1. Chuyển giới
2. Án lệ/ Lẽ công bằng
3. Người có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi
4. Quyền hưởng dụng/ quyền bề mặt
5. Chiếm hữu
6. Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
7. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
8. Biện pháp bảo đảm
9. Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
10. Hình thức của giao dịch dân sự
Yêu cầu:
-
Một điểm mới rõ rệt nhất so với BLDS 2005
Dẫn dắt cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ghi nhận mới này của BLDS
-
2015
Bình luận được quy định mới này
Đánh giá sự tác động của quy định mới tới các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội
1. Chiếm hữu:
1.1.
Một điểm mới rõ nét nhất
Điều 184: Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu
1. Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người
chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh.
khác.
Tóm lại, 2015 đã quy định lại rạch ròi vấn đề trên.
-
Về khái niệm:
Điều 179: Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2005 không quy định về khái niệm chiếm hữu mà chỉ có khái niệm quyền chiếm
hữu rất ngắn gọn: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Nếu suy ra tương tự thì chiếm
hữu theo cách hiểu của 2005 sẽ là việc chủ thể nắm giữ và quản lý tài sản. Điểm
khác nhau chính là cụm từ “chi phối” và “quản lý”.
Chi phối, chính là việc điều khiển, chỉ đạo đối với một cái gì đó, một việc gì đó
Còn quản lý, cũng là chỉ đạo nhưng là có tổ chức, và thực hiện trên một hệ thống,
có sự theo dõi sát sao giống như một đường lối.
Như vậy, 2005 dùng từ sai về mặt định nghĩa, 2015 hợp lý hơn.
Ngoài ra trong khái niệm có nhắc tới “như chủ thể có quyền đối với tài sản”, điều
này giúp phân biệt chiếm giữ và chiếm hữu. Cùng là nắm giữ, chi phối nhưng
chiếm hữu là chủ thể có ý thức về hành vi nắm giữ của mình, họ có ý thức tài sản
mình đang nắm giữ thuộc về mình. Còn chiếm giữ chủ thể không có ý chí đó.
-
Về các hình thức chiếm hữu
Theo yếu tố chủ thể, chia làm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người
không phải chủ sở hữu
Theo yếu tố thời gian, chia làm chiếm hữu liên tục và không liên tục
Theo tính chất, chia làm chiếm hữu hợp pháp và chiếm hữu không hợp pháp, trong
Đây là một quy định mới hoàn toàn trong 2015.
Ở các điều 182, 183 cũng nêu ra các căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của
người chiếm hữu đó là chiếm hữu liên tục và công khai. Tức là việc chiếm hữu
không liên tục và không công khai sẽ không được coi là căn cứ suy đoán.
Theo đó, việc chiếm hữu tải sản của một người luôn được suy đoán và đối xử như
là chiếm hữu của chủ sở hữu. Vì 2015 đã ghi nhận chiếm hữu là một chế định riêng
nằm tách biệt với quyền sở hữu, và đặc biệt việc chiếm hữu tài sản sẽ là căn cứ để
xác lập nên các quyền sở hữu. Do đó, pháp luật sẽ ưu tiên bảo vệ người đang
chiếm hữu tài sản trước, thể hiện ở việc người chiếm hữu được suy đoán là người
ngay tình và được suy đoán là người có quyền đối với tài sản trong trường hợp có
tranh chấp. Còn nếu có người cho rằng người chiếm hữu kia không ngay tình hoặc
tranh chấp quyền đối với người đó thì phải có nghĩa vụ chứng minh việc không
ngay tình hoặc không có quyền.
Thông qua quy định này, các cá nhân bị cấm không được dùng vũ lực tranh chấp
để chiếm đoạt quyền, mà tất cả đều phải thông qua Tòa án giải quyết, bên cho rằng
người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật sẽ phải có nghĩa vụ cung cấp những
chứng cứ chứng minh việc chiếm hữu là bất hợp pháp, không ngay tình.
