MỤC LỤC
1
I.
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển và thay đổi liên tục không ngừng nghỉ,
nhất là xét riêng trong lĩnh vực luật pháp. Kinh tế, khoa học và xã hội
luôn luôn trong xu hướng cải tiến thì cũng là quá trình luật pháp cần có
sự thay đổi và bổ sung để đáp ứng cấp thiết cho nhu cầu của con người.
Con người là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các quan hệ xã
hội. Nhà nước ra đời với bản chất giai cấp cũng đồng thời mang bản
chất xã hội. Bản chất xã hội của nhà nước thể hiện bằng việc thông qua
các cơ quan quyền lực của mình, nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ
chủ yếu và quan trọng trong xã hội. Nói như vậy có nghĩa là nhà nước
điều chỉnh con người trong xã hội thông qua việc điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội. Nói riêng về các mối quan hệ trong xã hội dân sự, luật
pháp nước ta chia làm hai mảng chính: quan hệ tài sản và quan hệ nhân
thân nhưng điều đó không nói lên rằng quan hệ dân sự thiếu tính đa
dạng mà chính là thể hiện sự phức tạp của vấn đề. Tham gia vào các mối
quan hệ pháp luật dân sự, con người thể hiện những tư cách chủ thể
khác nhau. Trong dân sự, các chủ thể tham gia với mong muốn là sự giao
dịch này phải đảm bảo được độ tin cậy, người tham gia làm sao thỏa
mãn được ý chí của mình ( có thể giao dịch hoặc không thể giao dịch.
Luật dân sự có quy định riêng cho mỗi chủ thể tham gia, tính đảm bảo tư
cách chủ thể được luật dân sự đảm bảo về quyền và nghĩa vụ: cá nhân
tham gia có quyền, nghĩa vụ khác với quyền và nghĩa vụ pháp nhân tham
gia. Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn, Nhà nước đã và đang tiếp tục điều
năng do nhà nước quy định cho mọi cá nhân trong các văn bản
quy phạm pháp luật mà nội dung của năng lực dân sự này phụ
thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, phong tục, tập
quán...của nhà nước đó. Cụ thể:
-
-
Quyền dân sự là những quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không
thể chuyển giao cho người khác, như: Quyền sống, quyền tự do và
an ninh cá nhân; Quyền không bị bắt làm nô lệ; Quyền không bị tra
tấn, quyền được đối xử nhân đạo; Quyền tự do đi lại và cư trú;
Quyền có quốc tịch; Quyền kết hôn và xây dựng gia đình; Quyền sở
hữu tài sản riêng…
Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau
đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển
giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác
3
hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một
hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) 1.
Đặc điểm
1.2.
Các đặc điểm về năng lực hành vi dân sự của cá nhân cũng vẫn
được giữ nguyên:
-
1 Theo điều khoản số 280, bộ luật dân sự 2005 tương đương với điều 273, bộ luật dân sự 2015
4
Nội dung về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng đều được quy
định như nhau tại điều 15, Bộ luật Dân sự 2005 tương đương với điều 17,
Bộ luật Dân sự 2015. Cá nhân có quyền, nghĩa vụ sau đây :
1.3.1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài
sản. (Khoản 1). Cụ thể:
Quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền thuần tuý
về tinh thần gắn liền với chủ thể, không thể bị định đoạt và không
thể chuyển nhượng, những giá trị nhân thân này được đánh giá bởi
xã hội, nó đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người như danh dự,
nhân phẩm, uy tín, họ tên.
1.3.2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản(Khoản
2). Trong đó:
i)
Quyền sở hữu là quyền của cá nhân đối với tài sản của mình trong
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, cá nhân có quyền sở hữu đối với
tài sản có được một cách hợp pháp.
ii)
Quyền thừa kế là quyền của cá nhân được hưởng di sản của người
khác để lại và quyền để lại tài sản của mình cho người khác theo di
chúc hoặc theo pháp luật.
