Đánh giá hiệu quả và tác dụng không mong muốn của Acid Zoledronic (Aclasta) sau 1 năm điều trị loãng xương ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp - Pdf 39

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương (LX) là một tình trạng rối loạn chuyển hóa của bộ xương,
đặc trưng bởi sự suy giảm sức mạnh của xương và giảm mật độ xương, khiến
xương trở nên giòn và dễ gãy. Loãng xương được chia làm 2 loại: LX nguyên
phát và LX thứ phát: LX nguyên phát là tình trạng LX tìm thấy căn nguyên như
tuổi cao và LX ở phụ nữ mạn kinh. Loãng xương thứ phát là thể LX tìm thấy
nguyên nhân do một số bệnh hoặc do điều trị một số thuốc gây nên. Hiện nay
Chứng loãng xương có xu hướng gia tăng ảnh hưởng nhiều đến khả năng vận
động, sức khỏe, lao động và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Hậu quả
nghiêm trọng nhất của loãng xương là các biến chứng gãy xương như gãy cổ
xương đùi, gãy lún đốt sống, gây tàn phế, giảm tuổi thọ, ảnh hưởng lớn đến kinh
tế của quốc gia.
Loãng xương chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: tuổi, giới, hormon,
chế độ sinh hoạt, luyện tập, chiều cao, cân nặng, một số thuốc, một số bệnh
mạn tính, trong đó có bệnh viêm khớp dạng thấp.
Ở nước ta, tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp dạng thấp khoảng 0,5%
dân số và chiếm tới 20% tổng số bệnh nhân bị bệnh xương khớp nằm điều trị
nội trú tại các bệnh viện, bệnh thường gặp ở nữ nhiều gấp 4 đến 5 lần so với
nam giới. Do bệnh diễn biến mạn tính, tiến triển nặng dần làm giảm khả năng
lao động, bên cạnh đó, người bệnh còn điều trị bằng corticoid kéo dài nên ảnh
hưởng rất nhiều đến chất lượng xương. Việc đánh giá mật độ xương ở bệnh
nhân viêm khớp dạng thấp được phát hiện và điều trị sớm tình trạng
loãng xương nhằn hạn chế các biến chứng của loãng xương [1]
Điều trị loãng xương nhằm phòng tránh các biến chứng gãy xương,
trong đó các thuốc chống loãng xương cần sử dụng lâu dài. Nhóm
bisphosphonate là sự lựa chọn đầu tiên trong điều trị bệnh LX với cơ chế ức


2

acid zoledronic (Aclasta).


3

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Bệnh loãng xƣơng
1.1.1. Định nghĩa lo ng

ng

Khái niệm về loãng xương (LX) đã được nhắc đến từ nửa đầu thế kỷ 18
bởi một nhà giải phẫu học J. Martin Lostein người Pháp. Năm 1930-1940,
Albright và cộng sự tổng kết các kết quả của nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng:
Loãng xương là sự calci hóa không đầy đủ ở khung xương. Sau đó nhờ sự tiến
bộ trong kỹ thuật thăm dò hình thái và tổ chức học của xương, các công trình
nghiên cứu của Bordier và Meunier đưa ra định nghĩa: LX là sự giảm toàn bộ
khối lượng xương [3]. Năm 2001 tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống nhất
đưa ra định nghĩa LX như sau: LX được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh
của xương. Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng
của xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của
xương, chu chuyển xương, độ khoáng hóa, tổn thương tích l y, tính chất của
các chất cơ bản của xương [4].
Theo WHO 1994, LX được định nghĩa dựa trên mật độ chất khoáng của
xương (BMD - Bone Mineral Density) theo chỉ số T- score: T- score của một cá
thể là chỉ số mật độ xương (BMD) của cá thể đó so với BMD của nhóm người
trẻ tuổi làm chứng.
1.1.2 Ph n lo i lo ng


thu, thiếu calci, bất động dài ngày, điều trị bằng Heparin kéo dài, đặc biệt
trong bệnh mãn tính viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp…
1.1.3 C u trúc

ng và c chế ệnh sinh lo ng

ng.

