BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UNICEF VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI
DỰ ÁN GIÁO DỤC CHO TRẺ EM
CHIẾN LƯỢC DẠY HỌC VÀ HỖ TRỢ
HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ
HỌC HÒA NHẬP CẤP TIỂU HỌC
(Tài liệu hướng dẫn giáo viên các trường tiểu học
có học sinh khuyết tật học hòa nhập)
Nhóm tác giả biên soạn:
1. TS Bùi Thị Lâm
2. Ths. Nguyễn Minh Phương
Hà Nội, 2015
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU
Được sự hỗ trợ của tổ chức Unicef và Dự án giáo dục trẻ em của Bộ Giáo
dục & Đào tạo, tài liệu “Chiến lược dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật ngôn
ngữ học hòa nhập cấp tiểu học” được biên soạn nhằm góp phần giúp các thầy,
cô giáo, các nhà quản lí và những người quan tâm có thể tìm hiểu và thực hành
áp dụng một số biện pháp dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật ngôn ngữ (HS
KTNN) học hòa nhập.
1. Mục tiêu của tài liệu
1.1. Kiến thức: Cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về HS KTNN (khái
niệm, dấu hiệu nhận biết, đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ); nội dung,
............................................................................................................................. 19
2.1. Nhiệm vụ 1: Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập học sinh KTNN .......... 19
2.2. Nhiệm vụ 2: Một số kĩ thuật hỗ trợ trong dạy học hòa nhập HS KTNN . 23
2.3. Nhiệm vụ 3: Đánh giá kết quả học tập của HS KTNN ............................ 32
MÔ ĐUN 3. HỖ TRỢ CÁ NHÂN HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ
CẤP TIỂU HỌC.................................................................................................. 38
3.1. Nhiệm vụ 1: Kế hoạch giáo dục cá nhân với học sinh KTNN ................ 38
3.2. Nhiệm vụ 2: Hỗ trợ giáo dục cá nhân học sinh khuyết tật ngôn ngữ ở
trường và ở nhà.................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 48
MÔ ĐUN 1. HIỂU VỀ HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ
Mục tiêu:
Sau khi học xong mô-đun này, học viên có khả năng:
- Kiến thức
+ Trình bày và phân biệt các khái niệm giao tiếp, ngôn ngữ, lời nói, khó
khăn về giao tiếp, khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về lời nói, học sinh khuyết
tật ngôn ngữ.
+ Mô tả được một số dấu hiệu nhận biết học sinh khuyết tật ngôn ngữ.
+ Phân tích được các đặc điểm cơ bản của học sinh khuyết tật ngôn ngữ.
- Kĩ năng: Nhận biết học sinh có dấu hiệu khuyết tật ngôn ngữ trong lớp học.
- Thái độ: Có thái độ phù hợp, tích cực đối với học sinh khuyết tật ngôn ngữ
trong lớp học.
Nội dung:
1.1. Nhiệm vụ 1: Khái niệm học sinh khuyết tật ngôn ngữ
1.1.1. Hoạt động 1: Hiểu và phân biệt các khái niệm: giao tiếp, ngôn ngữ, lời nói
1.1.1.1. Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Hãy nêu quan điểm, ý hiểu của mình về các khái niệm: giao tiếp, ngôn
- Điệu bộ, cử chỉ, nét mặt phù
hợp với thông tin nhận được.
- Xử lí âm vị học, phân tích
cấu trúc câu.
- Tìm thấy sự tương hợp giữa
âm và nghĩa của từ.
Hiểu
- Hiểu cấu trúc bề mặt của
thông điệp.
- Hiểu mục đích giao tiếp
cuối cùng của người nói.
2
Vấn đề ngữ
dụng
Vấn đề ngữ
pháp
Vấn đề ngữ
nghĩa
Chức năng
thực hiện
Vấn đề ngữ
nghĩa
Vấn đề cú
pháp
Vấn đề sử
dụng
b. Ngôn ngữ
- Ngôn ngữ là một hệ thống có tổ chức của các kí hiệu võ đoán & các cấu trúc
tầng bậc có quy tắc, được sử dụng như một phương tiện giao tiếp. (Brandone &
cộng sự, trong Paul, R. 2001). Trong đó, cấu trúc tầng bậc được thể hiện ở các
đơn vị từ nhỏ đến lớn, gồm: âm, từ, ngữ, câu, văn bản.
