Tự do ý chí giao kết hợp đồng trong bộ luật dân sự 2015 - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THÚY KIỀU

TỰ DO Ý CHÍ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG
BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017
i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TỰ DO Ý CHÍ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG
BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Thắng

Hà Nội – 2017
ii

kết hợp đồng ................................................................................................................... 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1............................................................................................... 30
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG TỰ DO Ý CHÍ TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 .............................................................. 31
2.1. Vấn đề chuyển hóa học thuyết tự do ý chí thành nguyên tắc tự do ý chí của Bộ luật
Dân sự 2015 ................................................................................................................... 31
2.1.1. Ghi nhận nguyên tắc tự do ý chí trong giao kết hợp đồng (tự do hợp đồng) ....... 31
2.1.2. Nội hàm của nguyên tắc tự do ý chí ..................................................................... 34
2.2. Nội dung tự do ý chí trong các quy định về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. . 37
2.2.1. Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng .................................................................... 37

iv


2.2.2. Đại diện trong giao kết hợp đồng ......................................................................... 42
2.3. Nội dung tự do ý chí trong các quy định về đề nghị, chấp nhận giao kết hợp đồng.
........................................................................................................................................ 47
2.3.1. Đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng ............................................................. 48
2.4. Nội dung tự do ý chí trong các quy định về điều kiện có hiệu lực và hợp đồng vô
hiệu ................................................................................................................................. 59
2.4.1. Điều kiện về chủ thể ............................................................................................. 60
2.4.2. Điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể ................................................................ 62
2.4.3. Nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội. ......................................................................................................... 68
2.4.4. Hình thức hợp đồng - điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trƣờng hợp pháp
luật quy định. .................................................................................................................. 70
Kết luận chƣơng 2 .......................................................................................................... 77
CHƢƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 NHÌN TỪ GIÁC ĐỘ TỰ DO Ý CHÍ VÀ CÁC
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN .......................................................................................... 78

hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài
sản. Tuy nhiên, để tạo môi trƣờng kinh doanh thuận lợi đồng thời đảm bảo về mặt pháp
lý cho các chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng thì các bên buộc phải tuân thủ triệt để
các nguyên tắc giao kết hợp đồng, đặc biệt là nguyên tắc tự do ý chí trong giao kết hợp
đồng. Pháp luật cho phép mọi cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện tƣ cách chủ thể tham
gia giao kết các giao dịch dân sự hay hợp đồng, nếu muốn, trên cơ sở nhà nƣớc tôn
trọng quyền tự do ý chí của công dân.
Về nguyên tắc, một hệ quả pháp lý từ giao dịch dân sự chỉ có thể nảy sinh (không
quan trọng đó là hệ quả hƣởng quyền, lợi ích nhất định hay tự nguyện gánh vác nghĩa
vụ nào đó) nếu nhƣ ý chí nội tâm của chính chủ thể tham gia muốn vậy. Cho nên, mọi
giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng luôn là những hành vi mang tính ý
chí. Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận trong pháp luật dân sự, tƣ do ý chí là nền
tảng hình thành quan hệ hợp đồng, từ đó làm phát sinh ra các nghĩa vụ pháp lý. Và nhƣ
V.A. Rijasenchev - luật gia ngƣời Nga đã từng nói: “Bản chất của giao dịch dân sự là
sự thống nhất giữa ý chí - yếu tố chủ quan và thể hiện ý chí - yếu tố khách quan”,
không thể nghi ngờ rằng, thƣơng mại không thể phát triển nếu các thỏa thuận đƣợc lập
ra một cách tự do mà không đƣợc thi hành một cách bình thƣờng. Vì vậy dù ở hệ thống
pháp luật nào, ngƣời ta đều thừa nhận nền tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí, có
nghĩa là ý chí là vấn đề trọng yếu của hợp đồng.
Nhận thức đƣợc ý nghĩa và tầm quan trọng của nguyên tắc tự do ý chí trong giao
hợp đồng, nhất là trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, ngƣời viết đã lựa chọn đề tài:
“Tự do ý chi giao kết hợp đồng trong BLDS 2015” làm luận văn thạc sỹ, với các lý do
cơ bản sau:
Thứ nhất, tự do ý chí trong giao kết hợp đồng là một trong những nguyên tắc
quan trọng nhất trong việc thiết lập các giao dịch dân sự. Có thể nói, nền kinh tế càng
phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồng càng đƣợc coi trọng và càng
1