1.1.3.1.Cấu trúc xương.
- Xương là một mô liên kết đặc biệt bao gồm các tế bào xương và chất
căn bản (bone matrix)
- Chất căn bản của mô xương bao gồm các sợi collagen và các mô liên
kết khác giàu chất glucoaminoglycin, chất căn bản có thể trở thành calci hóa.
Mô xương có xương đặc và xương xốp. Xương đặc được calci hóa 80-90%


5
khối lượng xương. Xương xốp được calci hóa 15-25% khối lượng xương.
Xương đặc có chức năng bào vệ còn xương xốp có chức năng chuyển hoá.
- Các tế bào xương bao gồm:
+ Hủy cốt bào: là tế bào khổng lồ đa nhân, có nhiệm vụ tiêu xương.
+ Tạo cốt bào: là tế bào có nhân hình thoi, có nhiệm vụ sản sinh ra các
thành phần của nền xương (các sợi collagen và các chất nền), có vai trò quan
trọng trong quá trình calci hóa.
+ Quá trình tạo xương (bone formation) và hủy xương (bone
resorption) diễn ra theo cơ chế thay xương c bằng xương mới. Bình thường
hai quá trình này được duy trì một cách cân bằng cho đến khoảng 40 tuổi. Từ
tuổi này trở lên hủy cốt bào hoạt động quá mức, hủy xương cao hơn tạo
xương dẫn đến giảm khối lượng xương theo thời gian, đặc biệt ở giai đoạn
mãn kinh gây nên tình trạng LX.

biểu hiện mất xương ở độ tuổi 80 [5]. Sự mất xương ở nữ xuất hiện sớm hơn
từ 15-20 năm so với nam giới là hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng
trứng một cách nhanh chóng [6].
- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của
bộ xương. Chế độ ăn không đầy đủ calci sẽ ảnh hưởng đến sự đạt được đỉnh
cao của khối xương và sự mất xương sau này. Một nghiên cứu được tiến hành
trên 200 phụ nữ Trung Quốc 57 tuổi và được bổ sung 2 ly sữa giàu calci mỗi
ngày, kết quả cho thấy ở nhóm nghiên cứu uống sữa có tốc độ mất xương
chậm hơn r rệt so với nhóm không uống sữa [7].
- Yếu tố cân nặng: ở những phụ nữ nhẹ cân sự mất xương xảy ra nhanh
hơn và tần suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do LX cao hơn [8]. Ngược
lại cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông


7
qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển hóa androgen của tuyến thượng thận
thành estron ở mô mỡ.
- Yếu tố chiều cao: những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương
thấp hơn nên dễ có nguy cơ LX.
- Yếu tố vận động: Sự giảm vận động ở những người lớn tuổi c ng là
yếu tố nguy cơ dẫn đến sự mất xương. Sự vận động của các cơ kích thích sự
tạo xương và tăng khối lượng xương. Ngược lại, sự giảm vận động dẫn tới
mất xương nhanh [9].
- Các yếu tố khác: sử dụng một số thuốc: glucocorticoid, heparin…, di
truyền, uống rượu, hút thuốc lá, tình trạng sinh đẻ đều có ảnh hưởng tới LX.
- Các bệnh l ảnh hưởng tới LX: cường giáp, cường cận giáp, cushing, đái
tháo đường, sau cắt dạ dày, ruột, rối loạn tiêu hóa kéo dài, suy thận, xơ gan, suy
giáp, viêm khớp mạn tính: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp....
1.1.5 Triệu chứng học của LX.
Hầu hết các tác giả khẳng định rằng tình trạng LX thường tiến triển

Trên thực tế lâm sàng, việc chẩn đoán tình trạng LX có thể dựa vào mật
độ xương BMD (Tiêu chuẩn vàng) [4] [11] [12] .
1.1.7 Điều trị lo ng

ng

1.1.7.1. Mục đích điều trị loãng xương
- Phòng ngừa gãy xương, tái gãy xương.
- Giữ ổn định và tăng cường khối lượng, sức mạnh của xương, ngăn
ngừa tình trạng mất chất khoáng trong xương.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Giảm tử vong do gãy xương loãng xương gây nên.
1.1.7.2. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc
- Tập thể thao, hoạt động thể lực rất quan trọng đối với việc củng cố chất
lượng bộ xương.
- Cần đảm bảo chế độ ăn giàu calci trong suốt cuộc đời. Nếu cần thiết thì


