VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Thị Hồng Yến
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
TRONG HỘ GIA ĐÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ SẢN XUẤT MUỐI
SANG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI HUYỆN HẢI HẬU - NAM ĐỊNH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRỊNH DUY LUÂN
Hà Nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Phân công lao động giữa vợ và chồng
trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản”
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại huyện Hải Hậu – Nam Định) là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các biên bản phỏng vấn sâu, số liệu tổng hợp từ phiếu khảo sát mà tôi
dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực địa từ tháng 04 đến tháng 06 năm
2016 tại xã Hải Chính và xã Hải Chiều, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Học viên
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .......................................................................................... vi
DANH MỤC HỘP ................................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ........................................ 17
1.1. Các khái niệm làm việc ................................................................................... 17
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong đề tài .................................................................... 20
1.3. Vài nét về địa bàn nghiên cứu .......................................................................... 25
CHƢƠNG 2 PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC HỘ
GIA ĐÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ SẢN XUẤT MUỐI SANG NTTS .......................... 27
2.1 Thực trạng quy hoạch theo vùng của xã Hải Chính, Hải Chiều và quá trình chuyển
đổi từ sản xuất muối sang NTTS ............................................................................ 27
2.2. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất muối và NTTS
............................................................................................................................. 31
CHƢƠNG 3 HỆ QUẢ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG HỘ GIA ĐÌNH
CHUYỂN TỪ SẢN XUẤT MUỐI SANG NTTS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
............................................................................................................................. 52
3.1Quyền ra quyết định giữa vợ và chồng trong HGĐ sản xuất muối và HGĐ NTTS 52
3.2 ..Các yếu tố tác động đến sự thay đổi vị thế của ngƣời phụ nữ sau quá trình chuyển
từ sản xuất muối sang NTTS .................................................................................. 61
NTM:
Nông thôn mới
PVN:
Phỏng vấn nhóm
PVS:
Phỏng vấn sâu
UBND:
Ủy ban nhân dân
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1
Bảng nhân công lao động theo vùng sản xuất của xã Hải Chính năm
2015............................................................................................................ 28
Bảng 2.2
Phân công lao động giữa vợ và chồng trong lao động sản xuất muối ....... 36
Nguyên nhân ngƣời chồng muốn vợ tham gia nhiều hơn vào các công
việc cộng đồng ........................................................................................... 49
Bảng 2.10. Động cơ để ngƣời vợ tham gia các công việc cộng đồng ........................... 49
Bảng 3.11 Quyền ra quyết định chính giữa vợ và chồng trong sản xuất muối và
NTTS.......................................................................................................... 53
Bảng 3.12 Quyền quyết định chi tiêu các công việc trong gia đình .............................. 58
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:
Lý do chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS .................................... 29
Biểu đồ 2.2:
Đánh giá về kinh tế của hộ sau khi chuyển từ sản xuất muối sang
NTTS ..................................................................................................... 30
Biểu đồ 2.3
Tỷ lệ kiếm việc làm thêm của vợ và chồng khi có thời gian rảnh
trong sản xuất muối và NTTS ............................................................... 34
Biểu đồ 2.4 Đánh giá phân công lao động giữa vợ và chồng sau khi chuyển từ
làm muối sang NTTS............................................................................. 50
Biểu đồ 3.5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển xã hội một
cách bền vững. Thực tế lại cho thấy, phụ nữ không bình đẳng với nam giới và chịu
nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới. Họ gặp nhiều những khó khăn và thách thức
trong cuộc sống (Mai Huy Bích, 1999). Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, phụ nữ đã trở
thành một nhân tố quan trọng đóng góp vào kinh tế gia đình nói riêng, có những vị thế
và vai trò trong xã hội nói chung (Lê Thị Quý, 2010). Chính vì vậy, nghiên cứu về vai
trò của nữ giới trong phát triển kinh tế chính là một cách nhằm giúp cho việc tạo nên
sự bình đẳng hơn giữa nam và nữ.
