giai đoạn. Thời kỳ đầu là thời kỳ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khoảng
3-5 năm, tiếp sau đó là giai đoạn thu hút đầu tư và hoàn thiện các khu chức năng theo
nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp thuê đất, thu hồi chi phí đầu tư, tạo việc làm cho
người lao động …theo kinh nghiệm quốc tế thời gian để thu hồi kinh phí đầu tư xây
dựng có thể kéo dài trong khoảng 15-20 năm còn nếu sau khoảng 10-15 năm mà tỷ lệ
lấp đầy thấp hơn 75% thì coi như KCN này không đạt hiệu quả kinh tế như kỳ vọng và
không đảm bảo phát triển bền vững.
Tỷ lệ diện tích đất công nghiệp trên đất tự nhiên(%)
S CN
SCN đã cho thuê
×100%
Tông SCN cúa KCN
Tỷ lệ này phản ánh tính hiệu quả của việc khai thác sử dụng đất có ích trên
tổng diện tích đất công nghiệp được cấp phép theo dự án của KCN và là chỉ tiêu so
sánh sự thành công của các KCN với nhau trong việc thu hút đầu tư.
Một KCN có diện tích đất lấp đầy 100% là KCN đã khai thác triệt để phần
diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê và không để lãng phí đất trống.
1.3.1.4. Số dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện.
Chỉ tiêu số dự án đầu tư nhằm xác định khả năng thu hút các nhà đầu tư và số
dự án được đầu tư vào từng KCN đồng thời cũng là một tiêu chí so sánh khả năng
thu hút vốn đầu tư vào các KCN với nhau. Chỉ tiêu so sánh này chỉ mang tính tương
đối bởi nếu số dự án đầu tư vào một KCN nhiều nhưng tổng vốn đầu tư thấp thì
cũng chưa phản ánh hết được quy mô của KCN.
Chỉ tiêu tổng vốn đầu tư nhằm xác định tổng lượng vốn mà các nhà đầu tư
đầu tư cho từng KCN đồng thời nó là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu hút vốn của
từng KCN với nhau. Chỉ tiêu này cũng chưa phản ánh chính xác hiệu quả khai thác
bởi các KCN có diện tích khác nhau, do vậy khi so sánh cần cân nhắc thêm nhiều
yếu tố khác.
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký
của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN; vốn đầu tư bình quân của một
dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất.
Công thức tính tỷ lệ vốn đầu tư trên một diện tích đất công nghiệp
Nguyễn Hà Việt
23
Khóa học 2009
GDP địa phương.
Chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng và năng lực đóng góp của KCN vào việc
tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng GDP của địa phương nơi đặt KCN. Qua chỉ tiêu
này chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng của KCN đối với việc tăng trưởng GDP
và tăng trưởng kinh tế địa phương để từ đó có cách nhìn nhận đúng trong việc cần
thiết, hay chưa thực sự cần thiết trong xây dựng và phát triển các KCN và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Nguyễn Hà Việt
24
Khóa học 2009