Những điểm mới về giao kết hợp đồng trong Bộ Luật dân sự năm 2005 - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM CÔNG DÂN
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
TRONG BỘ LUÂT DÂN SỰ NĂM 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
TRONG BỘ LUÂT DÂN SỰ NĂM 2005

Chuyên ngành : Luật Dân sự
Mã số : 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Phan Chí Hiếu Hà nội, 2011 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu: 3

2.4. 3.Thời điểm, địa điểm hình thành hợp đồng 58
2.4.4. Giao kết hợp đồng dưới sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin điện tử 60
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 71
3.1. Sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về giao kết
hợp đồng 71
3.2. Yêu cầu và định hướng của việc hoàn thiện các quy định pháp luật về
giao kết hợp đồng 75
3.3. Một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về
giao kết hợp đồng 80
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xã hội hiện đại, hợp đồng đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Hợp đồng là công cụ pháp lý để các tổ chức, cá nhân xác lập quan hệ với
nhau nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc kinh doanh thu lợi nhuận. Vì vậy,
quan hệ hợp đồng phát sinh hàng ngày hàng giờ, mọi lúc, mọi nơi với nội
dung vô cùng phong phú và đa dạng. Trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hợp
đồng càng có vai trò quan trọng bởi lẽ hầu hết các quan hệ dân sự, kinh tế
đều phát sinh từ hợp đồng ký kết giữa các bên. Hợp đồng là sự thoả thuận,
thống nhất ý chí của các bên trên cơ sở tự nguyện. Khi giao kết hợp đồng,
các bên được tự do thể hiện ý chí của mình, phù hợp với nhu cầu, năng lực
của mình. Tuy vậy, để sự thoả thuận của các bên không tác động xấu đến lợi
ích của người thứ ba, lợi ích của Nhà nước và trật tự công cộng, cũng như
quyền và lợi ích hợp pháp của chính các bên tham gia quan hệ hợp đồng, đòi

cá nhân chưa nắm bắt được các quy định mới của BLDS nên việc giao kết
hợp đồng nhiều khi vẫn bị ảnh hưởng bởi cách tư duy và cách làm cũ trong
việc phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, việc áp dụng các quy
định của BLDS mới còn nhiều lúng túng và bỡ ngỡ. Bên cạnh đó, mặc dù
được đánh giá là có nhiều quy định mới, tiến bộ về hợp đồng, nhưng BLDS
năm 2005 vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập cần được tiếp
tục hoàn thiện, trong đó có những quy định về giao kết hợp đồng.
Chính vì những lí do trên, em lựa chọn đề tài “Những điểm mới về giao
kết hợp đồng trong BLDS năm 2005” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật
của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ các tư tưởng và nội dung
mới của BLDS năm 2005 về giao kết hợp đồng; đánh giá sự tác động của các

3
điểm mới đó tới thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng; chỉ ra các khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng của các quy định pháp luật về hợp đồng nói chung và
BLDS năm 2005 nói riêng.
Để đạt được những mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể như sau:
- Làm rõ vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng
trong điều kiện thực hiện BLDS 2005;
- Chỉ rõ cấu trúc pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng;
- Phân tích và chỉ ra những tư tưởng và nội dung mới trong các quy định
của pháp luật về giao kết hợp đồng trong BLDS 2005;
- Đánh giá được những tác động của các quy định mới đó tới thực tiễn ký
kết và thực hiện hợp đồng, đồng thời chỉ ra các khó khăn, vướng mắc khi áp
dụng các quy định mới đó;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp

6. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng.
- Chương 2: Những điểm mới về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự
năm 2005 và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn thi hành.
- Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về
giao kết hợp đồng. 5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

1.1. Nhận thức chung về hợp đồng và giao kết hợp đồng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng
Khái niệm hợp đồng ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, là hình
thức của quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hoá giữa các chủ thể trong xã hội.
Trong đời sống kinh tế - xã hội, các chủ thể thường xuyên có nhu cầu tham
gia các quan hệ sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hoá, cung ứng dịch vụ…
nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc kinh doanh tìm kiếm lợi
nhuận. Hình thức pháp lý của các quan hệ đó chính là hợp đồng. Do vậy, hợp
đồng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, là công cụ
pháp lý quan trọng và hữu hiệu để các chủ thể tiến hành các hoạt động của
mình. Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các bên
trên cơ sở tự nguyện. Ngay từ thời kỳ La Mã cổ đại, hợp đồng đã được coi là
một nội dung quan trọng của pháp luật về nghĩa vụ. Hợp đồng được coi là

cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục
đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để
xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Điều 394 BLDS năm 1995 đưa ra
khái niệm hợp đồng dân sự như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Khái niệm này được giữ nguyên trong BLDS năm 2005 (Điều 388 BLDS năm
2005). Bộ luật Lao động năm 1994 cũng đưa ra khái niệm riêng về hợp đồng
lao động, theo đó hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và
người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và
nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 26).