Ở Việt Nam, mô hình sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản theo kinh tế hộ gia
đình diễn ra rất phổ biến ở các vùng ven biển. Do đó, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào hoạt
động sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản với quy mô và mức độ rất lớn. Trong sản
xuất nông nghiệp, nghề nuôi trồng thủy sản cũng là lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh
nhất trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng nhƣ ở khu vực Đông Nam Á. Theo
báo cáo của Hội nghị nuôi trồng thủy sản Châu Á Thái Bình Dƣơng 2013: “Nƣớc ta có
82% lực lƣợng lao động nữ trong nuôi trồng và chế biến thủy sản, trong đó phụ nữ
đóng góp từ 50% đến 85% trong tổng số các hoạt động nuôi trồng thủy sản và lớn hơn
nhiều so với sự đóng góp của họ trong đánh bắt thủy sản” (Hội nghị, 2013). Trong
ngành sản xuất muối, đóng góp công lao động của phụ nữ là không hề nhỏ. Theo báo
cáo của Cục chế biến Thƣơng mại Nông lâm thủy sản và nghề muối năm 2012: Tỷ lệ
phụ nữ miền Bắc tham gia sản xuất muối chiếm từ 75% đến 90%, cao hơn so với tỷ lệ
phụ nữ miền Trung và miền Nam chỉ chiếm từ 60% đến 85%. Vậy, sự khác biệt về
loại hình sản xuất có ảnh hƣởng tới phân công lao động theo giới và đặc biệt sự phân
công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình?
Đến nay, các nghiên cứu về giới trong các hộ gia đình ngƣ dân ở Việt Nam mới
tập trung vào vai trò của phụ nữ với tƣ cách là ngƣời nội trợ và tham gia khu vực dịch
vụ hỗ trợ nghề thủy hải sản, hoặc tập trung vào vai trò của nam giới với tƣ cách là
ngƣời tạo ra nguồn thu nhập, tổ chức các hoạt động sản xuất, đánh bắt, nuôi trồng thủy
hải sản.
bình đẳng giữa vợ và chồng khi thực hiện các công việc trong gia đình và mô hình
phân công lao động truyền thống ít có sự thay đổi hay chuyển biến trong xã hội hiện
nay. Đặc biệt, sự khác biệt về phân công lao động trong quá trình chuyển đổi hình thức
sản xuất mới ít nhiều sẽ tạo nên những thay đổi đáng kể giữa vai trò của cả hai giới.
2
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài
Những nghiên cứu về giới trên thế giới xuất phát từ các phong trào xã hội của
phụ nữ. Phong trào nữ quyền, phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, đòi giải
phóng phụ nữ khỏi lệ thuộc vào nam giới đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Quan
điểm giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất sôi động ở
các xã hội phƣơng Tây, bắt đầu từ thế kỷ XVIII. Lý thuyết nữ quyền tạo nên các
phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của nam giới, phê phán
quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ, tạo lập bình đẳng giới. Kể
từ đó, phong trào nữ quyền ngày càng phát triển rộng khắp trong các nƣớc Châu Âu,
Bắc Mỹ và lan rộng ra các nƣớc khác, hình thành nên các phong trào nữ quyền mới ở
thế kỷ XX. Từ mục tiêu ban đầu là bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ, xóa bỏ
cái gọi là “chế độ nam trị”, phong trào nữ quyền dần trở thành môi trƣờng để hình
thành nên những lý thuyết xã hội về sự khác biệt và bất bình đẳng giới nhƣ các thuyết
nữ quyền (Feminist theory) và những dòng tƣ tƣởng “Phụ nữ trong phát triển”. Mặc dù
có chung mục đích là vì sự phát triển của phụ nữ chống lại chế độ nam trị, nhƣng lý
thuyết nữ quyền có nhiều trƣờng phái khác nhau; thậm chí, có những trƣờng phái mâu
thuẫn nhau gay gắt. Có thể nêu một số lý thuyết nữ quyền có ảnh hƣởng mạnh đến xã
hội phƣơng Tây thời gian qua là: Nữ quyền tự do, Nữ quyền mác-xit, Nữ quyền xã hội
chủ nghĩa, Nữ quyền phúc lợi, Nữ quyền triệt để, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền phân
tâm;... và gần đây xuất hiện một số lý thuyết nữ quyền mới, nhƣ: Nữ quyền hậu hiện
đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba...(R.L.PANIGRAHY
DASARATHI BHUYAN, 2006).