9
bổ sung calci – vitamin D dưới dạng thuốc, tránh sử dụng thuốc lá và rượu.
- Bệnh nhân đã có nguy cơ loãng xương thì phải tránh ngã.
- Khi có biến dạng cột sống cần đeo thắt lưng cố định cột sống.
- Tránh lạm dụng những thuốc gây tình trạng loãng xương.
1.1.7.3. Điều trị bằng thuốc
- Kết hợp calci và vitamin D3
Trong mọi phác đồ, luôn phải cung cấp đủ calci trung bình 1 gam mỗi ngày.
Nếu chế độ ăn không đủ, cần cung cấp calci dưới dạng thuốc. Người
nhiều tuổi nên kết hợp calci (1 gam/ ngày) và vitamin D3 (800 UI/ ngày).
- Nhóm bisphosphonat
Là nhóm thuốc có hoạt tính kháng hủy xương với sự giảm tiêu xương, làm

dây chằng [14]. Năm 1896, Bannatyne lần đầu tiên mô tả đặc điểm hình ảnh
X quang các khớp trong VKDT, sau này Steinbrocker mô tả chi tiết hơn. Năm
1909, Nichols và Rchardson đã phân biệt viêm khớp tăng sinh với viêm khớp
do thoái hóa khớp. Sự phát hiện yếu tố dạng thấp bắt đầu từ giả thiết của
Billings năm 1912 coi bệnh VKDT là do đáp ứng của cơ thể với những tình
trạng nhiễm trùng tại chỗ mạn tính. Năm 1940, Waaler và sau đó năm 1947
Rose đã chứng minh giả thiết này khi phát hiện ra yếu tố dạng thấp bằng phản
ứng ngưng kết hồng cầu cừu [14]. Năm 1958, Hội thấp khớp Mỹ đề ra tiêu
chuẩn chẩn đoán bệnh VKDT (ACR 1958: American Collegue of
Rheumatology) gồm 11 tiêu chuẩn dựa vào lâm sàng, hình ảnh X quang, mô
bệnh học của màng hoạt dịch, yếu tố miễn dịch trong huyết thanh. Đến năm
1987, hội này đã hoàn thiện tiêu chuẩn chẩn đoán trên, cải tiến lại và đưa ra 7
tiêu chuẩn (ARC 1987) mà ngày nay được ứng dụng rộng rãi [14] [15]. Điều
hạn chế nhất của tiêu chuẩn này là không thể áp dụng đối với thể một khớp.


11
- Dịch tễ bệnh: VKDT gặp ở mọi nơi trên thế giới, chiếm khoảng 1% dân
số [13], [16], [17], [14]. Theo nghiên cứu của tổ chức kiểm tra sức khỏe quốc
gia Mỹ (USNHES- United State National Health Examination Survey) (19601962) tỷ lệ mắc VKDT là 0,3% ở người lớn dưới 35 tuổi và hơn 10% ở người
lớn trên 65 tuổi. Ở Việt Nam tỷ lệ mắc là 0,5% trong nhân dân và 20% số
bệnh nhân mắc bệnh khớp điều trị tại bệnh viện [13] [18]. Trong một nghiên
cứu về tình hình bệnh tật ở khoa Cơ Xương Khớp bệnh viện Bạch Mai từ
1991-2000, bệnh VKDT chiếm tỉ lệ 21,94% trong các bệnh khớp, trong đó
chủ yếu là nữ giới (92,3%), tuổi trung bình 49,2 và lứa tuổi chiếm đa số là từ
36-65 (72,6%) [19]. Có thể nói VKDT là bệnh của phụ nữ tuổi trung niên vì
70-80% là nữ và 60-70% có tuổi lớn hơn 30 [13]. Bệnh có tính chất gia đình
trong một số trường hợp [13], [20].
- Cơ chế bệnh sinh của VKDT:
Cơ chế bệnh sinh của VKDT còn chưa r . Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu

