Đề bài 8: Về các hình thức sở hữu trong bộ luật dân sự năm 2005, nhận xét và
kiến nghị.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sở hữu là một trong những phương tiện để phát triển nền kinh tế xã hội , nâng
cao đời sống nhân dân. Bất kỳ xã hội nào cũng phải xây dựng trên một chế độ sở
hữu nhất định, các quy định về nội dung của chế độ sở hữu được thể hiện ra bên
ngoài với các quy định về hình thức sở hữu. Thực tế đã chứng minh vai trò của
mỗi hình thức sở hữu trong chế độ sở hữu có ý nghĩa và tác dụng khác nhau trong
nền kinh tế quốc dân. Các quy chế pháp lý đối với mỗi hình thức sở hữu cũng có
những nét riêng biệt nên việc phân biệt các hình thức sở hữu khác nhau trong luật
dân sự là cần thiết. Hình thức sở hữu là vấn đề rất lớn được Bộ luật Dân sự điều
chỉnh nhưng vẫn còn tồn tại những điểm bất cập, chưa hợp lý.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Các hình thức sở hữu.
1.1. Hình thức sở hữu nhà nước.
1.1.1. Xác lập và chủ thể của sở hữu nhà nước.
Sở hữu nhà nước là một hình thức có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ thể
hiện ở phạm vi tài sản mà nhà nước có quyền sở hữu mà còn thể hiện ở nội dung
của hình thức sở hữu này.
Các căn cứ xác lập quyền sở hữu của nhà nước cũng chính là các căn cứ làm
xác lập quyền sở hữu của của các chủ thể khác. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù
của hình thức sở hữu nhà nước mà có những căn cứ chỉ phát sinh quyền sở hữu
đối với hình thức sở hữu Nhà nước mà không thể làm phát sinh quền sở hữu đối
với các chủ thể khác. Ví dụ: đối với các vật bị chôn giấu chìm đắm được tìm thấy
là di tích lịch sử văn hóa thì thuộc sở hữu nhà nước, Nhà nước được xác lập quyền
sở hữu trong trường hợp trưng mua, tài sản bị tịch thu…
Để đảm bảo cho nhà nước pháy huy vai trò của mình trong nền kinh tế đất
nước, đảm bảo cho việc ổn định chính trị thì cần phải có một cơ chế pháp lý cụ thể
ghi nhận hình thức sở hữu nhà nước và đảm bảo cho Nhà nước thực hiện các
quyền đối với những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Tuy nhiên, sở hữu nhà
Trên cơ sở quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992, Điều 200 BLDS năm
2005 quy định về phạm vi tài sản thuộc sở hữu của nhà nước như sau:
“Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng
trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên
trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn
và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an
ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định.”
Những loại tài sản như đất đai, rừng núi, sông hồ, tai nguyên thiên nhiên,..chỉ
có thể thuộc sở hữu nhà nước. Đây là những khách thể đặc biệt của quyền sở hữu
nhà nước.
Như vậy, phạm vi tài sản thuộc sở hữu nhà nước bao gồm:
* Đất đai :
Trong Hiến pháp năm 1992( Điều 17), Luật Đất đai ( khoản 1 Điều 5), BLDS
( Điều 200) đều đã khẳng định đất đai là tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Ngoài
Nhà nước thì không có chủ thể nào có quyền sở hữu đối với đất đai. Nhà nước
giao đất cho cá nhân, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước,… để sử dụng
lâu dài và ổn định. Người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất và các quyên liên
3
quan đến quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyên nhượng, cho thuê, cho thuê
lại, thừa kế, góp vốn,tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
* Rừng, núi, sông, hồ:
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi
sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa
hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1
trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì:
“Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được
phát triển bằng vốn của Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu
Ngoài những tài sản trên thì các tài sản khác do pháp luật quy định cũng có thể
thuộc sở hữu Nhà nước, các di tích lịch sử văn hóa mà nhà nước có quyền sở hữu,
di sản thừa kế không có người thừa kế…
1.1.3. Nội dung của sở hữu Nhà nước.
* Quyền chiếm hữu.