ảnh hƣởng mạnh ở xã hội phƣơng Tây phát triển mà còn ở nhiều xã hội đang phát
triển, nhất là châu Á, châu Phi và Nam Mỹ (Gloria Bowles, 1983).
Theo các nhà xã hội học nữ quyền, mặc dù có nhiều nghiên cứu về gia đình
nhƣng cách nhìn nhận mang tính thiên vị nam giới nên không khách quan về mặt giới.
Cụ thể nhƣ nhà xã hội học Parsons, ông cho rằng, nam giới giữ vai trò “công cụ”, tham
gia các công việc xã hội để kiếm thu nhập đám bảo cho cuộc sống gia đình; phụ nữ giữ
vai trò “tình cảm” trong gia đình, nhằm lo thỏa mãn những nhu cầu tình cảm cho các
thành viên trong gia đình và vai trò này hết sức quan trọng không thể quy giản. Việc phân
chia nhƣ vậy đƣợc coi là có lợi cho xã hội (Mai Huy Bich, 2009). Nhƣng dƣới cái nhìn
của các nhà nữ quyền thì đây chỉ là sự biện minh nguyên trạng và giữ phụ nữ ở nà nhằm
hợp pháp hóa sự thống trị của nam giới và cái có lợi cho nam giới thì đƣợc coi là có lợi
cho xã hội. Vì vậy, cần đƣa ngƣời phụ nữ vào mẫu nghiên cứu, nhất là công việc nhà của
phụ nữ.
4
Nghiên cứu theo quan điểm của phụ nữ cho thấy, nam giới và phụ nữ cảm
nghiệm đời sống gia đình theo những cách khác nhau chứ không hoàn toàn giống nhau
nhƣ nhiều ý kiển khẳng định. A.Oakley trong công trình nghiên cứu “Housewife” đã
kết luận, phụ nữ nhìn nhận việc nhà khác hẳn nam giới. Đối với họ, đó là một loại
công việc không thể thiếu, nhƣng nặng nhọc, buồn tẻ và không đƣợc chồng họ cũng
nhƣ xã hội coi trọng. Rõ ràng, gia đình luôn thể hiện quan hệ quyền lực không ngang
nhau, do đó, dẫn đến sự phân phối không công bằng các công việc và nguồn lực giữa
nam và nữ.
Nhƣ vậy, từ trƣớc những năm 1960, thuyết nữ quyền và quan điểm giới đã chỉ
ra sự khác nhau về những trải nghiệm thực tế cuộc sống và cảm nhận về đời sống gia
đình giữa nam giới và phụ nữ. Do đó, nhiều thập kỷ sau các nghiên cứu về giới đều tập
trung phân tích sự phân bố không đồng đều các nguồn lực và quyền quyết định trong
gia đình giữa nam và nữ, cũng nhƣ giữa các thế hệ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng,
quyền lực của nữ giới thƣờng gắn chặt với phúc lợi trẻ em với bằng chứng từ các ƣu
xã hội (1998). Những nghiên cứu về phụ nữ trên thế giới đang ngày đƣợc quan tâm
hơn, đặc biệt là vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình và trong sản xuất. Tại một
vài cộng đồng, phụ nữ đƣợc định nghĩa nhƣ “vợ ngƣời đánh cá” khi nam giới thực
hiện hầu hết các công việc lên quan đến đánh bắt cá. Tuy không tham gia trực tiếp,
nhƣng tại Gana, thu nhập từ “vợ ngƣời đánh cá” rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho
toàn bộ ngành thủy hải sản khi họ đầu tƣ vào thuyền máy và những dụng cụ khác, hay
cho chồng và những ngƣ dân khác mƣợn tiền.