- Ngôn ngữ là sự kết hợp phức tạp của ba bình diện chính: hình thức, nội dung
và cách sử dụng (Bloom và Lahey, 1978). Các bình diện này tuy có sự khác biệt
nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
3
Sự kết hợp của ngôn ngữ
NỘI
DUNG
HÌNH
THỨC
SỬ
DỤNG
c. Lời nói
- Lời nói là phương thức giao tiếp, liên quan đến quá trình tạo âm được sử dụng
qua sự phối hợp chính xác của môi, lưỡi, vòm miệng, hệ thống cơ, hệ thống hô
hấp và não bộ. (Maria Angela Martinez, 2004)
Cùng một lời nói nhưng ở mỗi cá nhân có sự khác nhau về mặt âm thanh.
Âm thanh của lời nói cũng như âm thanh trong thế giới tự nhiên xung quanh
chúng ta, về bản chất đều là những sóng âm được truyền trong một môi trường
nhất định và thường là không khí. Khi chúng ta nói, dây thanh trong hầu chấn
động, tạo nên những sóng âm. Chúng được truyền trong không khí đến tai người
nghe. Âm thanh có những đặc trưng để phân biệt nhau là:
+ Cao độ do tần số dao động của vật thể quyết định. Dây thanh chấn động
nhanh cho ta những âm cao, chấn động chậm cho ta những âm thấp. Đơn vị đo
cao độ là Hertz (Hz). Tần số là số chu kì được thực hiện trong 1 giây. Tần số
càng lớn thì âm phát ra càng cao và ngược lại.
+ Cường độ hay độ mạnh của âm thanh, do biên độ dao động của vật thể
quyết định. Dây thanh chấn động mạnh so với tư thế nghỉ ngơi thì âm phát ra
lớn và ngược lại thì âm phát ra nhỏ.
+ Âm sắc là sắc thái của âm thanh. Sự khác nhau của âm sắc là do sự khác
nhau của các hộp cộng hưởng. Miệng của con người với tư cách là một hộp cộng
hưởng khác nhau do vị trí của lưỡi, môi, hàm thay đổi mà trở thành rất nhiều
hộp cộng hưởng khác nhau và ta có những âm với âm sắc khác nhau.
+ Trường độ hay là độ dài của âm thanh. Độ dài của âm thanh tạo nên sự
tương phản giữa các bộ phận của lời nói.
5
Các bình diện này của âm thanh phụ thuộc vào các đặc điểm sinh học của
con người như độ tuổi, giới tính, thể chất,...
1.1.2. Hoạt động 2: Khái niệm khó khăn về giao tiếp, khó khăn về ngôn ngữ,
của ngôn ngữ và các quy tắc chi phối sự kết hợp âm thanh. HS bị rối loạn về ngữ
âm – âm vị sẽ gặp khó khăn trong việc nhận thức về âm thanh và các âm tiết
của từ. Một số nghiên cứu cho thấy, đây là một điều kiện tiên quyết cho việc học
ngôn ngữ viết, tức là phát triển khả năng đọc và chính tả.
+ Khó khăn về cú pháp: ở dạng này, HS có thể gặp khó khăn trong việc
hiểu, sử dụng các kiểu câu có cấu trúc đơn giản lẫn phức tạp. Chẳng hạn như HS
gặp khó khăn trong việc dùng câu phân chia theo mục đích nói,… hay khó khăn
trong việc sắp xếp trật tự các từ trong câu, đặc biệt là câu ít dùng, ít gặp và hay
tỏ ra khó hiểu khi xuất hiện các câu kiểu này .v.v.