7
Như vậy, dù được diễn đạt theo những cách khác nhau, với các mức độ
chi tiết khác nhau nhưng tựu trung lại, hợp đồng theo quan niệm của pháp luật
Việt Nam thể hiện các đặc trưng pháp lý cơ bản sau đây:
Một là, hợp đồng là sự thoả thuận tự nguyện giữa các bên có vị trí pháp
lý độc lập, bình đẳng với nhau. Tham gia quan hệ hợp đồng phải có ít nhất hai
bên và các bên phải có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, đó có thể là các cá
nhân, tổ chức, hộ gia đình, tổ hợp tác. Thực tế kinh doanh hay có hiện tượng
các công ty ký hợp đồng với các đơn vị phụ thuộc của mình (được tổ chức
dưới các hình thức: chi nhánh, văn phòng đại diện, phân xưởng, xí nghiệp,
nhà máy, cửa hàng, trạm, trại, đội sản xuất…). Các đơn vị trực thuộc này
không có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, bởi vậy không có năng lực pháp
luật để ký hợp đồng với chính công ty của mình. Điều đó có nghĩa là không
có quan hệ hợp đồng nào tồn tại giữa công ty và các đơn vị trực thuộc của
mình.
Khi tham gia hợp đồng, các chủ thể phải thỏa thuận tự nguyện với nhau.
Ý chí của các bên thể hiện qua các nội dung cụ thể của hợp đồng phải là ý chí
thật sự của mỗi bên và ý chí đó phải thống nhất với nhau; nếu không có sự
thống nhất ý chí thì không thể hình thành quan hệ hợp đồng. Pháp luật của

ngược lại. Theo Điều 280 BLDS năm 2005 của Việt Nam thì nghĩa vụ dân sự
là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển
giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc
khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc
nhiều chủ thể khác (bên có quyền). Đây là các nghĩa vụ được pháp luật bảo
vệ; bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ của mình, nếu
không thực hiện đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự dưới các hình
thức khác nhau như: phạt vi phạm nghĩa vụ, bồi thường thiệt hại, trả lãi suất,
bị đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng…

9
Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng không phải thoả thuận nào giữa các bên
cũng tất yếu dẫn đến việc hình thành hợp đồng. Chỉ những thoả thuận nào
được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật thì làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý.
1.1.2. Phân loại hợp đồng
Trên thực tế, các loại hợp đồng khá đa dạng và phong phú. Vì vậy, việc
phân loại hợp đồng theo từng nhóm dựa vào những dấu hiệu pháp lý đặc
trưng có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Có thể phân loại hợp đồng
theo các tiêu chí cơ bản sau:
- Căn cứ vào thời điểm phát sinh nghĩa vụ của các bên mà hợp đồng
được chia thành hai loại là hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế. Hợp
đồng ưng thuận là hợp đồng mà thời điểm phát sinh hiệu lực là thời điểm
GKHĐ, ví dụ hợp đồng mua bán, hợp đồng đại lý… Hợp đồng thực tế là loại
hợp đồng mà hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm các bên chuyển giao
cho nhau đối tượng hợp đồng, ví dụ hợp đồng tín dụng, hợp đồng gửi giữ tài
sản…
- Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của các bên, hợp đồng được chia thành
hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà
mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với bên kia. Mỗi bên tham gia hợp đồng đều

của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các
bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng
chính”.
- Căn cứ vào hình thức hợp đồng, người ta chia hợp đồng thành hợp
đồng bằng lời nói (hay nhiều người gọi là hợp đồng miệng), hợp đồng bằng
cử chỉ và hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng miệng là hợp đồng được các bên
dùng ngôn ngữ để thoả thuận, thống nhất, xác nhận những nội dung của hợp
đồng. Hợp đồng bằng cử chỉ là hợp đồng được các bên thỏa thuận, thống nhất
với nhau thông qua các hành vi, cử chỉ cụ thể. Ví dụ: các siêu thị bày hàng có