đƣợc hoàn thiện hơn. Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện đại thừa nhận quyền



của PGS.TS Ngô Huy Cƣơng; “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015” của
PGS. TS Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS Nguyễn Thị Huệ; “Một số vấn đề về giao kết hợp
đồng trong pháp luật của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam” của Lê Minh
Hùng và Trần Lê Đăng Phƣơng; sách “Pháp luật về hợp đồng” của Nguyễn Mạnh
Bách và nhiều công trình nghiên cứu khác.
Về luận án tiến sỹ: Có một số luận án tiến sỹ nghiên cứu các đề tài có liên quan
đến vấn đề tự do hợp đồng nhƣ đề tài: “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt
Nam” của Lê Trƣờng Sơn, đề tài: “Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở
Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Phạm Hoàng Giang,...
Có thể nói, những công trình khoa học trên là tài liệu quí báu giúp tác giả có
thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tuy nhiên các
công trình trên chƣa nghiên cứu toàn diện và thấu đáo về tự do ý chí trong giao kết hợp
đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là BLDS năm 2015. Do vậy, việc
nghiên cứu đề tài: “Tự do ý chí giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015” không
trùng lặp với các công trình khoa học đã đƣợc công bố.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Xuất phát từ nhu cầu lý luận và thực tiễn của pháp luật, dựa trên những đƣờng lối,
chủ trƣơng, chính sách xây dựng kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế một cách toàn diện;
thông qua việc nghiên cứu các học thuyết tự do ý chí của các quốc gia trên thế giới
đồng thời với việc tìm hiểu các quy định về tự do ý chí trong hợp đồng theo quy định
của Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật khác, so sánh với Bộ luật Dân sự
2005, qua đó có cái nhìn toàn diện về vấn đề tự do ý chí trong quan hệ pháp luật dân
sự. Nêu thực trạng các quy định pháp luật hiện nay về tự do ý chí và những định
hƣớng, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt đƣợc mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Nêu và phân tích những vấn đề lý luận về tự do ý chí trong hợp đồng nhƣ khái

luật và các vụ việc liên quan. Qua đó, luận văn tạo ra bức tranh chân thực của hiện tại.
Phƣơng pháp mô tả theo hai hƣớng sao lại và phản ánh.
- Phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng chủ yếu để tìm hiểu các quy định của pháp
luật, cũng nhƣ các vụ việc có liên quan tới xác định ngữ nghĩa của quy phạm pháp luật,
tính hợp lý khi áp dụng.
- Phƣơng pháp phân loại đƣợc dùng khi phân biệt các khiếm khuyết (tì vết) của tự
do ý chí trong hợp đồng theo quy định của pháp luật hiện nay.
4