Tại một vài nơi khác nhƣ Benin, Cambodia, Công, Mali, Papua New Guinea,
quần đảo Solomon, Tanzania, Thailand và Uganda, phụ nữ tham gia vào tất cả các
công việc sử dụng máy móc nhƣ ca-nô, thuyền máy, lƣới điện,.. hay lặn tìm những
hàng hóa giá trị cao nhƣ nam giới. Cũng có những cộng đồng mà phụ nữ sở hữu thuyền
và ca-nô, chúng trở thành nguồn lợi đáng kể khi họ cho thuê. Nhƣng thông thƣờng, phụ
nữ hay đảm nhận những công việc gần bờ, hầu hết là những công việc đƣợc trả lƣơng nhƣ
chữa lƣới, gom mồi, chuẩn bị lƣơng thực cho tàu đánh cá,… Thậm chí, nó còn không
đƣợc công nhận nhƣ việc làm. Tuy nhiên, phụ nữ lại nổi trội hơn hẳn nam giới trong việc
chế biến và buôn bán hải sản trên khắp thế giới, mặc dù những hoạt động “phi chính thức”
này có thể không đƣợc kể đến trong các số liệu quốc gia chính thống. Họ đƣợc cho là có
kỹ năng thƣơng thuyết bán hàng hơn hẳn nam giới vì khả năng kiềm chế và tránh xung
đột của mình. Ở nhiều nơi tại Châu Phi, phụ nữ thống trị chợ cá địa phƣơng và các mặt
hàng nông sản khác, điều này ít nhiều cũng nâng cao vị thế của họ.
6
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực đề tài
Ở Việt Nam, phân công lao động theo giới là một chủ để thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều tác giả trong những năm gần đây, nhất là dƣới góc độ xã hội học.
Một số nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích mô hình phân công lao động trong
gia đình nhằm nêu lên thực trạng đặc biệt là trong công việc nội trợ nhƣ: Vũ Tuấn
Huy, 2000; Lê Thị Quý, 2004; Lê Tiêu La – Nguyễn Đình Tấn, 2005; Nguyễn Hữu
trợ trong gia đình nên so với nam giới, họ ít có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động
kinh tế xã hội nhằm có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp và có thu nhập cao. Cụ thể,
theo nghiên cứu về “Gia đình và sự biến đổi gia đình Việt Nam” trang 344 có trích dẫn
“Hàng ngày, có tới 88,6% ngƣời vợ đảm nhận chính việc mua thức ăn, 79,9% nấu
cơm, 77,3% giặt giũ, 71,1% rửa bát, 70,9% dọn nhà, 52,1% chăm sóc ngƣời ốm,
54,6% chăm sóc con cái. Tỷ lệ ngƣời chồng đảm nhiệm chính các công việc tƣơng
tứng là: 5,5%, 3,3%, 2,8%, 1,8%, 3,7%, 2,7%. Trong sản xuất, ngƣời chồng trong các
gia đình nông thôn đảm nhận chính các công việc nhƣ là đất, phun thuốc trừ sâu, trồng
rừng, khai thác lâm sản, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, vận chuyển xây dựng.
Ngƣời vợ đảm nhận chính những công việc nhƣ gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, bán
sản phẩm (Lê Ngọc Văn, 2012).
Theo Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn (2005), nghiên cứu về nghề cá với các
nghiên cứu ở góc độ xã hội học trong phân công lao động trong cộng đồng ngƣ dân ít
hơn so với các nghiên cứu về nông dân . Khi nghiên cứu về ngƣ dân mới chỉ tập trung
làm rõ vai trò của phụ nữ với tƣ cách là ngƣời nội trợ và tham gia công việc hỗ trợ tiêu
thụ và chế biến hải sản. Một số nghiên cứu khác thì tập trung vào vai trò của nam giới
với tƣ cách là ngƣời tạo ra nguồn thu nhập chính trong đánh bắt thủy sản (Lê Ngọc
Văn, 1999). Các nghiên cứu thực nghiệm về phân công lao động trong gia đình ở Việt
Nam chủ yếu quan tâm đến thực trạng sự phân công và mối quan hệ dựa trên một số
đặc điểm của hộ gia đình và cá nhân. Những nghiên cứu này có những đóng góp nhất
định khi mô tả bức tranh chung về phân công lao động. Nghiên cứu này tập trung sâu
hơn vào phân tích vai trò giới giữa vợ và chồng trong sản xuất muối và nuôi trồng thủy
sản.
