Đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích khả năng cạnh tranh của công ty TNHH may gia nguyễn trên địa bàn các tỉnh miền bắc - Pdf 39

LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, toàn cầu hóa là một xu hướng nổi trội và đã trở thành môi trường diễn ra
các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới. Những nước và
những tổ chức kinh tế yếu thế thường thích ứng bị động. Trong khi đó, những nước và
những tổ chức có tiềm lực và thế lực mạnh lại coi nó là cơ hội tạo đà phát triển. Cho dù
vậy, toàn cầu hóa vẫn đã, đang và sẽ diễn ra, chi phối dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ
khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội của hầu hết các nước, đặc biệt là các
tổ chức kinh tế trong từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
Cuối năm 2006, để gia nhập WTO, chính phủ Việt Nam ký kết nhiều văn bản với nội
dung mở cửa thị trường, đa phương hoá thương mại đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam
phải bước vào cuộc chạy đua với thử thách và rủi ro. Việc tìm kiếm cơ hội đối với các
doanh nghiệp đã trở thành bài toán vô cùng nan giải. Xu hướng toàn cầu hoá, khủng
hoảng, lạm phát gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp cả về vốn, công nghệ, nhân
lực. Nhìn một cách khách quan, có thể nói hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Việt Nam nói chung còn khá yếu, thể hiện trên nhiều mặt như: chất lượng hoàng hóa
chưa cao, chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu và đòi hỏi của thị trường trong nước, khả năng
thâm nhập thị trường khu vực và thế giới còn hạn chế.
Câu hỏi đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp là: phải xoay xở và ứng biến như thế nào
để vượt qua được thử thách? Câu hỏi có lẽ không chỉ khó trả lời đối với các doanh
nghiệp nhỏ vì họ không có lợi thế về quy mô để giảm chi phí và tăng lợi nhuận mà ngay
cả những công ty, tập đoàn có thế mạnh cũng đang đi tìm đáp án. Miếng bánh thị trường
không còn nằm trong tay của 1 đơn vị, một tổ chức nào cả và các doanh nghiệp lại càng
không thể cấm các doanh nghiệp khác cùng tham gia vào thị trường đó. Vậy họ sẽ phải
làm gì để tồn tại và phát triển trong khi mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt?
Bên cạnh đó, dễ dàng nhận thấy may mặc đang là ngành thế mạnh của các doanh
nghiệp Việt Nam và nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu. Càng
ngày càng có nhiều hơn các đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia vào thị trường này
khiến cho mức độ cạnh tranh trong nước trở nên gay gắt. Các công ty lớn, đã tạo dựng
thương hiệu thì tiếp tục khai thác thị trường, củng cố thêm thương hiệu của mình và
giành giật lại thị phần trong nước còn bỏ ngỏ. Các công ty mới gia nhập thị trường thì tập

trong phạm vi khá lớn là các doanh nghiệp Việt Nam nên chưa chỉ ra loại trò chơi nào thì
ứng dụng cho quản lý nhân sự ở loại hình doanh nghiệp nào bởi nền kinh tế Việt Nam là
tổng hòa của rất nhiều loại hình doanh nghiệp cũng như mô hình các công ty lớn nhỏ
khác nhau nên cách thức quản lý nhân sự cũng khác nhau.
Cùng nghiên cứu về LTTC nhưng vận dụng để phân tích quyết định của hãng taxi
Mai Linh, tác giả Phạm Thu Hà (2011) đã nghiên cứu sâu sát về lý thuyết trò chơi cùng
với các ứng dụng của nó thông qua việc lập các ma trận lợi ích của 2 hãng taxi Mai Linh
và Vạn Xuân để từ đó tìm ra các thế mạnh của Mai Linh trong cuộc cạnh tranh về giá
giữa 2 hãng và từ thế mạnh đó, hãng có thể quyết định chiến lược giá của mình trước mọi
hành động của Vạn Xuân. LTTC là một lý thuyết khó, các mô hình xây dựng trên một
loạt những hàm định tính nhưng đề tài đã ứng dụng được nó trong việc ra quyết định về
giá để tạo thế cạnh tranh so với đối thủ. Tiếp cận LTTC, tìm ra thế cân bằng Nash, tác giả
2