- Phƣơng pháp phân tích lịch sử đƣợc sử dụng nhằm tìm hiểu tổng quát văn hóa
pháp lý Việt Nam và thế giới liên quan đến việc hình thành học thuyết tự do ý chí trong
hợp đồng.
- Phƣơng pháp so sánh pháp luật đƣợc sử dụng để làm rõ các vấn đề của pháp luật
Việt nam nhằm đƣa ra các kiến nghị phù hợp
6. Tính mới và đóng góp của đề tài
Những đóng góp mới của luận văn gồm:
- Một là, về mặt lý luận: luận văn tập trung nghiên cứu có hệ thống các khái niệm,
các học thuyết về tự do ý chí, qua đó thấy đƣợc các đặc điểm của ý chí và tự do ý chí
của chủ thể khi tham gia các giao dịch dân sự. Từ đó, tác giả đi luận giải các vấn đề cơ
bản về tự do ý chí của chủ thể trong hợp đồng.
- Hai là, về mặt thực tiễn: Tìm ra các hạn chế, bất cập của các quy định của pháp
luật về vấn đề này. Tác giả sẽ phân tích tình hình thực hiện và áp dụng pháp luật hiện
hành, so sánh với các quy định của Bộ luật dân sự 2015 để đƣa ra các vƣớng mắc, khó
khăn trong thực tiễn.
- Ba là, về định hƣớng hoàn thiện: từ những phân tích lý luận, tìm hiểu thực tiễn
quy định của pháp luật và thực hiện pháp luật, tác giả sẽ nêu lên các định hƣớng, giải
pháp mang tính toàn diện nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và thực hiện
pháp luật về vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn

cầm cố, hợp đồng ủy thác,... Trên cơ sở hệ thống hóa các dạng khế ƣớc phổ biến, các
luật gia La Mã định nghĩa hợp đồng (contractus) là căn cứ làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quan hệ pháp luật với hai dấu hiệu đặc trƣng: Thứ nhất, phải có sự thỏa thuận
(conventio, consensus) - sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp
lý; Thứ hai, phải có mục đích (căn cứ pháp lý) nhất định (causa) mà các bên hƣớng tới.
Pháp luật La Mã cũng quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: ý chí
các bên tham gia giao dịch; nội dung hợp đồng hợp pháp và đƣợc xác định; đối tƣợng
hợp đồng phải thực hiện đƣợc; thỏa mãn điều kiện hình thức hợp đồng;...[2, tr.39]; [42,
tr. 111-119].
Tính chặt chẽ và khái quát của khái niệm hợp đồng trong Luật La Mã đã đƣa chế
định hợp đồng La Mã vƣợt ra ngoài lãnh thổ rộng lớn của nó, quan niệm về hợp đồng
của ngƣời La Mã đƣợc áp dụng rộng rãi trong luật pháp các nƣớc Tây Âu. Ảnh hƣởng
1


của khái niệm hợp đồng La Mã ngày càng đƣợc khẳng định cùng với sự ra đời của các
bộ dân luật ở các nƣớc khác nhau, nhất là ở Châu Âu, bắt đầu từ Bộ luật Dân sự Pháp
(1804) - bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới cho đến các bộ luật dân sự hiện hành của
các quốc gia khác nhƣ: Bộ luật Dân sự Tây ban Nha (1889), Bộ luật Dân sự Nhật Bản
(1895), Bộ luật Dân sự Đức (1896), Bộ luật Dân sự Ý (1942), Bộ luật Dân sự Liên
Bang Nga (1994),...
Đƣợc xem là một trong những bộ luật có ảnh hƣởng lớn đến nền pháp luật dân sự
Châu Âu lục địa, Bộ Luật Dân sự Pháp (Code civil) (1804) định nghĩa hợp đồng nhƣ
sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều ngƣời cam kết
với một hoặc nhiều ngƣời khác về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một
công việc nào đó” (Điều 1101). Theo quan niệm của ngƣời Pháp, hợp đồng trƣớc hết là
một hành vi pháp lý thể hiện ý chí làm phát sinh các hệ quả pháp lý của các bên. Sự
thống nhất ý chí giữa các bên làm phát sinh một hệ quả pháp lý đặc biệt là nghĩa vụ
hợp đồng [11, tr.3-4]. Quan điểm này có ý nghĩa phân biệt hợp đồng với các thoả thuận
khác không đƣợc coi là hợp đồng nhƣ: các thoả thuận đạt đƣợc không thể hiện ý chí