11
niêm yết giá trên kệ; khách hàng nhặt hàng cho vào giỏ của mình và thanh toán
tiền. Như vậy, thông qua các hành vi bày hàng, niêm yết giá, nhặt hàng cho vào
giỏ và thanh toán tiền, giữa siêu thị và khách hàng đã ký kết và thực hiện xong
một hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng bằng văn bản là các hợp đồng mà
trong đó, những nội dung cụ thể mà các bên đã thỏa thuận, thống nhất với
nhau, được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản hợp đồng hoặc các công văn,
giấy tờ, tài liệu khác mà các bên trao đổi cho nhau. Các văn bản này có thể
được các bên trao đổi trực tiếp bản gốc mà cũng có thể được các bên chuyển
qua fax, telex, email và các hình thức thông tin điện tử khác.
Các hợp đồng ký bằng văn bản cũng có thể có nhiều hình thức khác nhau
như: hợp đồng ký bằng văn bản thông thường, hợp đồng ký bằng văn bản có
công chứng, chứng thực. Một số loại hợp đồng mà pháp luật bắt buộc phải ký
bằng văn bản có công chứng, chứng thực (ví dụ: hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, các hợp đồng mua bán nhà và một số bất động sản phải
đăng ký quyền sở hữu khác, hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê trên 6
tháng ) thì phải làm công chứng, chứng thực cho hợp đồng.
1.1.3. Bản chất pháp lý của giao kết hợp đồng
Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận trên cơ sở tự do ý chí của các bên
nên hợp đồng chỉ được coi là đã hình thành khi các bên đạt được sự thoả thuận.

các nội dung của hợp đồng. Phụ thuộc ý chí của các chủ thể mà GKHĐ có thể
là một quá trình đàm phán kéo dài hoặc chỉ diễn ra trong giây lát. Về cơ bản,
quá trình GKHĐ được bắt đầu bởi việc một bên (bên đề nghị GKHĐ) bày tỏ ý
chí muốn GKHĐ với bên kia (bên được đề nghị GKHĐ) bằng cách đưa ra đề
nghị GKHĐ và kết thúc khi bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị GKHĐ
từ bên được đề nghị GKHĐ. Như vậy, GKHĐ là một quá trình, trong đó:
- Có sự tham gia của ít nhất hai bên chủ thể có năng lực pháp luật, năng
lực hành vi dân sự phù hợp với loại hợp đồng mà các bên muốn ký kết và tự

13
nguyện GKHĐ. Họ có thể chính là các bên chủ thể của hợp đồng sẽ hình
thành hoặc đại diện hợp pháp của hai bên chủ thể của quan hệ hợp đồng;
- Có sự bày tỏ chủ động, trực tiếp ý chí muốn GKHĐ của một bên (bên
đề nghị giao kết hợp đồng) thông qua các thông tin cụ thể bên đó đưa ra và
được BLDS gọi là “đề nghị giao kết hợp đồng”;
- Có sự chấp thuận của bên kia (bên được đề nghị giao kết hợp đồng)
bằng các thông tin cụ thể bên đó đưa ra và được BLDS gọi là về những nội
dung trong đề nghị GKHĐ thể hiện qua chấp nhận đề nghị GKHĐ;
- Xác lập quan hệ hợp đồng dưới một hình thức theo quy định của pháp
luật (có thể bằng lời nói, cử chỉ hoặc bằng văn bản).
Quá trình GKHĐ diễn ra có nhanh chóng hay không phụ thuộc vào ý chí
của các bên, nhưng thường phải trải qua các giai đoạn sau:
Có thể biểu hiện quá trình GKHĐ bằng sơ đồ sau:
Đề nghị GKHĐ Gửi

Gửi
Chấp nhận đề nghị GKHĐ

nếu nó rõ ràng, đầy đủ và nêu rõ ý định của bên đưa ra đề nghị mong muốn bị
ràng buộc bởi hợp đồng khi đề nghị GKHĐ được chấp thuận” (Điều 17).
Theo Điều 396 BLDS năm 1995 thì khi một bên đề nghị bên kia giao kết
hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời, thì
không được mời người thứ ba giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu
trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997
cũng có cách tiếp cận tương tự khi quy định “Chào hàng là một đề nghị
GKHĐ mua bán hàng hóa trong một thời hạn nhất định, được chuyển cho một
hay nhiều người đã xác định và phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng
mua bán hàng hóa” (Điều 51). Khoản 1 Điều 390 BLDS năm 2005 quy định:
“Đề nghị GKHĐ là việc thể hiện rõ ý định GKHĐ và chịu sự ràng buộc về đề
nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”.
Bản chất của đề nghị GKHĐ là hành vi pháp lý đơn phương của bên đề
nghị GKHĐ, thể hiện rõ ý định GKHĐ và chịu sự ràng buộc với đề nghị đó.