Hƣớng nghiên cứu về phân công lao động và quan hệ giới thông thƣờng vẫn đi
theo hƣớng: nam giới là chủ hộ là ngƣời đi biển đánh bắt và khai thác thủy hải sản, có
quyền nắm giữ tài chính và có quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình,
đặc biệt là việc liên quan đến sản xuất. Còn ngƣời vợ ở trên bờ, tham gia sản xuất
muối, chăn nuôi, chế biến, mua bán hải sản và ra các quyết định liên quan trong gia
đình. Tuy nhiên, sự tham gia của ngƣời đàn ông chỉ giới hạn trong khâu đánh bắt cá
trên biển và ít tham gia các hoạt động sản xuất khác khi họ ở nhà. Trong khi đó, ngƣời
những bất bình đẳng xảy ra, Trong nghề cá, địa vị của ngƣời phụ nữ vẫn thấp kém hơn
ngƣời đàn ông, tuy nhiên với những nhóm phụ nữ khác nhau thì tiếng nói cũng khác
nhau thể hiện vai trò của họ.
Sự thay đổi vai trò của phụ nữ trong quá trình phân công lao động cho thấy, mô
hình phân công lao động theo giới truyền thống không phải là bất biến mà có thể thay
đổi đƣợc, đặc biệt là theo xu thế phát triển của xã hội hiện đại. Gợi ý này là cơ sở cho
9
việc nghiên cứu sâu sắc hơn việc phân công lao động khi chuyển đổi hình thức sản
xuất từ muối sang NTTS, từ đó làm rõ vai trò giới giữa vợ và chồng trong hộ gia đình.
Đánh giá chung
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong
gia đình có thể nhận thấy, các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đều khẳng định mô hình
phân công lao động trong gia đình với ngƣời vợ là ngƣời làm chính trong chức năng
tái sản xuất và nam giới đảm nhận chính các công việc sản xuất, tạo ra thu nhập. Sự
phân công này đã dẫn đến sự khác biệt trong quyền ra quyết định đối với các công việc
giữa nam giới và phụ nữ. Đối với các gia đình chuyển đổi hình thức sản xuất từ làm
muối sang NTTS, vai trò giới trong hộ gia đình còn thể hiện sự bất bình đẳng giới khi
công sức của ngƣời phụ nữ vẫn chƣa đƣợc ghi nhận.
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, luận văn sẽ góp phần làm
rõ hơn thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc sản xuất, tái
sản xuất và công việc cộng đồng khi thay đổi hình thức sản xuất. Qua đó, chỉ ra mối
liên hệ giữa phân công lao động và quyền ra quyết định, khả năng tiếp cận các nguồn
lực và chia sẻ lợi ích giữa hai giới để thấy rõ đƣợc vai trò giới thay đổi trong cấu trúc
hộ gia đình trong bối cảnh chuyển đổi nghề đặc thù tại địa bàn nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu này là tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng
trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản (Nghiên cứu
- Hiện nay, phân công lao động (giữa vợ và chồng) trong các gia đình sản xuất
muối và NTTS ở các địa bàn khảo sát diễn ra nhƣ thế nào? Quy mô hình thức sản xuất
có ảnh hƣởng gì tới phân công lao động?
- Việc chuyển đổi hình thức lao động đã tạo ra ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới vai
trò giới trong hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu?
- Có những yếu tố nào tác động đến sự thay đổi vị thế của ngƣời phụ nữ trong
quá trình chuyển sang NTTS?
3.4 Giả thuyết nghiên cứu
1. Trong sản xuất muối quy mô lớn có sự tham gia của cả hai giới, còn với quy
mô nhỏ phụ nữ làm là chủ yếu, ít có sự tham gia của nam giới.