sẽ thực hiện một nghĩa vụ đối ứng” và “theo thông luật, consideration phải đƣợc hiểu
nhƣ là sự trả giá cho một ngƣời khi ngƣời này hứa thực hiện một hành vi nhất định”
[34]. Nhƣ vậy, có thể hiểu, nghĩa vụ đối ứng (consideration) là cái giá (vật, tiền,
việc,...) mà mỗi bên phải trả hoặc nhận đƣợc hoặc từ bỏ theo thoả thuận. Về nguyên
tắc, nếu không có nghĩa vụ đối ứng thì hợp đồng không có giá trị ràng buộc các bên
trong hợp đồng, tuy nhiên không phải hợp đồng nào cũng bắt buộc có nghĩa vụ đối
ứng.
Đối với các quốc gia trong khu vực châu Á, tƣ duy pháp lý về hợp đồng cũng tồn
tại nhiều quan điểm, tùy thuộc vào dòng họ pháp luật mà quốc gia đó chịu ảnh hƣởng.
Tại Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 quy định: “Hợp đồng theo quy định
của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác…”, rõ ràng, khái niệm này có
nhiều điểm tƣơng đồng với khái niệm hợp đồng trong pháp luật La Mã khi xem hợp
đồng là một căn cứ xác lập nghĩa vụ và cũng chỉ ra sự tự do ý chí khi nhấn mạnh yếu tố
“bình đẳng” giữa các chủ thể trong hợp đồng.
Bộ luật dân sự và Thƣơng mại của Thái Lan lại không đƣa ra một khái niệm cụ
thể cho hợp đồng dù quy định riêng một tiêu đề thứ 2: “hợp đồng” trong Bộ luật của
mình. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định trong chƣơng I “Sự hình thành hợp đồng”,
có thể thấy rằng quan điểm của những nhà làm luật Thái Lan khá tƣơng đồng với
những nhà lập pháp theo hệ thống Common Law khi cho rằng hợp đồng trƣớc tiên
3


đƣợc hình thành do lời đề nghị giao kết, sau đó nó sẽ đƣợc chính thức trở thành hợp
đồng khi lời đề nghị đó đƣợc chấp nhận (phải thỏa mãn một số điều kiện nhƣ: thời hạn
trả lời, điều kiện về sự thiện chí, không dối trá,…).
1.1.1.2. Khái niệm Hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, việc xuất hiện các định nghĩa khái quát về khế ƣớc trong Bộ Dân
luật Bắc Kỳ (1931), Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) đã đánh dấu sự hình thành chính
thức những khái niệm đầu tiên về hợp đồng trong lịch sử lập pháp nƣớc ta.

đƣợc điều chỉnh bởi ba văn bản pháp luật khác nhau. Đây là nguyên nhân tạo ra những
bất cập, hạn chế trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng của Việt Nam trƣớc đây. Để khắc

phục hạn chế này, pháp luật hợp đồng của Việt Nam đã đƣợc sửa đổi theo hƣớng
không có sự phân biệt một cách rạch ròi giữa hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế
và hợp đồng thƣơng mại, thông qua việc ban hành Bộ luật Dân sự 2005, Luật
Thƣơng mại 2005 và bãi bỏ Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế 1989.
Điều 388 BLDS 2005 quy định: ”Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Nhƣ
vậy, BLDS 2005 đã giữ nguyên khái niệm về hợp đồng dân sự trong BLDS 1995 (Điều
394) nhƣng mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Từ thời điểm đó, không còn tồn tại khái
niệm về “hợp đồng kinh tế”, thuật ngữ dân sự đƣợc nhận thức không chỉ là các quan hệ
mang tính sinh hoạt tiêu dùng mà còn bao quát cả các quan hệ kinh doanh, thƣơng mại
và lao động (Điều 1, BLDS 2005). Thế nhƣng, suy cho cùng với quan điểm trên thì dĩ
nhiên cụm từ “dân sự” đi kèm với khái niệm hợp đồng đã không mấy ý nghĩa và thực
tế có không ít trƣờng hợp có ngƣời căn cứ vào cụm từ “dân sự” để thu hẹp vai trò, ý
nghĩa của chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005. Khắc phục hạn chế này, tại
BLDS 2015 này các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp
đồng”, BLDS hiện hành đã chọn cụm từ “hợp đồng” thay cho “hợp đồng dân sự”. Cụ
thể, Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Điểm mới này không
chỉ là sửa đổi về kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện tính minh bạch trong thực tiễn áp
dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh: Hợp đồng dân sự, hợp đồng thƣơng mại, hợp đồng
đầu tƣ, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm,…
Nhƣ vậy, dù có khác biệt về vị trí địa lý hay thời gian thì khái niệm hợp đồng mà
hệ thống pháp luật các nƣớc đề cập đều có chung bản chất là sự thỏa thuận của các bên,
là kết quả của quá trình thƣơng thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Yếu tố cơ bản để hình thành

