BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI LÊ THU
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CHẾ ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU
VÀ CÁC QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN TRONG BỘ
LUẬT DÂN SỰ 2015 PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT,
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI LÊ THU
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CHẾ ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU
VÀ CÁC QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN TRONG BỘ
LUẬT DÂN SỰ 2015 PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT,
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
luận văn.
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Học viên
PGS.TS Dương Đăng Huệ
Bùi Lê Thu
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ Luật Dân Sự
SHTD
Sở hữu toàn dân
SHNN
Sở hữu nhà nước
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DÂN SỰ 2015 PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP.......................................................................... 444
2.1. Một số hạn chế của BLDS 2005 về quyền sở hữu và quyền khác
đối với tài sản và tác động tiêu cực của chúng đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp ...................................................... 444
2.2. Một số điểm mới của BLDS 2015 về quyền sở hữu và quyền khác
đối với tài sản phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp……………………………………………………………………..47
7
2.2.1. BLDS 2015 đã ghi nhận đầy đủ các đặc tính của quyền sở hữu477
2.2.2. BLDS 2015 đã nêu rõ thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác
đối với tài sản....................................................................................... 488
2.2.3. BLDS 2015 đã bổ sung quy định quyền chiếm hữu như là một tình
trạng thực tế về nắm giữ, chi phối tài sản, độc lập với quyền sở hữu và
quyền khác đối với tài sản .................................................................... 522
2.2.4. BLDS 2015 đã xác định lại các hình thức sở hữu ở nước ta , phù
hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay............ 555
2.2.5. BLDS 2015 đã củng cố và bảo vệ vững chắc hơn nguyên tắc bình
đẳng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.......................................... 577
2.2.6. BLDS 2015 ghi nhận sự không hạn chế về số lượng và giá trị của
tài sản thuộc quyền sở hữu của các cá nhân, tổ chức ........................... 588
2.2.7. BLDS 2015 lần đầu tiên đã ghi nhận đầy đủ và minh thị các
nguyên tắc và đặc tính của vật quyền ................................................... 599
2.2.8. BLDS 2015 quy định cơ chế mới về bảo vệ quyền sở hữu, quyền
khác đối với tài sản ................................................................................ 61
2.2.9. BLDS 2015 ghi nhận thêm một số quyền đối với tài sản (vật quyền
hạn chế) ............................................................................................... 644
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................... 69
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC THI HIỆU QUẢ
CÁC QUY ĐỊNH MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ QUYỀN SỞ
hội và bảo vệ của cải, vật chất đó cũng như người tạo ra chúng trước mọi
hành vi gây hại. Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản là vấn đề
diễn ra hàng ngày, thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, tác động trực tiếp
đến quyền và lợi ích của các bên trong đời sống, đặc biệt là tới hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) trên cơ sở kế thừa truyền thống
của pháp luật dân sự Việt Nam, về cơ bản, đã có những đóng góp quan trọng
trong công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là lĩnh vực pháp luật tư
qua đó đã có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang dần hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng như đứng
trước yêu cầu bảo vệ quyền con người ngày càng được đề cao, BLDS 2005 đã
bộc lộ nhiều hạn chế do chưa thực sự tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như chưa thực sự bảo đảm tốt
được quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản của con người đặc biệt là
của doanh nghiệp. Ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khóa XIII tại Kỳ
họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật dân sự sửa đổi (BLDS 2015) nhằm khắc
phục những bất cập nêu trên của BLDS 2005 đồng thời đưa pháp luật dân sự
Việt Nam tiếp cận gần hơn với pháp luật dân sự nhiều nước trên thế giới.
Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) với nhiều sửa đổi, bổ sung được
đánh giá là Bộ luật có nhiều điểm tiến bộ không chỉ về tư duy pháp lý, về cấu
2
trúc mà còn cả về nội dung. Trong số những điểm tiến bộ đó, những thay đổi
trong Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” được coi là
những điểm mới quan trọng làm thay đổi căn bản diện mạo của BLDS 2015,
với tư cách là đạo luật có khả năng bảo đảm vững chắc và đầy đủ nhất cho
mỗi chủ thể sở hữu tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
khoa học cấp bộ; Tống Thị Hương (2014), Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp
luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà
Nội….