- Khó khăn về nội dung ngôn ngữ: sự phát triển mặt nội dung ngôn ngữ bao hàm
cả sự tăng lên về lượng (vốn từ) và sự biến đổi về chất (tính phức tạp và trừu
tượng trong vốn từ ngữ) của HS. Điều này phản ánh các khái niệm và ý tưởng
chứa đựng trong từ ngữ mà HS lĩnh hội được. Ở giai đoạn trước 6 tuổi, HS mới
chỉ có vốn từ ngữ sử dụng trong giao tiếp thông thường, sang giai đoạn học đường
HS học được vốn từ ngữ nhà trường, diễn đạt các khái niệm môn học, các thuật
ngữ khoa học ngày càng phức tạp và trừu tượng hơn. Khiếm khuyết ở khía cạnh
này có thể làm HS hạn chế vốn từ, hạn chế các loại ngữ nghĩa, thiểu hụt khả năng
điều chỉnh từ, thiếu kĩ năng kết hợp từ và khó sử dụng những cụm từ cố định như
thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ… HS này cũng gặp hạn chế trong việc hiểu và sử
dụng những câu nói đùa, cách nói bóng bẩy hay mang nghĩa ẩn dụ.
- Khó khăn về sử dụng ngôn ngữ: là HS gặp khó khăn trong việc vận dụng các
quy tắc ngôn ngữ trong các tình huống, ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Ngôn ngữ
được sử dụng như là một dạng công cụ hữu hiệu của giao tiếp và tư duy. Sự phát
triển mặt sử dụng ngôn ngữ ở trẻ em và vị thành niên biểu hiện qua khả năng hoạt
hóa ngày càng đầy đủ, sâu sắc và hiệu quả các chức năng của ngôn ngữ phù hợp
với mục đích và bối cảnh. Chẳng hạn, từ chỗ HS sử dụng được ngôn ngữ trong
chức năng giao tiếp ở mục đích thỏa mãn nhu cầu ăn uống, đến chỗ sử dụng được
ngôn ngữ cho mục đích tranh luận và thuyết phục người khác một cách trực tiếp
7
8
không nói được hoặc nghe được nhưng không hiểu được. Tức là học sinh đó bị
rối loạn ở khả năng biểu đạt lời nói hoặc ở khả năng cảm thụ, tiếp nhận lời nói
hoặc cả hai.
+ Mất ngôn ngữ: do hậu quả của bệnh tật hoặc chấn thương nào đó khiến
học sinh mất hoàn toàn hay một phần khả năng nói, mặc dù trước đó từng nói
được. Trong trường hợp này, các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, của ngôn ngữ
đều bị phá hủy. Nếu học sinh vẫn nghe được và còn có khả năng sử dụng được
lời nói nhưng hiểu ít hoặc không hiểu thì gọi là mất khả năng tiếp nhận lời nói.
Ngược lại, học sinh nghe hiểu nhưng không nói được hoặc nói được rất ít thì gọi
là mất khả năng biểu đạt lời nói.
1.1.3. Khái niệm học sinh khuyết tật ngôn ngữ
1.1.3.1. Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Thế nào là học sinh khuyết tật ngôn ngữ?
- Giảng viên phân tích và kết luận.
1.1.3.2. Thông tin phản hồi
Học sinh khuyết tật ngôn ngữ là học sinh có biểu hiện thiếu hụt hoặc mất ít
nhiều những yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (so với ngôn ngữ chuẩn) dẫn đến
trong học tập và giao tiếp hàng ngày các em gặp khó khăn cần trợ giúp.
Ngôn ngữ chuẩn ở đây được xem xét mở rộng hơn. Đó là ngôn ngữ được
mọi người trong môi trường ngôn ngữ ấy thừa nhận, kể cả phương ngữ (ngôn
ngữ địa phương, tiếng miền nam, miền bắc, miền trung…).
Mọi ngôn ngữ, đều được tạo bởi ba yếu tố: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
nhưng ở học sinh khuyết tật ngôn ngữ lại có thể thiếu vắng hoặc mất một phần
hay toàn phần nào đó của những yếu tố này. Ví dụ: các em nói “con chào cô ạ”
thành “on ào ô ạ”, hoặc các em chỉ nói được từ đơn, câu ngắn hay câu thiếu từ,
hoặc có em khi nói cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ mà không sao chuyển
và phục vụ vẫn bình thường.