bàn ngón tay và ngón gần, có tính chất đối sứng. Tính chất: sưng đau và hạn
chế vận động là chủ yếu, ít nóng đỏ. Đau kiểu viêm, đau tăng nhiều về đêm
(gần sáng). Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng (90%), khi thời gian cứng khớp
buổi sáng trên 1 giờ đạt tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh. Tùy theo mức độ viêm
thời gian cứng khớp có thể kéo dài một đến vài giờ.

Diễn biến: các khớp

viêm tiến triển nặng dần, phát triển thêm các khớp khác. Sau nhiều đợt viêm
tiến triển, các khớp dần bị dính và biến dạng.
+ Triệu chứng toàn thân và ngoài khớp.
Toàn thân: gầy sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, da xanh.
Hạt dưới da: được coi như dấu hiệu đặc hiệu. Tổn thương cơ, gân, dây
chằng, bao khớp. Tổn thương nội tạng ít gặp và thường xuất hiện trong các
đợt tiến triển của bệnh (tràn dịch màng phổi, màng tim).
- Triệu chứng ét nghiệ .
+ Xét nghiệm chung biểu hiện phản ứng viêm: tốc độ máu lắng tăng,
protein C phản Các xét nghiệm miễn dịch: ứng (CRP- C reaction protein)
tăng, điện di protein: γ globulin tăng, tỉ lệ A/G đảo ngược.


13
+ Phát hiện yếu tố dạng thấp (RF- Rheumatoid Factor) bằng phản ứng
Waaler- Rose hoặc latex. Gần đây có thể định lượng được nồng độ RF.
Anti CCP được xác định bằng kỹ thuật hấp thụ miễn dịch liên kết enzym.
Các xét nghiệm khác ít sử dụng: điện di miễn dịch, định lượng bổ thể
giảm, tế bào Hagraves, kháng thể kháng nhân.
+ Các xét nghiệm dịch khớp:
Hội chứng viêm: dịch khớp tăng khối lượng, màu vàng nhạt, giảm độ
nhớt, lượng muxin giảm r rệt (test Muxin dương tính), số lượng bạch cầu

Giai đoạn 2: tổn thương đã ảnh hưởng một phần đến đầu xương, sụn
khớp. Trên X quang có hình bào mòn, hẹp khe khớp khả năng vận động
còn hạn chế, tay còn nắm được, đi được bằng nạng

-

Giai đoạn 3: tổn thương nhiều ở đầu xương, sụn khớp, dính khớp một
phần, khả năng vận động còn ít, bệnh nhân chỉ còn tự phục vụ mình
trong sinh hoạt, không đi lại được

- Giai đoạn 4: dính khớp và biến dạng trần trọng, mất hết chức năng vận
động, tàn phế hoàn toàn
1.2.3. Chẩn đoán ác định ệnh VKDT
Hiện nay người ta dùng tiêu chuẩn ACR 1987 được áp dụng chủ yếu
trong chẩn đoán bệnh VKDT trên lâm sàng [15]
Chẩn đoán sớm theo ACR/EULAR 2010 trước khi có tổn thương xương
trên X quang.
1.2.4. Chẩn đoán đợt tiến triển của ệnh.
- Thang điểm đánh giá mức độ hoạt động của bệnh (DAS 28-Diseaes
activity score). Trước năm 1995 người ta thường áp dụng công thức DAS cổ
điển gồm 3 hoặc 4 biến (số khớp sưng, số khớp đau, tốc độ máu lắng giờ đầu,
điểm VAS, chỉ số Richie). Trong đó đếm số khớp sưng, đau trên tổng số 44
khớp chi trên và chi dưới. Nhờ nghiên cứu của Prevoo và cộng sự, từ năm
1995 người ta đã sử dụng 28 khớp để đánh giá mức độ hoạt động bệnh thay