đã tiếp cận LTTC thông qua 3 mô hình: Cournot, Stackelberg, Bertrand để vận dụng linh
hoạt trong thực tiễn nhưng đề tài còn một số hạn chế như chưa vận dụng LTTC vào chiến
lược giá và quảng cáo bởi đây là 2 chiến lược quan trọng để nâng cao vị thế cạnh tranh
cho hãng. Giảm giá không phải là chiến lược luôn đúng vì nó còn phụ thuộc vào chi phí.
Chính bởi vậy mà cần có nhiều hơn chiến lược giá để nâng cao năng lực cạnh tranh cho
hãng. Đó là những ưu điểm và nhược điểm của đề tài “Vận dụng mô hình lý thuyết trò
chơi để phân tích quyết định quản lý của hãng taxi Mai Linh trong thị trường độc quyền
nhóm taxi và một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hãng trên địa bàn
Hà Nội”.
Rõ ràng nhận thấy LTTC là một lý thuyết có tính ứng dụng cao và đã có một số công
trình nghiên cứu tính ứng dụng rộng rãi của nó trong thực tiễn. Điển hình cuốn sách“ Một
số ứng dụng của lý thuyết trò chơi” do tác giả Nguyễn Văn Hoàng tổng hợp từ cuốn “
Kinh tế học vi mô”, chủ biên Robert S.Pindyck và Daniel L. Rubinfeld, Nhà xuất bản
khoa học kỹ thuật (2010) đã không chỉ cho người đọc thấy được các mô hình trò chơi
trong lý thuyết mà còn có cả những ứng dụng điển hình mà một số hãng nổi tiếng trên thế

nghiên cứu về “Ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích khả năng cạnh tranh của
công ty TNHH may Gia Nguyễn trên địa bàn các tỉnh miền Bắc”. Tác giả xử lý các số
liệu thứ cấp thu thập trong quá trình thực tập tại công ty, sau đó đi sâu vào phân tích cụ
thể, đồng thời sử dụng phần mềm Eviews để ước lượng các số liệu và các ma trận doanh
thu trong từng chiến lược. Từ đó đưa ra các giải pháp để có thẻ ứng dụng LTTC một cách
tốt nhất trong hoạt động của công ty.
3. XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ ĐỀ TÀI
Nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trong chiến lược phát triển lâu dài, chắc chắn mỗi doanh nghiệp phải tự định hướng cho
mình những kế hoạch cụ thể. Song, mỗi chiến lược cần phải dựa trên những cách tiếp cận
đúng đắn, hợp lý và mang tính thời sự cao trong bối cảnh nền kinh tế luôn biến động.
Chính bởi vậy, thông qua lý thuyết trò chơi, đã có rất nhiều doanh nghiệp tìm ra hướng
phát triển đúng đắn nên rất có thể, trong kinh doanh, cần ứng dụng nhiều hơn nữa lý
thuyết trò chơi để có thể tạo bước đột phá cho doanh nghiệp và công ty TNHH may Gia
Nguyễn cũng không phải ngoại lệ. Việc ứng dụng LTTC sẽ giúp công ty trả lời được các
câu hỏi: Có nên giảm giá mặt hàng may gia công trước mọi hành động của đối thủ khác
hay không? Nếu công ty bạn có chiến lược gia tăng số lượng sản phẩm và quảng cáo thì
công ty Gia Nguyễn sễ phải làm gì? Đâu là thế mạnh của công ty và làm thế nào để tăng
sức cạnh tranh hơn nữa so với đối thủ?
Công ty TNHH may Gia Nguyễn xét trên địa bàn tỉnh Thái Bình là một trong số
những doanh nghiệp tiêu biểu, đi đầu trong lĩnh vực may mặc. Với mong muốn vươn xa
hơn trên thị trường miền Bắc, công ty đang nỗ lực không ngừng và trong những năm qua
đã khẳng định uy tín của mình đối với các đối tác trong và ngoài nước. Chính bởi vậy,
nếu ứng dụng các mô hình trò chơi vào trong hoạt động kinh doanh của mình, công ty sẽ
tìm ra các lợi thế để từ đó có những quyết định đúng đắn lựa chọn chiến lược cạnh tranh
phù hợp.
Bên cạnh sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các công ty, xí nghiệp may với nhiều dịch
vụ, giá cả khác nhau để cạnh tranh nhau trên thị trường, chắc chắn cần phải nghiên cứu
tìm hiểu doanh nghiệp may Gia Nguyễn đã sử dụng các công cụ kinh tế vào việc đưa ra
4

 Các lý luận về lý thuyết trò chơi và các ứng dụng của nó trong hoạt động
sản xuất và kinh doanh.
 Cách thức ứng dụng các trò chơi đó đối với công ty TNHH may Gia
Nguyễn
 Các quyết định của công ty
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5