10
1.2. Nhiệm vụ 2: Nhận biết học sinh khuyết tật ngôn ngữ
1.2.1. Hoạt động 1: Cách nhận diện HS khuyết tật ngôn ngữ
1.2.1.1. Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Hãy trình bày về cách nhận diện nhận diện HS khuyết tật ngôn ngữ ở
trường, lớp của anh/chị.
- Giảng viên phân tích và kết luận.
1.2.1.2. Thông tin phản hồi
Cách nhận diện HS khuyết tật ngôn ngữ:
Nhà tâm lí giáo dục, bác sĩ, chuyên gia sửa tật/ trị liệu ngôn ngữ, giáo viên
đều là các lực lượng có thể nhận biết được các HS có khuyết tật ngôn ngữ. Mỗi
lực lượng có phương pháp nhận diện khác nhau phục vụ cho các mục đích sửa/
điều trị khác nhau của tật này. Mục đích của việc nhận biết HS khuyết tật ngôn
ngữ trong trường học nhằm phát hiện những khó khăn cụ thể của học sinh, xác
định nhu cầu cần hỗ trợ làm cơ sở cho việc lập hồ sơ kế hoạch giáo dục cá nhân
và xác định những biện pháp hỗ trợ cá biệt, trong và ngoài giờ lên lớp.
Có nhiều phương pháp đánh giá khác nhau để nhận biết HS khuyết tật ngôn
ngữ, song trong điều kiện Việt Nam hiện nay, có một số cách khá hiệu quả như sau:
1) Quan sát, phân tích hành vi giao tiếp, nói năng của HS trong và ngoài giờ học;
2) Nghiên cứu sản phẩm của HS (vở ghi, bài kiểm tra, bài thi, ...);
3) Nghiên cứu hồ sơ HS;
4) Đánh giá dựa trên chương trình giáo dục trong nhà trường (đặc biệt dựa trên
môn ngữ văn);
5) Trò chuyện, phỏng vấn trực tiếp HS; phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm, bạn bè
của HS.
1.2.2. Hoạt động 2: Những biểu hiện chung thường gặp ở HS khuyết tật ngôn
- Hay chêm xen các âm vô nghĩa như “ừm”, “à”…;
- Ngại nói trước lớp, khó khăn trong giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa hoặc
với người lớn.
Vấn đề học tập:
- Sự tập trung chú ý vào bài học kém;
- Hiếm khi hoàn thành hết bài tập;
- Ngại tham gia thảo luận trong nhóm, trong lớp;
12
- Khó khăn trong việc thu thập thông tin bài giảng hoặc thông tin từ sách vở;
- Khó theo các quy tắc chung của lớp học;
- Các bài kiểm tra (đặc biệt là bài kiểm tra môn ngữ văn) thường nhận điểm kém;
- Khó khăn trong việc giải thích vấn đề; nêu lí do hoặc thanh minh;
- Khó khăn trong việc làm việc độc lập;
Vấn đề hành vi:
- Động cơ học tập ít;
- Hay tỏ ra tức giận, thất vọng;
- Hay nghỉ học, trốn học;
- Tham gia các hoạt động tập thể một cách miễn cưỡng, thụ động;
- Có vấn đề về xây dựng và duy trì tình bạn.
b. Những biểu hiện cụ thể của HS khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học
Những khó khăn về lời nói thường gặp ở HSTH:
- HS nói ngọng: có thể nhận biết học sinh nói ngọng qua quan sát hành vi giao
tiếp, nói năng; qua quan sát đặc điểm cơ quan phát âm của HS. Việc quan sát,
phân tích cuối cùng phải xác định được HS phát âm sai bao nhiêu âm vị, là
những âm nào trong mỗi thành phần cấu tạo của âm tiết tiếng Việt gồm: 1) phụ
âm đầu; 2) âm đệm; 3) âm chính; 4) âm cuối; 5) và thanh điệu.
Lưu ý: HS phát âm theo tiếng địa phương nơi đang sống, dù có khác biệt
với chuẩn chính tả cũng không nên coi là nói ngọng; chỉ khi HS phát âm sai một
- Khó khăn về hình thức ngôn ngữ
+ HS khó khăn về ngữ âm – âm vị có thể được nhận diện thông qua việc
quan sát các hành vi nói năng và các hoạt động đọc, viết hàng ngày trên lớp.