Các công trình trước đây cũng chủ yếu nghiên cứu về quyền sở hữu một
cách chung chung mà không được nghiên cứu dưới góc độ của doanh nghiệp.
Vì vậy có thể nói đề tài này hầu như còn bỏ ngỏ trong khoa học pháp lý hiện
nay.
Đề tài “Những điểm mới trong chế định quyền sở hữu và các quyền
khác đối với tài sản trong Bộ Luật Dân sự 2015 phục vụ hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp” tiếp cận vấn đề quyền sở hữu và quyền
khác đối với tài sản dưới góc độ và nhu cầu của một chủ thể đặc biệt trong xã
hội là doanh nghiệp. Đề tài chỉ ra những điểm mới trong BLDS 2015 có tác
dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không
nghiên cứu các quy định này một cách chung chung, dưới góc độ của mọi chủ
thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đề tài có tính mới, và tính khái quát cao
hơn các đề tài đã được thực hiện.
3.
Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nêu được các điểm mới của chế định
quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản trong BLDS 2015 và chứng
minh rằng, các quy định mới này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Việc nghiên cứu đề này nhằm giải quyết các mục tiêu cơ bản sau đây:
-
Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến quyền sở hữu và quyền khác đối
2015 mà thôi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu chế định quyền sở hữu và các quyền khác
đối với tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam từ trước đến nay mà chỉ tập
trung nghiên cứu các quy định trong BLDS mới 2015.
Luận văn cũng không đề cập đến các quy định trong luật chuyên ngành
có liên quan đến một số quyền khác đối với tài sản như Luật Đất đai (quyền
sử dụng đất thực chất cũng là một loại quyền đối với tài sản) hay Luật Quản
lý sử dụng tài sản nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp (quyền của các
doanh nghiệp nhà nước đối với tài sản được nhà nước giao về thực chất cũng
được coi là một loại quyền khác đối với tài sản – vật quyền hạn chế).
5
Tóm lại, Luận văn chỉ nghiên cứu các quy định mới về quyền sở hữu và
các quyền khác đối với tài sản trong BLDS 2015.
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
-
BLDS 2015 quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản như
thế nào
-
Những điểm mới của BLDS về chế định quyền sở hữu và quyền khác đối
7.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện một số
vấn đề lý luận về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản có liên quan đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. những kết quả này sẽ tạo
thêm cơ sở khoa học để hoàn thiện chế định quyền sở hữu và quyền khác đối
với tài sản trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên chuyên ngành
luật dân sự, luật kinh tế và tất cả những ai mong muốn tìm hiểu các quy định
mới của BLDS 2015 liên quan đến các loại vật quyền ở Việt Nam. Luận văn
đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà kinh doanh vì hơn ai hết, họ cần phải biết
được mình có những quyền gì mới đối với tài sản thuộc quyền sở hữu và các
quyền khác đối với tài sản mà mình được quyền quản lý, sử dụng.
8.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần danh mục chữ viết tắt, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản phục
vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Những điểm mới trong chế định quyền sở hữu và các quyền khác
đối với tài sản trong Bộ Luật Dân sự 2015 phục vụ hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thực thi hiệu quả các quy định mới của Bộ
Luật Dân sự 2015 về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.
1
Xem: Phạm Văn Nghiên (1993)“Một số quan điểm về đổi mới chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh
tế”, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 89.
2
Xem: Nguyễn Văn Thức (2004), Sở hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt Nam - NXB Khoa học xã hội , tr. 11. 3
3
Xem: Nguyễn Lân (2004), Từ điển từ và ngữ Hán Việt, NXB Từ điển bách khoa, trang 588-589.
8
Cũng có quan điểm cho rằng “sở hữu” là “việc chiếm giữ những sản vật
tự nhiên, những thành quả lao động của xã hội loài người”4. Theo cách hiểu
này, sở hữu là hành vi tương tác của con người với những đối tượng nhất định
(tài sản) vốn là một bộ phận của thế giới tự nhiên.