Phương pháp thu thập dữ liệu
Sau khi xác định được vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập dữ
liệu để phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá. Theo nguồn thu thập dữ liệu thì dữ liệu
được thu thập từ hai nguồn chính là dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp.Với đề tài về ứng
dụng lý thuyết trò chơi, dữ liệu tác giả sử dụng trong bài chủ yếu là nguồn dữ liệu thứ
cấp. Các dữ liệu đó là dữ liệu về doanh thu, lợi nhuận, chi phí, giá cả và số lượng hàng
hóa trong từng quý từ năm 2009 đến 2011 của công ty thông qua bảng cân đối kế toán,
bản báo cáo tài chính thường niên. Việc thu thập những dữ liệu này nhằm phục vụ cho
quá trình phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty dựa trên 3 mặt giá cả, sản
lượng và quảng cáo thông qua các ma trận về doanh thu mà tác giả xây dựng.

Phương pháp phân tích số liệu
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu:
Phương pháp thống kê: Xử lý các số liệu đã thu thập được thành 1 bảng thống kê
theo các quý để so sánh, phân tích.
Phương pháp biểu đồ, đồ thị: Là phương pháp sử dụng con số kết hợp với các hình
vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm số lượng của hiện tượng. Sử dụng
phương pháp này có nhiều ưu điểm như giúp người đọc nhận thức được những đặc điểm
cơ bản của hiện tượng bằng trực quan một cách dễ dàng và nhanh chóng; giúp người xem

tranh cho công ty

7


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ ỨNG DỤNG LÝ
THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG KINH DOANH
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI
1.1.1. Thị trường độc quyền nhóm
Độc quyền nhóm là một loại độc quyền mà trong đó chỉ có một vài người bán
cung ứng hầu hết hay toàn bộ mức cung của thị trường. Thị trường độc quyền nhóm có
các đặc trưng như sau:
 Một số ít các hãng cung ứng phần lớn hoặc toàn bộ sản lượng của thị trường.
 Sản phẩm hàng hóa có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất.
 Có các rào cản lớn về việc gia nhập vào thị trường.
 Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các hãng là rất lớn.
Do thị trường độc quyền nhóm chỉ có một số ít các hãng nên sản lượng của mỗi
hãng chiếm một thị phần lớn trên thị trường. Do điều này, quyết định giá cả và sản
lượng của mỗi hãng có tác động đáng kể lên lợi nhuận của các hãng khác. Thêm vào
đó, khi ra quyết định liên quan tới giá cả hoặc sản lượng, mỗi hãng phải tính tới phản
ứng của các đối thủ. Do sự phụ thuộc lẫn nhau này, các công ty độc quyền nhóm phải
có các hành vi chiến lược. Hành vi chiến lược xảy ra khi kết quả tốt nhất cho một bên
được quyết định bởi hành động của các bên khác.
1.1.2. Lý thuyết trò chơi
Lý thuyết trò chơi là một nhánh của toán học ứng dụng thường được sử dụng
trong phân tích kinh tế. Ngày nay Lý thuyết trò chơi được sử dụng trong nhiều ngành
khoa học, từ Sinh học tới Triết học.. Do mang tính thực tiễn cao, Lý thuyết trò chơi ngày
nay được rất nhiều sự quan tâm, theo đó, chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề của cuộc
sống như đang tham gia một trò chơi.
Lý thuyết trò chơi sử dụng các mô hình để nghiên cứu các tình huống chiến thuật,

là vấn đề cơ bản trong ứng dụng thực tế, vì chiến lược hỗn hợp của mỗi người chơi là
không được biết hoàn toàn, nhưng phải dựa vào tỉ lệ phân phối xác suất của người
chơi.Trong trường hợp cân bằng không bền rất có thể xảy ra trong thực tế, vì mỗi thay
đổi nhỏ trong tỷ lệ của mỗi chiến lược sẽ dẫn đến thay đổi cả chiến lược và phá vỡ cân
bằng.
 Cân bằng Cournot và cân bằng Strackelberg chính là cân bằng Nash
 Các điều kiện đủ để đảm bảo cân bằng Nash xảy ra:
Khi trò chơi có cân bằng Nash duy nhất và được chơi dưới những điều kiện nhất định,
thì chiến lược cân bằng sẽ được thực hiện. Các điều kiện đủ để đảm bảo cân bằng Nash
xảy ra là:
- Mọi người chơi đều mong muốn tối đa hóa kết quả của mình trong trò chơi.
- Mọi người chơi đều thực hành chiến lược 1 cách hoàn hảo.
- Mọi người chơi có đủ khả năng để tìm ra giải pháp.
- Mọi người chơi đều biết chiến lược cân bằng của người chơi khác.
- Mọi người chơi tin rằng việc thay đổi chiến lược sẽ không làm thay đổi chiến lược
của người khác.
- Tồn tại một suy nghĩ chung rằng mọi người chơi đều đảm bảo các điều kiện trên,
bao gồm cả điều kiện này. Do đó, mỗi người chơi không chỉ biết người chơi khác đủ
điều kiện, mà họ còn phải biết mọi người chơi khác đều biết họ đủ điều kiện, và biết
rằng mọi người chơi biết được toàn bộ người chơi có đủ điều kiện.
9