5

rõ ràng. Các bên phải thống nhất về mục đích của hợp đồng là chuyển giao một vật
hoặc làm một việc gì cụ thể. Nếu một bên thể hiện ý chí muốn bán xe ô tô mà bên kia
chỉ muốn mƣợn xe thì đó thì không thể có một sự „hiệp ý‟. Hơn nữa, nếu các bên đồng
6


ý cùng nhau mua bán xe ô tô, nhƣng không thống nhất đƣợc với nhau về giá, thời điểm
giao xe, trả tiền,... thì hợp đồng chƣa chắc đƣợc thiết lập. Một thỏa thuận chỉ đƣợc coi
là có giá trị pháp lý, nếu nội dung và mục đích của nó không vi phạm điều cấm của
pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Nếu thoả thuận đó bị khiếm khuyết do hậu quả
của hành vi đe doạ, lừa dối, nhầm lẫn hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, trái trật
tự công cộng sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là không thừa nhận giá trị pháp lý cũng nhƣ
tính hợp pháp của hợp đồng. Về vấn đề này, theo PGS.TS Phạm Hữu Nghị “ Tất cả các
hợp đồng đều là sự thoả thuận. Chỉ đƣợc coi là hợp đồng những thoả thuận thực sự phù
hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ƣng thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng
phải là giao dịch hợp pháp, do vậy sự ƣng thuận ở đây phải là sự ƣng thuận hợp lẽ công
bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Những trƣờng hợp có sự lừa dối, đe doạ, cƣỡng bức
thì dù có sự ƣng thuận cũng không đƣợc coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp
đồng” [31, tr.22, 71]. Theo TS. Lê Thị Bích Thọ, về mặt pháp lý, hợp đồng phải đáp
ứng yêu cầu thể hiện sự tự do ý chí của các bên tham gia ký kết, là sự thoả thuận, sự
thống nhất ý chí đích thực của các bên đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo vệ [42, tr. 1316]. Đây là đặc điểm mà pháp luật về hợp đồng của hầu hết các nƣớc đều quy định nhƣ
là một nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng: nguyên tắc tự do ý chí.
Thứ hai, một sự thỏa thuận không phải là hợp đồng, nếu không tạo nên hiệu lực
ràng buộc giữa các bên, tức là việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ dân sự. Một lời hứa danh dự hay lời hứa tặng quà cho bạn hoặc một thỏa
thuận sẽ chở bạn đi ăn tối không phải là hợp đồng, vì chúng không tạo ra sự ràng buộc
quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên. Sự vi phạm lời hứa hoặc các cam kết mang
tính chất xã giao nhƣ trên có thể làm cho ngƣời thất hứa bị mất uy tín, bị dƣ luận chê
trách, nhƣng không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý và không thể bị áp dụng chế tài
dân sự nhƣ trƣờng hợp vi phạm hợp đồng. Do đó, không thể có hợp đồng nếu không có