2. Trong các hộ NTTS, sản xuất theo quy mô lớn phụ nữ hầu nhƣ không tham
gia vào sản xuất, còn với quy mô nhỏ, phụ nữ tham gia vào hầu hết tất cả các khâu. Vị
thế của ngƣời phụ nữ khi chuyển sang NTTS đƣợc đánh giá cao hơn một phần do tác
động của kinh tế.
3. Quyền quyết định và tham gia của phụ nữ sau khi chuyển sang NTTS đƣợc
chú trọng hơn vì liên quan đến yếu tố kinh tế và các khoản đầu tƣ ban đầu. Nhƣng nam
giới vẫn là ngƣời quyết định các công việc liên quan đến sản xuất và phụ nữ là ngƣời
quyết định các công việc trong gia đình.
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là sự phân công lao động giữa vợ và chồng
khi hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là các cặp vợ chồng trong gia đình sản xuất muối và
NTTS.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng
trong các hộ gia đình sản xuất muối và NTTS (gồm hộ quy mô lớn và nhỏ). Trong đó,
11
tin thu thập đƣợc tại thực địa.
12
5.2.2 Khảo sát bằng bảng hỏi:
Bảng hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập thông tin, chỉ báo,
mức độ, các vấn đề nghiên cứu của đề tài. Bảng câu hỏi đƣợc thiết kế với 11 câu hỏi
đƣợc chia thành các phần nhƣ sau:
Phần I: Thu thập thông tin nhân khẩu – xã hội của hộ gia đình trả lời phỏng vấn
và phân loại đối tƣợng hộ gia đình.
Phần II: Thu thập thông tin về thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng
trong sản xuất muối và NTTS. Trong đó:
A: Phân công giữa vợ và chồng trong HGĐ sản xuất muối (trước đây, nếu đã
chuyển đổi) và hiện nay nếu vẫn đang làm muối
B: Phân công giữa vợ và chồng trong HGĐ đang làm nghề nuôi trồng thủy sản
(Hỏi tất cả các HGĐ có NTTS)
Phần III: Thu thập thông tin về quyền quyết định các công việc trong sản xuất
và đời sống gia đình.
Mẫu khảo sát:
Đề tài nghiên cứu tiến hành khảo sát tại 2 xã Hải Chính và Hải Chiều thuộc
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Lý do lựa chọn Hải Hậu là một trong hai huyện (Giao
Thủy) thuộc tỉnh Nam Định có diện tích sản xuất muối lớn ở khu vực miền Bắc. Từ
năm 2010, thực hiện theo Chính sách Nông thôn mới, huyện đã xây dựng đề án chuyển
đổi diện tích trồng lúa và làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản để phát
triển kinh tế. Từ năm 2004 đến nay, huyện có 16/35 xã, thị trấn tham gia với diện tích
chuyển đổi là 887 ha. Trong đó, xã Hải Chính có diện tích chuyển đổi là 40 ha đứng
thứ 2 sau xã Hải Chiều là 110 ha.
Mẫu đƣợc chọn theo phƣơng pháp chọn ngẫu nhiên phân tầng với 200 phiếu gồm
100 phiếu cho hộ gia đình sản xuất muối và 100 phiếu cho hộ gia đình NTTS. Những ngƣời
phỏng vấn sâu phụ nữ và nam giới trong các hộ gia đình theo mô hình sau nhằm đối
chứng và so sánh đƣợc sự khác biệt về quá trình phân công lao động giữa vợ và chồng
trong mỗi thời kỳ khác nhau:
Sản xuất muối
Quá khứ
3 phỏng vấn sâu
Hiện tại
3 phỏng vấn sâu
Nuôi trồng thủy sản
3 phỏng vấn sâu
Thông tin thu đƣợc từ các cuộc phỏng vấn sâu giúp tác giả minh họa, xác nhận,
làm sáng tỏ hoặc bổ sung thêm thông tin cho các dữ liệu định lƣợng đã thu thập đƣợc.