15
cho 44 khớp trước kia . Việc sử dụng 28 khớp để đánh giá mức độ hoạt động
bệnh là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện và đáng tin cậy.
- Điểm mức độ hoạt động bệnh theo DAS 28 [22]

16
methotrexat, cloroquin, Salazopyrin....
- Các phương pháp điều trị mới theo cơ chế bệnh sinh bằng các chế
phẩm sinh học: ức chế tế bào B, ức chế tế bào T, ức chế các cytokin (ức chế
IL-6, ức chế yếu tố hoại tử u TNFα ).
- Điều trị ngoại khoa: nội soi khớp can thiệp, cắt bỏ màng hoạt dịch
khớp, thay khớp nhân tạo...
1.3. Mối liên quan giữa bệnh viêm khớp dạng thấp và loãng xƣơng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương ở bệnh nhân mắc bệnh
VKDT như: bệnh nhân nữ ở tuổi trung niên, sự thay đổi nội tiết liên quan đến
tình trạng mãn kinh, ảnh hưởng của các yếu tố gây viêm, sự giảm hoạt động
do tình trạng bệnh, do sử dụng thuốc điều trị (đặc biệt là glucocorticoids), ,
tình trạng dinh dưỡng và sự giảm trọng lượng cơ thể do bệnh [23].
* Người ta cho rằng mất xương trong bệnh VKDT là do tăng nồng độ của
các chất gây viêm (pro- inflammatory cytokines) dẫn đến tăng quá trình hủy
xương. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, giảm mật độ xương ở bệnh nhân
VKDT có liên quan đến sự ra tăng nồng độ của các chất chuyển hóa xương như:
PICP (procollagen type I C- terminal propeptide), PINP (procollagen type I Nterminal propeptide) là những yếu tố phản ánh sự tạo xương và ICTP (procollagen
type I C- terminal telopeptide) là yếu tố phản ánh sự hủy xương [24].
* Sử dụng thuốc điều trị ( Glucocorticoid ) kéo dài có tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp lên quá trình chuyển hóa của xương. Một vài yếu tố ảnh hưởng có
tính độc lập, một số yếu tố khác có tác động hợp lực.[25]:
Tình trạng mất xương do Glucocorticoid có thể xảy ra ngay từ vài tuần
đầu sử dụng thuốc, là nguyên nhân hàng đầu gây loãng xương thứ phát. Sự tác
động của glucocorticoid trong loãng xương được thấy r thông qua ức chế tạo
cốt bào và kích thích hủy cốt bào.
- Tác động lên các yếu tố tại chỗ, thông qua:


17

những do Glucocorticoid mà còn do ảnh hưởng của các yếu tố gây viêm, sự tàn
phế, tình trạng mất xương do mãn kinh và cường cận giáp trạng thứ phát [26].
- Ở Việt Nam, trong những năm gần đây do đời sống xã hội và kinh tế
ngày một nâng cao, bệnh loãng xương c ng được nhiều tác giả quan tâm.
+ Trần Ngọc Ân đã quan tâm nhiều đến LX thứ phát trong một số bệnh
lý [1], trong một nghiên cứu trên những bệnh nhân Kaler tác giả nhấn mạnh
tình trạng LX và lún các đốt sống là một trong những biểu hiện lâm sàng sớm
và chủ yếu của bệnh [19].
+ Nguyễn Thị Nga đã nghiên cứu trên 234 bệnh nhân có mật độ xương
cột sống thắt lưng và cổ xương đùi mắc bệnh khớp có sử dụng Glucocorticoid
so với nhóm chứng: tại cột sống, tỷ lệ LX là 64,4% so với 28,9%. Tại cổ
xương đùi, tỷ lệ này là 59,3% so với 13,2% ở nhóm chứng. Nhận thấy nhóm
bệnh nhân dung GC có nguy cơ bị LX cao hơn 4,44 lần so với nhóm chứng
(tại vị trí cột sống); cao hơn 9,62 lần (tại vị trí cổ xương đùi) [27].
+ Nguyễn Văn Quí và cộng sự đã nghiên cứu trên 81 bệnh nhân viêm
khớp dạng thấp có độ tuổi từ 21 đến 79, nhận thấy nhóm tuổi trung bình là
51,3± 12 tuổi, có tỉ lệ loãng xương: 44,44%, giảm mật độ xương: 34,57% và
không loãng xương: 20,99% [28].
1.5. Acid zoledronic trong điều trị loãng xƣơng
1.5.1. Công thức hóa học, đặc tính sinh học, c chế tác dụng
1.5.1.1. Công thức hóa học:[29], [30]