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đủ mười tám tuổi trở
2.2.
lên (người đã thành niên) là người có khả năng nhận thức, điều khiển
được hành vi của mình và ý thức được hậu quả hành vi của mình gây ra.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân thể hiện ở hai khía cạnh: khả năng
giao dịch (năng lực thực hiện giao dịch) , khả năng gánh chịu trách nhiệm
i)
ii)
(độc lập chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình).
2.3. Phân loại
2.3.1. Người chưa thành niên
Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo
iii)
pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng
ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù
iv)
hợp với lứa tuổi.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không
đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất
năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có
quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ
sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên
bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người
ii)
giám hộ.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của
người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu
quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó
i)
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2.3.4. Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá
tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích
liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra
quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi
ii)
dân sự.
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn
vi dân sự. Theo đó, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến
quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khan trong nhận thức, làm chủ hành vi phải
được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định
của Bộ luật này, luật khác có liên quan theo quy định của tòa án. Đồng
thời, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân
thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý
của vợ, chồng hoặc con thành liên của người đó; trường hợp không có
những người này thì phải được sự dồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên
bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp bộ luật này, luật khác có liên
quan quy định khác.
Với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân có hàng
loạt dấu hiệu và thuộc tính tự nhiên, xã hội mà trên cơ sở đó phân biệt
các cá nhân với nhau đồng thời có ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của cá
nhân đó.Các thuộc tính đó là tên, quốc tịch, độ tuổi, tình trạng gia đình,
giới tính. Từ những thuộc tính này, luật quy định mỗi người tham gia
vào quan hệ pháp luật với tên (họ) nhất định (nhân danh mình) với quốc
tịch, độ tuổi và giới xác định. Các thuộc tính này được xác định ngay từ
khi khai sinh cùng với việc đăng ký khai sinh.
8
Trong Bộ luật Dân sự 2015, quyền nhân thân của cá nhân đã được cụ
thể hóa đầy đủ nhằm xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong quan hệ
dân sự được quy định trong Hiến pháp và Điều ước Quốc tế mà Việt Nam
là thành viên, bao gồm:
3.1.
Quyền có họ,tên
Quyền được khai sinh, khai tử
Quyền được khai sinh tại điều 29 và quyền được khai tử tại điều
30, Bộ luật Dân sự 2005 đã được gộp thành quyền được khai sinh,
khai tử tại điều 30, Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời có bổ sung: “Trẻ
em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì
phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi
bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ,
mẹ đẻ có yêu cầu’’.
3.3.
Quyền được xác định dân tộc
Quyền xác định, xác định lại dân tộc tại điều 29, Bộ luật Dân sự
2015 cũng có bổ xung thêm những quyền áp dụng cho trẻ em bị bỏ
rơi: “Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ
và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc
của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường
hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác
định theo dân tộc của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và
chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị
của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị
của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký
khai sinh cho trẻ em”.
3.4.
Quyền hiến nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác
Bởi tính chất có những mối liên hệ mật thiết nhất định giữa
của một bộ phận công dân trong xã hội mà không trái với truyền thống,
phong tục tốt đẹp của dân tộc và phù hợp với thông lệ quốc tế chung.
3.6.
Các quyền khác
Ngoài một số quyền nhân thân đã kể trên thì trong bộ luật mới
hầu hết các quyền khác như: quyền thay đổi họ; quyền thay đổi tên;
quyền đối với quốc tịch; quyền cá nhân đối với hình ảnh; quyền sống,
quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền về đời sống riêng tư,
11
bí mật cá nhân, bí mật gia đình; quyền nhân thân trong hôn nhân và
gia đình đều không có thay đổi cơ bản đáng kể nào.
4.
Hộ tịch và nơi cư trú của cá nhân
4.1. Hộ tịch
Hộ tịch có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung
năng lực chủ thể của cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự.