15
Như vậy, xét ở bình diện chung nhất thì một thông tin được coi là đề nghị
GKHĐ khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải thể hiện rõ ý định GKHĐ của bên đề nghị. Thông
thường, một thông tin được coi là thể hiện rõ ý định GKHĐ khi chứa đựng
các nội dung chủ yếu của loại hợp đồng mà các bên muốn xác lập. Ví dụ: hợp
đồng mua bán hàng hóa phải có nội dung về hàng hóa, số lượng và giá cả
hoặc các phương thức xác định chúng trong lời đề nghị của mình. Tuy vậy,
cũng cần lưu ý là các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nội
dung chủ yếu của hợp đồng. Pháp luật Anh – Mĩ chỉ cần thỏa thuận về đối
tượng của hợp đồng (tên hàng, số lượng); điều khoản về giá cả là không bắt
buộc. Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có thể xác định giá hoặc giá được
xác định bằng phương pháp chung trên thị trường. Trong khi đó pháp luật của
Pháp lại quy định điều khoản về giá cả phải rõ ràng. Còn theo quy định của
công ước Viên thì để xác định một chào hàng có hiệu lực thì chào hàng cần

thức bán hàng tại các siêu thị, thông báo công khai về việc gửi giữ xe đạp, xe
máy, niêm yết của các ngân hàng về mức lãi suất cho vay nhận tiền gửi hay
cam kết hứa thưởng và thi có giải… Dưới dạng đề nghị này, các bên mặc
nhiên thừa nhận và thực hiện hợp đồng mà không cần phải có sự thỏa thuận.
Một số tác giả cho rằng đây là dạng đặc biệt của đề nghị GKHĐ mà trong
khoa học pháp lý gọi là đề nghị GKHĐ công cộng. Điểm khác nhau giữa đề
nghị GKHĐ thông thường và đề nghị GKHĐ công cộng là ở tính cụ thể của
đối tượng mà đề nghị đó hướng tới. Đề nghị GKHĐ công cộng được hướng
tới tập người không xác định. Còn đề nghị GKHĐ thông thường được gửi đến
cho đối tượng xác định cụ thể. Pháp luật các nước cũng đã có quy định về đề
nghị GKHĐ công cộng, chẳng hạn Liên bang Nga quy định ở Bộ luật Dân sự
(Điều 437).
Ở Việt Nam, đây là vấn đề tuy đã xuất hiện nhiều trong thực tiễn nhưng
được đề cập nhiều trong pháp luật về hợp đồng. Vì vậy, sự ràng buộc trách

17
nhiệm của các bên như thế nào, đặc biệt là trách nhiệm của bên đưa ra đề nghị
GKHĐ công cộng là vấn đề chưa được xác định rõ ràng trong các quy định
của Pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, đề nghị GKHĐ phải xác định rõ thời hạn trả lời. Trong thời hạn
đề nghị GKHĐ có hiệu lực, nếu bên được đề nghị chấp nhận hoàn toàn đề
nghị GKHĐ thì sẽ làm phát sinh quan hệ hợp đồng giữa bên đề nghị và bên
được đề nghị. Vấn đề thời hạn của đề nghị GKHĐ cũng được pháp luật các
nước quy định khác nhau. Pháp luật một số nước không bắt buộc đề nghị
GKHĐ phải quy định rõ thời hạn trả lời; nếu một đề nghị không nêu rõ thời
hạn trả lời được coi là có giá trị ràng buộc người đưa ra đề nghị trong một
khoảng thời gian hợp lý (khi giải quyết tranh chấp, thẩm phán có toàn quyền
đánh giá mức thời gian hợp lý tùy vào tính chất và hoàn cảnh của giao dịch).
Đối với đề nghị GKHĐ không quy định thời hạn trả lời thì bên đề nghị có
toàn quyền thay đổi hay rút lại đề nghị chừng nào chưa nhận được trả lời của