nhận là yếu tố thiết yếu để nhận biết sự thỏa thuận. Rõ ràng, khi giải quyết tranh chấp
thì vấn đề đầu tiên phải xác định là giữa các bên tranh chấp có quan hệ hợp đồng hay
không? Tuy nhiên, việc xem xét có quan hệ hợp đồng hay không dựa vào các yếu tố đề
nghị và chấp nhận có rất nhiều khó khăn, phức tạp [10, tr.223]. Rất nhiều trƣờng hợp
khó có thể xác định bên nào đề nghị giao kết và bên nào chấp nhận đề nghị khi các bên
cùng ký vào hợp đồng đƣợc soạn thảo bởi công chứng viên hoặc bởi một ngƣời, cơ
quan có thẩm quyền khác. Ngay cả khi cả hai bên cùng bàn bạc, cùng đƣa ra điều kiện,
yêu cầu với nhau và cuối cùng đi đến sự nhất trí giao kết hợp đồng bởi những cuộc
thƣơng thuyết, trao đổi nhƣ vậy không hề có bất cứ giá trị ràng buộc pháp lý nào và

8


quá trình đàm phán, bàn bạc giữa các bên không mang ý nghĩa đề nghị giao kết và chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
1.1.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng
Khi một ngƣời muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải thể hiện
ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định. Chỉ có nhƣ vậy, phía đối tác mới có thể
nhận biết đƣợc ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng. Đề
nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trƣớc ngƣời khác bằng
cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với ngƣời đó một hợp đồng
dân sự. Định nghĩa về đề nghị đƣợc đề cập trong nhiều tài liệu cũng nhƣ văn bản pháp
luật. Khoản 1, Điều 386 BLDS 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể
hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị
đối với bên đã đƣợc xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên đƣợc đề
nghị)”.
Các văn kiện pháp lý quốc tế, pháp luật của các quốc gia trên thế giới về hợp
đồng đƣa ra định nghĩa khái niệm “đề nghị” có phần hơi khác định nghĩa của BLDS
2015. Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thƣơng mại quốc tế 2004 định nghĩa: “
Một đề xuất giao kết hợp đồng tạo thành một đề nghị nếu nó xác định một cách thích

nhiên trách nhiệm này không phải vô hạn mà tùy thuộc vào hiệu lực của lời đề nghị.
Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm đƣợc gởi tới cho ngƣời đề nghị
hoặc do ngƣời đề nghị ấn định.
Đề nghị có kèm thời hạn trả lời thì đó là thời hạn có hiệu lực của đề nghị, trong
khoảng thời gian này ngƣời nhận có quyền chấp nhận và hợp đồng đƣợc giao kết. Đây
là thời gian ràng buộc trách nhiệm của bên đƣa ra lời đề nghị, bên đề nghị không đƣợc
giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong khi chờ bên đƣợc đề nghị trả lời.
Trong đề nghị không kèm theo thời hạn trả lời thì cũng phải xác định một khoảng
thời gian hợp lý để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Khoảng thời gian
này tùy vào từng trƣờng hợp cụ thể mà có cách xác định riêng cho phù hợp, nhƣ: đối
tƣợng của hợp đồng, phƣơng thức liên lạc, thói quen, tập quán thƣơng mại giữa các
bên,...
Ba là, đề nghị phải đƣợc truyền đạt tới ngƣời đƣợc đề nghị. Một đề nghị giao kết
hợp đồng muốn trở thành hợp đồng thì điều quan trọng là bên đƣợc đề nghị phải nhận
đƣợc lời đề nghị đó. Không thể có việc một ngƣời suy nghĩ là sẽ thiết lập một hợp
đồng, nói với chính mình mà lại có ràng buộc với ngƣời kia.
Bốn là, phải thể hiện đƣợc ý định giao kết hợp đồng hay mong muốn bị ràng buộc
của bên đề nghị tới bên đƣợc đề nghị. Có nghĩa là nếu đề nghị đó đƣợc chấp nhận thì
10