Bên cạnh đó, tiến hành 2 thảo luận nhóm (1 nhóm phụ nữ và 1 nhóm nam giới
thuộc hộ sản xuất muối chuyển đổi sang nuôi trổng thủy sản) kết hợp với phƣơng pháp
đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): Ranking tại địa điểm nghiên cứu
14
nhằm thu thập thông tin đánh giá về vai trò nào sẽ làm thay đổi vị thế của ngƣời phụ
nữ. Qua đó, làm rõ mô hình phân công lao động theo giới (mô hình 24 giờ trong ngày)
của các hộ gia đình thuộc 2 hình thức sản xuất khác nhau và sự hài lòng/không hài
lòng của họ đối với công việc đó.
Các thông tin mang tính định tính thu thập đƣợc từ cuộc phỏng vấn sâu và
phỏng vấn nhóm đƣợc xử lý tập hợp thông qua các báo cáo thực địa. Các thông tin
ĐỘNG
CỘNG
ĐỒNG
QUYỀN QUYẾT ĐỊNH TIẾP
CẬN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Qua việc nghiên cứu đề tài: “Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia
đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản” (Nghiên cứu trƣờng hợp
tại huyện Hải Hậu – Nam Định), tác giả hy vọng góp một phần nhỏ kết quả nghiên cứu
của đề tài vào việc bổ sung khía cạnh lý luận cho những nghiên cứu xã hội học về vai
15
trò giới trong phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các gia
đình ở vùng ven biển.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu giúp chúng ta hình dung về tình hình phân công lao động theo giới
trong các cộng đồng ngƣ dân ven biển với những đặc trƣng riêng, khác với trƣờng hợp
các xã hội nông thôn đồng bằng, miền núi hay các xã hội thành thị công nghiệp. Ngoài
ra, nghiên cứu còn có ý nghĩa quan trọng nhằm tăng cƣờng vai trò của mỗi giới, góp
phần phát triển nghề NTTS.
Nghiên cứu còn có thể dùng làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu
về giới và bình đẳng giới nói chung, về phân công lao động theo giới trong gia đình
nói riêng dẫn đến thay đổi vai trò giới. Đồng thời, chúng tôi mong rằng, ở góc độ nào
đó, có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách ở địa
phƣơng trong việc điều chỉnh các chiến lƣợc phát triển nghề muối và NTTS cho phù
hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội chung.
7. Cơ cấu của luận văn
không gian và thời gian. Có nhiều định nghĩa về gia đình, trong đó có một số định
nghĩa đƣợc nhiều nhà khoa học thống nhất. Cụ thể:
“Gia đình là một nhóm xã hội nhỏ đặc thù có đặc trƣng cơ bản là đƣợc thiết lập
trên cơ sở của hôn nhân mà từ đó hình thành các quan hệ huyết thống ruột thịt giữa các
thành viên”.
“Gia đình là một dạng thiết chế xã hội đặc biệt liên kết con ngƣời lại với nhau
nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái. Các mối quan hệ gia đình
còn đƣợc gọi là các mối quan hệ họ hàng. Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của
hai ngƣời trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận nuôi con nuôi. Những ngƣời
này có thể sống cùng hoặc khác một mái nhà”. (Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007,
tr31)
“Gia đình là một nhóm ngƣời có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống
hoặc nuôi dƣỡng, có đặc trƣng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có
ngân sách chung”. (Lê Ngọc Văn, 2012, tr31)
Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng có thể thấy gia đình là một
nhóm ngƣời đƣợc hình thành dựa trên cơ sở hôn nhân – huyết thống hoặc có cả quan
hệ hôn nhân – huyết thống – nghĩa dƣỡng và có ngân sách chung. Họ có thể chung
sống hoặc không cùng chung sống dƣới một mái nhà. Trong nghiên cứu này, những
ngƣời đƣợc khảo sát có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống theo mô hình có bố mẹ và
con ở chung một mái nhà, có ngân sách chung và đƣợc pháp luật công nhận.
Khái niệm Hộ
17