dựng mới được coi là đề nghị GKHĐ.
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định về đề nghị giao dịch,
nhưng pháp luật của nhiều nước đã có sự phân biệt đề nghị GKHĐ và đề nghị
giao dịch. Ví dụ: pháp luật Singapore yêu cầu lời đề nghị GKHĐ phải được
đưa ra với mục đích ràng buộc các bên. Nếu một người chỉ đưa ra lời đề nghị
hoặc yêu cầu thông tin mà không hướng tới sự ràng buộc, thì coi là người đó
đưa ra lời mời thương lượng. Hay theo quy định của án lệ Anh, việc trưng bày
hàng hoá ở cửa hàng không phải là đề nghị GKHĐ của chủ hiệu mà chỉ là sự
mời chào khách đến mua hàng (đề nghị thương lượng). Do đó người bán hàng
có quyền chấp thuận hoặc từ chối bán hàng theo ý mình (vụ Fisher kiện Bell,
1961) [15,tr 52]. Tuy vậy, đề nghị giao dịch hiện nay cũng chưa có cách hiểu
thống nhất: một số nước (như: Liên bang Nga, Pháp…) quan niệm việc ấn
định giá ở các cửa hàng, siêu thị hoặc trong một catalogue cũng được coi là
một đề nghị GKHĐ, nhưng các nước khác (như: Anh, Mĩ…) thì đây chỉ là

19
một đề nghị giao dịch (lời mời thương lượng). Pháp luật Việt Nam về GKHĐ
không có khái niệm pháp lý cho hành động tuyên bố ý chí này. Theo phương
pháp suy đoán loại trừ vì không thỏa mãn các đề nghị của một GKHĐ nên
đây không được coi là một đề nghị GKHĐ.
1.2.1.2. Hiệu lực của đề nghị GKHĐ
Việc xác định hiệu lực của đề nghị GKHĐ có ý nghĩa quan trọng, bởi vì
trong thời hạn hiệu lực của đề nghị GKHĐ, bên đề nghị bị ràng buộc trách
nhiệm với đề nghị GKHĐ mà mình đã đưa ra và nếu bên được đề nghị trả lời
chấp nhận đề nghị trong thời gian có hiệu lực của đề nghị GKHĐ thì hợp
đồng hình thành. Theo thông lệ chung thì thời hạn có hiệu lực của đề nghị
GKHĐ do bên đưa ra đề nghị GKHĐ ấn định. Tuy vậy, để có thể xử lý các
tình huống, trong đó, bên đề nghị GKHĐ không ấn định thời gian có hiệu lực
của đề nghị GKHĐ, pháp luật một số nước có quy định về cách thức xác định
thời hạn có hiệu lực của đề nghị GKHĐ (chi tiết xin xem mục 1.2.1.1).

thời hạn cố định để trả lời hoặc ấn định nó không thể bị hủy ngang; (ii) Bên
được đề nghị có thể tin tưởng một cách hợp lý là đề nghị không thể bị hủy
ngang và bên được đề nghị hành động trên cơ sở tin tưởng vào lời đề nghị đó.
Còn theo pháp luật của Nhật bản, Đức và các nước Châu Âu lục địa, trong
thời gian có hiệu lực của chào hàng cố định (đề nghị giao kết hợp đồng/chào
hàng không hủy ngang) thì người chào hàng không có quyền hủy chào hàng
của mình.
Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, người đề nghị được quyền thay đổi
hoặc rút lại đề nghị vào bất cứ thời điểm nào trước khi người được đề nghị
chấp nhận đề nghị nhưng không được rút lại đề nghị nếu đã hứa trước một
thời hạn để đề nghị này có hiệu lực và đã nhận được của người nhận một
nghĩa vụ đối ứng như là một sự trả giá cho việc giữ lời hứa trên. Pháp luật của
một số bang của Hoa Kỳ cũng quy định có những đề nghị GKHĐ không được
rút lại [20; tr 82,183]. BLDS của Ý quy định: bên đề nghị GKHĐ gửi lời đề

21
nghị đến một đối tượng cụ thể thì có thể rút lại đề nghị của mình trước khi
hợp đồng được ký kết trừ trường hợp có ấn định thời hạn có hiệu lực trong đề
nghị GKHĐ [99; tr 27].
Còn theo quy định của BLDS năm 2005, bên đề nghị GKHĐ có thể thay
đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp bên được đề nghị nhận
được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời
điểm nhận được đề nghị; hoặc điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát
sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại
đề nghị khi điều kiện đó phát sinh (Điều 392).
1.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1.2.2.1. Các dấu hiệu nhận biết chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị GKHĐ là hành vi tuyên bố ý chí của bên được đề
nghị về việc chấp thuận toàn bộ nội dung của đề nghị GKHĐ (Điều 396
BLDS năm 2005). Khi một đề nghị GKHĐ được chấp nhận thì quan hệ hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status