Hộ tịch là tất cả những sự kiện (hành vi hoặc sự kiện) pháp
lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của
chủ thể. Việc xác định các sự kiện pháp lý về hộ tịch liên quan đến
địa vị dân sự cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong đời sống. Các sự
kiện đó đựơc quy định bao gồm: sinh tử kết hôn, ly hôn, giám hộ,
nuôi con nuôi, thay đổi tên, họ, quốc tịch, xác định dân tộc, cải
chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ
tịch.
tương thân tương ái giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau giữa những người thân
thích trong gia đình và trong cộng đồng xã hội.
5.1.
Khái niệm
Khái niệm tại khoản 1, điều 58, Bộ luật Dân sự 2005 tương tự
tại khoản 1, điều 46, Bộ luật Dân sự 2015, quy định: “Giám hộ là việc
cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã
cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của
Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc
chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”.
Cũng tại điều này, Bộ luật Dân sự 2015 có quy định thêm tại
khoản 2 và 3: “Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu
họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.
Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch”.
Từ đó phạm vi của bộ luật được mở rộng hơn, cụ thể hơn, áp dụng
được tốt hơn trong đời sông xã hội
13
5.2.
Người được giám hộ
Ngoài những quy định về người giám hộ đã được quy định sẵn
các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của người khác;
14
- Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.
Trong đó khoản 3 đã được cụ thể hóa chi tiết hơn tại các khoản 3
và 4, điều 49, Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người có điều kiện cần thiết
bảo đảm thực hiện việc giám hộ:
“Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người
khác.
Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con
chưa thành niên”.
5.5.
Các hình thức giám hộ
Các hình thức giám hộ về cơ bản vẫn được giữ nguyên trong
các điều khoản trong Bộ luật Dân sự 2005. Các hình thức giám hộ
Hình thức giám hộ
gồm
Giám hộ đương nhiên của người
chưa thành niên
Giám hộ đương nhiên
Giám hộ đương nhiên của người
6.1.2. Hậu quả của việc tuyên bố cá nhân mất tích:
Về mặt tài sản: tài sản của người bị tuyên bố mất tích được giao
cho cá nhân, tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật, vấn đề này
được quy định tại Điều 75 BLDS 2005 tương ứng điều 69, Bộ luật Dân
sự 2015.
Về mặt nhân thân: Nếu người vợ hoặc chồng của người bị tuyên
bố mất tích muốn ly hôn thì phải làm thủ tục ly hôn với người bị tuyên
bố mất tích theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp
luật tố tụng dân sự.
6.2. Tuyên bố chết
6.2.1. Khái niệm và điều kiện
16
Tuyên bố chết là việc Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố một
cá nhân là đã chết theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên
quan khi có những đủ điều kiện luật định:
-
-
Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.
Điều kiện về thời gian: Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố
mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức
xác thực là còn sống. Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể
từ khi chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn
sống. Bị tai nạn hoặc thảm họa thiên tai mà sau một năm kể từ
ngày tai nạn hoặc thảm họa thiên tai chấm dứt vẫn không có tin
tức là cònsống, Trường hợp cuối cùng có quyền yêu cầu tòa án
tuyên bố cá nhân chết là cá nhân biệt tích năm năm liền trở lên,
sự, mở rộng quy phạm mà pháp luật ảnh hưởng, cải thiện trật tự, an
toàn xã hội. Không chỉ dừng lại ở đó, Bộ luật Dân sự 2015 là bộ luật đầu
tiên trong lịch sử công nhận quyền chuyển đổi giới tính của công dân. Đó
thực sự là một bước tiến lớn, một thay bước ngoặt táo bạo được đông
đảo bạn bè quốc tế đánh giá cao. Qua đó không chỉ sự phù hợp, bao quát
của bộ luật trong thời kì hội nhập mà từ đó còn thể hiện sự văn minh
trong nhận thức của công dân Việt Nam. Một bộ luật với nhiều thành
công hứa hẹn khi được chính thúc áp dụng chính thức bắt đầu từ ngày
01/01/2017.
18
IV.
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Dân sự 2015.
2. Bộ luật Dân sự 2005.
3. Các websites: wattpad.com, noichinh.vn, thuvienphapluat.vn,
moj.gov.vn,…
19