(cấu tạo)
C5H10N2O7P2 1-hydroxy-2-(1H-imidazol-1-yl)ethane-1,1-diyl bis(phosphonic acid)


19
1.5.1.2. Đặc tính sinh học
- Bisphosphonat đường uống hấp thu thấp qua đường tiêu hóa, với tỷ lệ
3%. Sự hấp thu bị suy giảm nếu thuốc được sử dụng với thức ăn hay bia rượu.

trình. Bisphosphonat làm giảm số lượng hủy cốt bào hoạt động; ức chế sự gắn
hủy cốt bào vào bè xương (do mất bờ bàn chải); kìm hãm hoạt tính của hủy
cốt bào đang hoạt động do làm ức chế sản xuất men tiêu thể, gây cảm ứng cho
hiện tượng chết theo chương trình của hủy cốt bào.
Ngoài ra các biphosphonat còn gián tiếp kích hoạt các tế bào tạo xương.
Các thuốc này cho phép ngăn cản quá trình tiêu xương, tức là làm giảm mất
xương, và khi làm tăng khoáng hóa xương thì làm tăng độ bền của xương.
Bằng sự lấp đầy khoang tạo xương, quá trình kháng hóa thứ phát được cải
thiện và tỷ lệ chu chuyển xương giảm xuống.
Biphosphonat là nhóm chất có cấu trúc đặc biệt gắn kết với chất khoáng
xương, rồi phóng thích rất chậm, làm giảm tập trung và hoạt động của các tế
bào hủy xương (hủy cốt bào), ức chế sự gắn hủy cốt bào vào bè xương, ngăn
cản quá trình tiêu xương. Ngoài ra, biphosphonat c ng có tác dụng gián tiếp
kích hoạt các tạo cốt bào làm tăng khoáng hóa xương, tăng độ bền của xương
làm cho xương cứng có sức chịu lực lớn, sau khi ngừng thuốc khá lâu vẫn duy
trì được hiệu quả [31] .
Bisphosphonat có loại tiêm và uống. Với đường uống, nó hấp thu thấp
qua hệ tiêu hóa với tỷ lệ 3%. Nếu dùng thuốc đồng thời với thức ăn, rượu, bia,
thì sự hấp thu suy giảm. Người ta thấy biphosphonat vẫn còn tồn tại nhiều
tuần trên bề mặt xương, trước khi chuyển hóa thành xương và có trong xương
nhiều năm và dần dần được bài tiết.


21
1.5.2. Chỉ định điều trị
Hiện nay acid zoledronic đã được FDA cho phép chỉ định điều trị trong:
- Loãng xương ở phụ nữ mãn kinh.
- Loãng xương ở nam giới.
- Phòng gẫy xương lâm sàng sau gẫy xương ở nam giới và nữ giới
- Loãng xương do dùng corticoid.