Dưới giác độ triết học và kinh tế học, khái niệm “sở hữu” thường bị
đồng nhất với khái niệm “quan hệ sở hữu”. Cuốn Từ điển kinh tế do nhà xuất
bản Sự thật ấn hành năm 1979 tại trang 381 có định nghĩa về sở hữu như sau:
sở hữu là “quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản
xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy”. Chia sẻ cách tiếp
cận này, gần đây, một số học giả ở Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về sở
hữu như TS. Nguyễn Văn Thức5, PGS. TS. Nguyễn Văn Thạo, TS. Nguyễn
Hữu Đạt (2004)6 đã đưa ra định nghĩa về sở hữu như sau: Sở hữu là quan giữa
con người với con người đối với việc chiếm hữu của cải và thông qua quan hệ
ấy con người thực hiện thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Theo quan niệm chung (dù là theo hệ thống common law hay hệ thống
chủ sở hữu trong xã hội, chúng ta có thể coi rằng “quyền sở hữu” là độc
quyền chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản. Chỉ có chủ sở hữu
mới có “độc quyền” này. Do đó, nhờ sự tồn tại của sở hữu, chủ sở hữu có ưu
thế so với các chủ thể khác trong việc chi phối, khai thác, quyết định số phận
của tài sản. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể nói rằng, sự tồn tại của quan hệ sở
hữu chính là sự thừa nhận của xã hội về phân tầng giữa các tổ chức, cá nhân
trong việc tiếp cận đối với các nguồn lực khan hiếm trong xã hội (tài sản và
các sản phẩm có nguồn gốc từ tài sản)7.
Quá trình tồn tại của xã hội loài người luôn gắn liền với sự phân hóa tài
sản trong việc chiếm giữ những của cải vật chất. Cùng với đó là sự phân chia
giai cấp, và những người có quyền thế trong xã hội thấy rằng, chỉ điều hành
xã hội bằng phong tục tập quán sẽ không có lợi cho mình nên cần phải có một
bộ máy bạo lực với pháp luật là công cụ để bảo vệ sự chiếm hữu của cải vật
chất cho mình và cho giai cấp mình.
Khi các quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan và xuất hiện
chế độ tư hữu, thì những người giầu có và quyền thế thấy rằng, nếu chỉ điều
hành xã hội bằng phong tục tập quán sẽ không có lợi cho họ. Muốn bảo vệ
quyền lợi cho mình, nhất là việc bảo đảm các quan hộ sở hữu đối với tư liệu
sản xuất, thì giai cấp thống trị phải đặt là một cái gì đó khác với tập quán và
chỉ giữ lại những cái gì của tập quán có lợi cho mình. Mặt khác, những quan
7
Xem: Nguyễn Văn Cương (2008) : Sở hữu - khái niệm, bản chất, hình thức tồn tại và vai trò của nó trong
đời sống xã hội, Hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta”, Báo
cáo phúc trình kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ, Bộ tư pháp- Viện khoa học pháp lý, Hà Nội, Tr.8486
10
hộ phức tạp mói phát sinh trong xã hội có giai cấp đòi hỏi phải có những
8
Xem: Đại học Luật Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam , NXB Công an Nhân dân.
11
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những của cải vật chất trong đời sống
xã hội. Ở các nước có BLDS thì chính các Bộ luật này luôn được coi là nguồn
cơ bản nhất của chế định quyền sở hữu.
-
Theo nghĩa chủ quan (còn được gọi là nghĩa hẹp), quyền sở hữu là mức
độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình trong những điều
kiện nhất định.Với cách hiểu này thì quyền sở hữu chính là những quyền năng
dân sự của chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, được quy định
trong các quy phạm pháp luật về sở hữu.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: quyền sở hữu là một phạm trù
pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao
gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở
hữu trong xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, quy định và
bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt tài sản.