Những đặc điểm về sự khó khăn mà trẻ gặp phải sau đây sẽ góp phần cho chúng
ta thấy trẻ gặp khó khăn trong việc nhận thức ngữ âm – âm vị:
+) Khó khăn trong việc đếm âm tiết hoặc nhịp từ;
+) Khó khăn trong việc xác định vần điệu;
+) Khó khăn trong việc xác định các thành phần cơ bản của âm tiết;
+) Khó khăn trong việc phân chia từ thành các thành phần nhỏ hơn;
+) Khó khăn trong việc phân biệt các âm dễ lẫn;
+) Khó khăn trong việc học tương ứng chữ - âm;
14
+) Khó khăn trong kĩ năng giải mã (kĩ năng đọc);
+ Khó khăn về cú pháp/ ngữ pháp: thông qua trò chuyện hoặc quan sát
cuộc nói chuyện của HS khó khăn về cú pháp, có thể thấy HS này thường có
biểu hiện là tỏ ra khó hiểu khi nghe người khác nói câu dài với cấu trúc phức
tạp, câu có nhiều mệnh đề, nhiều thành phần câu mở rộng; hoặc lảng tránh,
không muốn duy trì cuộc nói chuyện. Khi biểu đạt, các thông tin mà một HS khó
khăn về cú pháp đưa ra sẽ có phần rời rạc, thiếu tính liên kết về mặt hình thức
của phát ngôn. Nghiên cứu sản phẩm của HS có thể nhận thấy cách viết không
trau chuốt, thiếu thành phần câu thậm chí là thiếu thành phần chính của câu hoặc
không biết mở rộng thành phần câu. Có trường hợp HS gặp khó khăn trong việc
sắp xếp trật tự các từ trong câu, … Các bài kiểm tra về ngữ pháp theo chương
trình học thường nhận điểm kém.
- Khó khăn về nội dung ngôn ngữ (khó khăn về khía cạnh từ vựng, ngữ nghĩa):
giáo viên có thể dùng kết hợp các phương pháp nêu trên để nhận diện HS có khó
khăn về nội dung ngôn ngữ. Biểu hiện của khó khăn này là HS có vốn từ vựng
nghèo nàn, hay gặp các lỗi về từ vựng, ngữ nghĩa như: lặp từ, lẫn lộn các từ gần
- HS khó khăn về viết: Học sinh khó khăn về viết về cơ bản không có sự chậm
trễ về trí tuệ nhưng trong việc lĩnh hội và vận dụng năng lực viết (kỹ năng viết
tay) có những khó khăn đặc thù biểu hiện ở những dạng khác nhau bao gồm:
viết những chữ rất khó đọc, không theo kịp tốc độ viết chung, độ trôi chảy, độ
chuẩn xác của chữ kém hơn so với các bạn cùng độ tuổi, đặc biệt là qua kỹ năng
chính tả (bao gồm viết từ trí nhớ - nhớ viết, viết từ kênh thị giác – nhìn viết, viết
từ kênh thính giác – nghe viết). Học sinh khó khăn về viết có hiểu biết về thao
tác, hành động về kỹ năng viết nhưng chưa đảm bảo được mục đích về chất và
lượng của chữ viết.
1.3. Nhiệm vụ 3: Đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học
1.3.1. Hoạt động: Tìm hiểu đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ bậc
tiểu học
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Học sinh khuyết tật ngôn ngữ có những đặc điểm đặc thù gì khác so với
học sinh bình thường?