C ng như các bisphosphonate dùng đường tĩnh mạch, Aclasta thường
liên quan nhiều nhất với các triệu chứng sau đây khi dùng thuốc [30]:
+ Sốt (18,1%)
+ Đau cơ (9,4%)
+ Triệu chứng giống cúm (7,8%)
+ Đau khớp (6,8%)
+ Nhức đầu (6,5%)
Đa số triệu chứng trên xảy ra trong vòng 3 ngày đầu sau khi sử dụng
Aclasta. Đa số các triệu chứng này về bản chất từ nhẹ đến trung bình và qua
khỏi trong vòng 3 ngày khởi phát triệu chứng. Tỷ lệ các triệu chứng này giảm
r rệt khi dùng Aclasta liều kế tiếp.
Tỷ lệ các triệu chứng sau khi dùng thuốc xảy ra trong vòng 3 ngày đầu
sau khi dùng Aclasta có thể giảm khoảng 50% khi dùng paracetamol hoặc
ibuprofen sớm sau khi dùng Aclasta.
+Rối loạn chức năng thận
+ Hạ calci huyết thanh
+ Phản ứng tại chỗ: sưng, đỏ, đau
+ Hoại tử xương hàm: hiếm gặp, có thể gặp ở bệnh nhân ung thư
được điều trị bằng bisphosphonate kéo dài, liều cao.
+ Rung nhĩ
+ Đau cơ xương
Thỉnh thoảng đã có báo cáo về đau xương, khớp và/hoặc cơ dữ dội và đôi
khi mất chức năng ở bệnh nhân dùng bisphosphonate, bao gồm cả Aclasta.
+ Hoại tử xương hàm
Hoại tử xương hàm (ONJ): Đã có báo cáo về hoại tử xương hàm, chủ
yếu ở bệnh nhân ung thư được điều trị bằng bisphosphonate, bao gồm cả acid
zoledronic. Nhiều bệnh nhân trong số này đang dùng hóa liệu pháp và


23

muốn trầm trọng và việc điều trị Zoledronic acid (Aclasta) cho thấy thuốc có
tính ưu việt hơn các Biphotphonat khác trong việc tuân thủ điều trị [33].


24
- Nguyễn Văn Lâm năm 2012 đã đánh giá đáp ứng của hiệu quả liệu phát
Zolendronic acid (Aclasta 5mg) truyền tĩnh mạch mỗi năm mỗi lần trong điều
trị loãng xương ở phụ nữ mạn kinh tại khoa khớp Bệnh Viện Bạch Mai ở 65
bệnh nhân cho thấy thuốc có hiệu quả cải thiện mật độ xương tốt ở 100%
bệnh nhân nghiên cứu sau 1 năm điều trị, thuốc không có tác dụng không
mong muốn trầm trọng và việc điều trị Zoledronic acid (Aclasta) cho thấy
thuốc có tính ưu việt hơn các Biphotphonat khác trong việc thuận tuân thủ
điều trị [34].
1.6.2. Các nghi n cứu sử dụng Zoledronic acid

n

c ngoài

- Năm 2007, Theo Dennis MB, Delmas PD, Eastell R, et al trong
nghiên cứu (HORIZON-PFT) trên 7736 phụ nữ thì hiệu quả và độ an toàn
của Aclasta đã được chứng minh trong ở nhiều quốc gia [35].
+Aclasta làm giảm đáng kể tỷ lệ gãy mới một hoặc nhiều đốt sống tại
thời điểm sau 1 năm, 3 năm dùng thuốc: 1 năm (58%), 2 năm (68%) và 3 năm
(67%) (p < 0,0001). Aclasta làm giảm đáng kể nguy cơ của ít nhất một gãy
mới đốt sống trung bình hoặc nặng vào thời điểm 1 năm (60%), 2 năm (71%)
và 3 năm (70%) (p < 0,0001). Đặc biệt đối với những bệnh nhân từ 75 tuổi trở
lên, bệnh nhân dùng Aclasta giảm 61% nguy cơ gãy đốt sống so với bệnh
nhân dùng giả dược (p < 0,0001).
+Aclasta làm giảm 40% nguy cơ gãy xương hông sau 3 năm. Tỷ lệ biến

2,50% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Tỷ lệ giảm gãy xương hông
sau 3 năm cao hơn so với giả dược bất kể tuổi, vùng địa l , dân tộc, chỉ số
khối cơ thể cơ bản, số trường hợp gãy đốt xương sống ở mức cơ bản, hoặc chỉ
số BMD-T của cổ xương đùi.
Tác dụng trên tất cả gãy xương lâm sàng: Aclasta đã chứng tỏ trội hơn
giả dược trong việc làm giảm tỷ lệ tất cả gãy xương lâm sàng, gãy đốt sống



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status