Các tổ chức, công dân thực hiện quyền chiếm hữu của mình bằng cách chiếm giữ
trực tiếp hoặc chiếm giữ pháp lý, còn Nhà nước lại thực hiện quyền chiếm hữu tài
sản của mình bắng cánh ban hành các văn bản pháp quy, quy định việc bảo quản,
quy định các thể lệ kiểm kê tài sản định kì và đột xuất để kiểm tra tài sản mà Nhà
nước đã giao cho các cơ quan , doanh nghiệp Nhà nước.
Hàng năm hoặc hàng quý, Nhà nước tiến hành kiểm tra tài sản, vật tư, máy
móc, vốn và việc sử dụng vốn… mà Nhà nước đã giao cho các doanh nghiệp
quyền quản lí, sử dụng. Nhà nước trao cho các cơ quan chức năng của Nhà nước
theo hệ thông dọc : Bộ, ngành hoặc cơ quan quản lí hành chính theo địa hạt trực
5
tiếp ban hành các văn bản như : Chỉ thị, thông tư quy định về việc sử dụng các
loại tài sản giao cho các cơ quan đơn vị trực thuộc.
Như vậy, Nhà nước chủ yếu thực hiện quyền chiếm hữu của mình bằng việc ban
hành các văn bản pháp luật quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan
nhà nước, các doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản của Nhà nước giao cho.
* Quyền sử dụng.
Nhà nước có quyền khai thác công dụng của tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình , tuy nhiên việc khai thác lợi ích từ tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước khác
với quyền sử dụng của các chủ thể khác. Nhà nước khai thác lợi ích từ tài sản theo
quy định của pháp luật và theo một kế hoạch nhất định.
Nhà nước thực hiện quyền sử dụng tài sản thông qua việc chuyển giao cho các
cơ quan doanh nghiệp nhà nước quản lý và khai thác công dụng của tài sản hoặc
chuyển giao cho các tổ chức cá nhân thông qua các hợp đồng dân sự hay các thủ
tục hành chính nhất định. Nhà nước khuyến khích và tao điều kện thuận lợi cho
các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, cá nhân và các chủ thể khác sử dụng tài sản
“Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình.
Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.”
Như vậy, mặc dù là sở hữu của cá nhân đối với với tài sản nhưng dựa trên tính
chất về vốn và cách thức sản xuất, sử dụng lao động mà sở hữu tư nhân được chia
thành: sở hữu cá thể (vốn ít, tổ chức sản xuất kiểu tự cung tự cấp), sở hữu tiểu chủ
(cá nhân bắt đầu biết cách tổ chức sản xuất, đã biết thuê nhân công lao động…),
sở hữu tư bản tư nhân (vốn lớn, tổ chức sản xuất ở trình độ cao..).
Chủ thể của sở hữu tư nhân đó chính là cá nhân, bất cứ cá nhân công dân nào
không phân biệt các mức độ năng lực dân sự dều có thể là chủ sở hữu của sở hữu
tư nhân miễn là những người này có tài sản dựa trên các căn cứ pháp lý do pháp
7
luật quy định. Tuy nhên để thực hiện các quyên năng của quyền sở hữu thì không
phải cá nhân nào cũng thực hiện được mà điều đó còn phải tùy thuộc vào khả năng
nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân .. liên quan đến các mức độ năng lực hành
vi dân sự. Do đó, trong một số trường hợp nếu cá nhân không thể trực tiếp thực
hiện được các quyền năng của quyền sở hữu thì quyền năng này được thực hiện
thông qua hành vi của người đại diện; hay trong một số trường hợp cá nhân muốn
thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu phải được sự đồng ý của người đại
diện.
1.2.2. Khách thể của sở hữu tư nhân.
Khách thể của sở hữu tư nhân là những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân.
Tài sản thuộc sở hữu tư nhân được pháp luật quy định rất đa dạng về căn cứ phát
sinh, không giới hạn về số lượng và giá trị tài sản. Theo Điều 212 BLDS thì “Tài
sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá
trị.”. Tuy nhiên, cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định
không thể thuộc hình thức sở hữu sở hữu tư nhân.
Khách thể của sở hữu tư nhân bao gồm:
* Các thu nhập hợp pháp: Là tiền hoặc hiện vật có được do kết quả lao động,
hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp đem lại. Ngoài ra thu nhập hợp pháp còn
được hiểu là những khoản thu nhập có được từ việc được tặng cho tài sản, thừa kế