- Giảng viên phân tích và kết luận
16
1.3.2. Thông tin phản hồi
Ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ với các quá trình tâm lý. Khuyết tật ngôn
ngữ sẽ làm cho các quá trình tâm lý ảnh hưởng, thậm chí bị thay đổi. Trước hết
là sự thay đổi trong tri giác ngôn ngữ. Khi có khuyết tật ngôn ngữ, học sinh
thường gặp khó khăn trong tri giác giá trị ngữ nghĩa. Sự sai lệch trong tri giác
ngữ âm sẽ dẫn đến những sai lệch trong cách hiểu ngữ nghĩa. Hiểu sai ngữ nghĩa
sẽ hình thành những biểu tượng sai lệch trong mối liên hệ giữa âm thanh và ý
nghĩa khái niệm. Sự sai lệch về ý nghĩa khái niệm trong sự tương ứng với ngôn
ngữ sẽ làm sai lệch quá trình tư duy của học sinh. Nói cách khác, sự sai lệch
trong tri giác âm thanh cũng có nghĩa là sai lệch trong tiếp nhận thông tin, đây là
nguyên nhân tạo ra những phản ứng không phù hợp trước những kích thích ngôn
- Kiến thức
+ Trình bày mục đích, nội dung và phương pháp điều chỉnh trong dạy học
hòa nhập HS KTNN.
+ Mô tả được một số kĩ thuật hỗ trợ HS KTNN trong lớp học hòa nhập
+ Phân tích và đưa ra được những điều chỉnh trong đánh giá kết quả học
tập HS KTNN trong dạy học hoà nhập HSKT.
- Kĩ năng
+ Lựa chọn nội dung và phương pháp điều chỉnh phù hợp cho HS KTNN
+ Thực hiện được một số kĩ thuật hỗ trợ HS KTNN trong lớp học hòa nhập
+ Áp dụng được một số cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
HS KTNN
- Thái độ: Có ý thức tìm kiếm các cách thức hỗ trợ và dạy học phù hợp để
phát triển tối đa các khả năng của cả lớp và HS KTNN trong lớp mình.
Nội dung:
2.1. Nhiệm vụ 1: Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập học sinh KTNN
2.1.1. Hoạt động 1: Tìm hiểu về mục đích và nội dung điều chỉnh trong dạy
học hoà nhập HS KTNN
2.1.1.1. Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Vì sao cần điều chỉnh trong dạy học hòa nhập cho HS KTNN?
+ Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập cho HS KTNN bao gồm những nội
dung gì?
- Giảng viên phân tích và kết luận
2.1.1.2. Thông tin phản hồi
Hòa nhập không chỉ đơn thuần là việc đưa HS KTNN vào trong các môi
trường học tập có trẻ bình thường. Sự tham gia tích cực của HS KTNN vào các
19
hoạt động học tập được xem là một trong các yếu tố đảm bảo thực hiện thành
Giáo viên cũng cần khuyến khích, động viên HS KTNN học tập bằng
nhiều hình thức khác nhau như lời nói, cử chỉ, điệu bộ, hoặc cho phép HS lựa
chọn hình thức động viên…
- Hình thức tổ chức dạy học
Tăng cường các hoạt động dạy học theo nhóm để HS KTNN có nhiều cơ
hội nhận được sự hỗ trợ của giáo viên và các bạn trong lớp.
- Thời gian
+ Tăng giảm thêm thời gian cho các nhiệm vụ mà HS cần nhiều thời gian hơn
+ Thay đổi các hoạt động để HS không nhàm chán, đặc biệt với các hoạt
động mà HS cần nghe nói nhiều.
+ Nghỉ giải lao sau mỗi hoạt động
+ Giao các bài tập để HS về nhà chuẩn bị trước
- Môi trường trong lớp học
+ Có chỗ ngồi ưu tiên cho HS KTNN để HS dễ theo dõi bài giảng và giáo
viên dễ hỗ trợ các em.
+ Làm giảm thiểu các tác động bên ngoài gây mất tập trung như: ánh sáng,
tiếng ồn...
+ Những vấn đề khác
- Kiểm tra, đánh giá
+ Kiểm tra bằng nhiều hình thức: Kiểm tra nói, viết, xem tranh ảnh
+ Đọc bài kiểm tra cho HS KTNN nếu cần
+ Thay đổi cách đặt câu hỏi kiểm tra, cách diễn đạt yêu cầu trong bài kiểm
tra để đảm bảo chắc chắn HS KTNN có thể hiểu được.
+ Kiểm tra từng bài ngắn
+ Tăng thêm thời gian làm bài cho HS KTNN nếu có thể.
- Tài liệu và học liệu
+ Sử dụng thêm tài liệu bổ trợ hoặc tài liệu cần điều chỉnh để phù hợp với
khả năng của HS KTNN
+ Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc ghi chép