cả hai bên bị ràng buộc vào quan hệ hợp đồng. Ví dụ, trong trƣờng hợp một công ty cổ
phần A kêu gọi mọi ngƣời mua cổ phần của công ty thì đó chỉ là lời mời thƣơng thảo
(đàm phán) mà không phải là đề nghị, công ty có quyền đồng ý bán hoặc không bán.
Nhƣng khi công ty chào bán cổ phần mới thì cổ đông phổ thông có quyền ƣu tiên mua
cổ phần mới chào bán với một tỷ lệ nhất định, lúc này thƣ của công ty thông báo cho
các cổ đông quyền ƣu tiên mua cổ phần của họ đƣợc xem là đề nghị giao kết hợp đồng,
nếu cổ đông chấp nhận mua thì hợp đồng đƣợc xác lập mà công ty không có quyền từ
chối.
Nếu một đề nghị đƣợc đƣa ra mà có sự đàm phán hay thay đổi thì đề nghị ban

nhận này chỉ có hiệu lực khi nó phù hợp với đề nghị giao kết một cách “tuyệt đối và vô
điều kiện” nhƣng do tính chất mềm dẻo và linh hoạt của giao dịch dân sự nên trong
thực tế vẫn có những trƣờng hợp ngoài lệ, nhất là trong lĩnh vực thƣơng mại quốc tế,
Công ƣớc Viên 1980 và Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thƣơng mại quốc tế
2004 đều có quy định: nếu bên đƣợc đề nghị nhận nhận kèm theo các điều khoản bổ
sung nhƣng không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chủ yếu của đề nghị vẫn
đƣợc coi là trả lời chấp thuận nếu nhƣ bên đề nghị không phản đối ngay những điểm
khác biệt đó (Khoản 2, Điều 19 Công ƣớc Viên 1980; Khoản 2, Điều 2.1.11 Bộ nguyên
tắc của Unidroit về hợp đồng thƣơng mại quốc tế 2004).
Im lặng có phải là chấp nhận mặc nhiên không? Unidroit đã thể hiện rõ vấn đề
này là im lặng hoặc không hành động tự bản thân chúng không phải là chấp nhận.
BLDS Đức 1900 đã cho rằng việc chấp nhận bằng im lặng là hợp pháp nếu có thể lý
giải đƣợc sự im lặng đó là phù hợp với tập quán chung (Điều 151). Tƣơng tự, BLDS
Nga 1994 tại Điều 438 cũng quy định: “Sự im lặng không đƣợc xem là chấp nhận, trừ
khi có sự khác biệt phát sinh từ pháp luật, từ tập quán kinh doanh, hoặc từ quan hệ
trƣớc đó của các bên”.
Luật dân sự Việt Nam cũng có quan điểm nhƣ vậy từ nhiều thập kỷ trƣớc. Theo
Vũ văn Mẫu, việc buộc ngƣời đƣợc đề nghị phải trả lời mỗi lần nhận đƣợc đề nghị
không khác nào xâm phạm đến quyền tự do không ký ƣớc của họ, do đó không thể suy
diễn im lặng là đồng ý, tuy nhiên trong một số trƣờng hợp nhƣ có thói quen quan hệ,
tập quán, các thức thực hành đối với một số lọa hợp đồng hoặc đề nghị chỉ có lợi riêng
cho ngƣời đƣợc đề nghị thì sự suy diễn trên đƣợc xem là có căn cứ [10, tr. 260]. So với
BLDS 2005, BLDS 2015 đã thể hiện sự rõ ràng hơn khi quy định rằng “Sự im lặng của
bên đƣợc đề nghị không đƣợc coi là chấp nhận giao kết hợp đồng, trừ trƣờng hợp có
thỏa thuận hoặc theo thói quen đã đƣợc xác lập giữa các bên”. Quy định trên nhằm cụ

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status