Điều 158 BLDS 2015 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Hình thức sở hữu toàn dân theo quy định tại BLDS 2015 là hình thức sở
hữu Nhà nước theo quy định của BLDS 2005. Xét về nội dung, hình thức sở
hữu toàn dân và sở hữu Nhà nước mang nội dung giống nhau song việc thay
đổi tên gọi góp phần làm rõ bản chất của hình thức sở hữu này đồng thời thể
hiện rõ mục đích của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nội
dung của hình thức sở hữu toàn dân được BLDS 2015 quy định cụ thể như
sau:
Sở hữu toàn dân bao gồm những tài sản có giá trị lớn như đất đai, rừng
núi, tài nguyên… là tư liệu sản xuất quan trọng của đất nước, do đó cần xác
định rõ sở hữu tài sản này là toàn dân và hình thức sở hữu toàn dân phải là
một hình thức độc lập, việc xác định rõ như vậy không chỉ có ý nghĩa pháp lý
đơn thuần mà còn có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
phù hợp với định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội
Chủ nghĩa (XHCN), xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân.
13
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được
thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định. Khi tài sản
thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện
quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh
nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại
doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Doanh nghiệp thực hiện việc quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và
các tài sản khác do Nhà nước đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan.
Cá nhân, pháp nhân được sử dụng đất, khai thác nguồn lợi thủy sản, tài
nguyên thiên nhiên và các tài sản khác thuộc sở hữu toàn dân đúng mục đích,
có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của
đồng sở hữu phải cùng nhau bàn bạc để thống nhất về cách bảo quản, sử dụng
tài sản trên cơ sở của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận. Mọi
thỏa thuận hợp pháp của đồng sở hữu đều có hiệu lực bắt buộc và cũng là cơ
sử pháp lí để giải quyết khi có tranh chấp.
Khi tài sản thuộc sở hữu chung được sử dụng vào mục đích sản xuất,
kinh doanh mà sinh lợi thì số lợi đó sẽ được chia cho các đồng sở hữu theo tỷ
lệ phần quyền tương ứng của mỗi người. Khoản 1 Điều 217 quy định: “Mỗi
chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi
tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Sở hữu chung hợp nhất: là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở
hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.Sở
hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở
hữu chung hợp nhất không phân chia. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có
quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
Sở hữu chung của cộng đồng: là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng,
buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài
sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng
cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác
phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung
hợp pháp của cộng đồng.
15
Sở hữu chung cộng đồng do đặc điểm lịch sử được tạo dựng qua nhiều
thế hệ nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung của tất cả các thành viên trong
cộng đồng. Do đó, các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định
đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của
cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
Sở hữu chung trong nhà chung cư: Phần diện tích, trang thiết bị và các
tài sản khác dùng chung trong nhà chung cư theo quy định của Luật nhà ở
thuộc sở hữu chung hợp nhất của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và
không phân chia, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc tất cả các chủ sở
hữu có thỏa thuận khác. Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền,
nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng tài sản, trừ trường hợp luật
có quy định khác hoặc có thỏa thuận khác.
Trường hợp nhà chung cư bị tiêu hủy thì quyền của chủ sở hữu căn hộ
chung cư thực hiện theo quy định của luật.
Sở hữu chung hỗn hợp: là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi
nhuận. Tài sản được hình thành từ nguồn vốn góp của các chủ sở hữu, lợi
nhuận hợp pháp thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc từ nguồn
khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu chung hỗn
hợp.
Sở hữu chung hỗn hợp là một dạng cụ thể của sở hữu chung nhưng đồng
thời có những nét đặc thù riêng. Sở hữu chung hỗn hợp thường có quy mô
hoạt độn rộng khắp trong nhiều ngành nghề khác nhau và có mục đích thu lợi
nhuận nên việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không theo nguyên tắc của sở
hữu ching thông thường. Khoản 3 Điều 215 BLDS 2015 quy định: “Việc
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp phải tuân
theo quy định tại Bộ luật này và quy định của pháp luật có liên quan đến việc
góp vốn, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý, điều hành, trách
nhiệm về tài sản và phân chia lợi nhuận”.
17
1.1.2.3.
nào. Tuy nhiên pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể chiếm hữu nếu
việc chiếm hữu đó dựa trên cơ sở pháp lý do luật định.
-
Chủ sở hữu chiếm giữ tài sản