Ngoài ra, luật cũng quy định bảo vệ cho người chiếm hữu ngay tình (có căn cứ để
tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu), liên tục (thực hiện trong
một khoảng thời gian không có tranh chấp về quyền hoặc có tranh chấp nhưng
chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có
thẩm quyền) và công khai (minh bạch, không giấu giếm, …) thì được áp dụng thời
hiệu hưởng quyền. Tức là nếu người đó chiếm hữu đủ thời hạn quy định (10 năm
đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản, trừ trường hợp quy định khác) thì
sẽ được coi là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản mình đang chiếm hữu. Đồng
thời, những hoa lợi, lợi tức phát sinh trong quá trình chiếm hữu tài sản thì người đó
cũng có quyền sở hữu kể từ thời điểm hoa lợi, lợi tức đó phát sinh.
Điều 129: Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, trừ
hai trường hợp sau:
1.Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn
bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai
phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa
án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2.Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc
về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra
quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này các bên
không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
2.2.
Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.2.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận chính là để đảm bảo tính thống nhất cho các điều luật với nhau, em
đã phân tích kĩ ở phần bình luận.
2.2.2. Cơ sở thưc tiễn
2005 quy định về Tòa án sẽ căn cứ theo yêu cầu của các bên mà ra một thời hạn
nhất định để hai bên tuân thủ về mặt hình thức. Tuy nhiên, quy định này nếu về
mặt lý luận là thể hiện được sự tôn trọng yếu tố thỏa thuận của bộ luật dân sự,
nhưng về thực tiễn theo em quy định này khá lỏng lẻo và gần như vô dụng. Vì thực
chất khi các bên đã có ý định không muốn tuân thủ theo hình thức ngay từ khi giao
kết giao dịch thì việc Tòa án cho phép họ có thêm một thời hạn để tuân thủ việc
này nó chỉ mang tính hình thức. Thứ hai, quy định này lại vô hình chung làm tăng
hiện quy định về hình thức lại mang tính hình thức quá lớn, vì một khi các bên đã
không muốn tuân theo quy định về hình thức và vẫn cố tình xác lập giao dịch bất
hợp pháp, thì việc Tòa án cho họ thêm một khoảng thời gian là vô nghĩa, hơn nữa
nếu luật vẫn giữ nguyên như vậy, sẽ dẫn tới một tâm lý, tiền lệ áp dụng luật rất
xấu. Điều kiện về hình thức không phải là quá bắt buộc, vì nếu các bên không tuân
thủ cũng không sao, vì đằng nào sau đó họ cũng có thời gian để tuân thủ lại cũng
được. Vì vậy 2005 là một quy định lỏng, một quy định chết, không thể hiện được
bản chất của pháp luật. Đến 2015, cách quy định cứng rắn hơn, không tuân thủ về
hình thức đồng nghĩa giao dịch vô hiệu luôn, mà một khi giao dịch dân sự vô hiệu
thì các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, coi như giao dịch chưa từng tồn
tại. Vì thế, đương nhiên tính răn đe cưỡng chế mạnh hơn, Tòa án cũng như các cơ
quan có thẩm quyền khác không phải mất thời gian đi gia hạn lại thời hạn thực
hiện nghĩa vụ của các bên mà đáng lẽ việc không thực hiện nghĩa vụ này thì giao
dịch coi như không tồn tại. Ngoài ra, 2015 còn có quy định mới, bảo vệ hai trường
hợp giao dịch khỏi bị tuyên vô hiệu.
Thứ nhất, bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của pháp luật, các
bên thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ, vẫn được Tòa tuyên giao dịch có hiệu lực
Thứ hai, tại khoản 2, thấy một mâu thuẫn lớn ở đây. Rõ ràng tại điều 119 đã quy
định trường hợp nếu luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn
bản có công chứng, chứng thực đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Thế nhưng
tại khoản 2 điều 129 quy định đối với những giao dịch này nếu các bên vi phạm
quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực nhưng nếu đã thực hiện ít nhất 2/3
thì giao dịch vẫn có hiệu lực bình thường theo quyết định của Tòa án, các bên
không phải thực hiện công chứng, chứng thực nữa. Như vậy có phải hai quy định
này bị mâu thuẫn với nhau hay không? Theo em là không. Bởi lẽ, việc pháp luật
quy định có điều kiện bắt buộc về công chứng, chứng thực là nhằm mục đích quản
lý những loại tài sản giao dịch hạn chế, việc xác lập các giao dịch đối với loại tài
sản này cần sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, không thể tự do thỏa thuận với các