1.2. MỘT SỐ MÔ HÌNH CHIẾN LƯỢC TRÒ CHƠI VÀ CÁCH THỨC RA
QUYẾT ĐỊNH
1.2.1. Một số mô hình
1.2.1.1.

Mô hình Cournot



a−c
a − bQ1 − c
=
.
3b
2b

= (a - b

a−c

2

- c) 3b =

Ý nghĩa mô hình : Mô hình Courtnot phù hợp để ứng dụng vào chiến lược sản phẩm. Cụ
thể : lựa chọn mức sản lượng trong điều kiện cả hai hãng đều có thông tin hoàn hảo về
nhau và không hãng nào có có lợi thế hành động hay lãnh đạo hãng còn lại. Nói cách
khác, đây là mô hình phù hợp cho việc lựa chọn mức sản lượng tốt nhất khi hai hãng ra
quyết định đồng thời.
1.2.1.2.

Mô hình Stackelberg

Hai hãng 1 và 2 cùng quyết định lựa chọn sản lượng để sản xuất các sản phẩm đồng nhất.
Hai hãng hoạt động độc lập và thông tin thị trường là hoàn hảo.
10



− c〉
=
.
4
4b
16b

Ý nghĩa mô hình : Mô hình được ứng dụng trong chiến lược sản phẩm. Cụ thể, đó là việc
ra quyết định lựa chọn sản lượng khi một trong hai hãng có lợi thế hơn và ra quyết định
trước đối thủ.
1.2.1.3.

Mô hình Bertrand

• Là mô hình độc quyền nhóm trong đó các hãng cạnh tranh nhau về giá cả
• Có ba trường hợp:
- Sản phẩm đồng nhất
- Sản phẩm khác biệt –quyết định đồng thời
- Sản phẩm khác biệt –một hãng quyết định trước, hãng kia theo sau
 Sản phẩm đồng nhất
 Giả sử có hai hãng 1 và 2 trong một ngành cùng sản xuất một loại sản phẩm
đồng nhất .
 Hai hãng có mức chi phí cận biên như nhau là c và đều không có chi phí cố định.
 Mỗi hãng coi giá của hãng đối thủ là cố định và ra quyết định đặt giá đồng thời.
 Hàm cầu thị trường là P = a – bQ
 Khi các hãng giả định rằng giá của hãng khác là cố định, mỗi hãng sẽ cố gắng đặt
giá thấp hơn so với giá của đối thủ (để có được toàn bộ thị trường)
 Cân bằng của thị trường đạt được khi cả hai hãng đều đặt gúa bằng chi phí biên
P = MC = c
Cả hai hãng đều thu được lợi nhuận kinh tế bằng 0

Cân bằng Nash

P2

Hình 1.1: Vị trí điểm cân bằng Nash
Ý nghĩa: Điểm cân bằng Nash chỉ ra điểm mà tại đó, sự lựa chọn mức giá đồng thời
của 2 hãng là tốt nhất, lợi nhuận của 2 hãng thu về là lớn nhất.
Sản phẩm khác biệt – quyết định giá không đồng thời
 Giả sử có một thị trường với hai hãng cạnh tranh về giá cả. Mức giá của hai hãng
tương ứng là P1 và P2 . Phương trình đường cầu cho mỗi hãng là:
Q1 = a − P1 + bP2
Q2 = a − P2 + bP1

với b ≥ 0
 Chi phí cận biên cho mỗi hãng là cố định và đều bằng c.
 Hãng 1 quyết định về giá trước, sau đó hãng 2 căn cứ vào mức giá của hãng 1 để
đưa ra quyết định về giá cho hãng.
 Hàm lợi nhuận của mỗi hãng là:
12


π 1 = PQ
1 1 − cQ1 = P1 ( a − P1 + bP2 ) − c ( a − P1 + bP2 )

π 2 = P2Q2 − cQ2 = P2 ( a − P2 + bP1 ) − c ( a − P2 + bP1 )

 Áp dụng điều kiện tối đa hoá lợi nhuận đối với hãng 2:
π 2' ( P ) = a − 2 P2 + bP1 + c = 0
2



P =
*
2

a ( 2 − b 2 ) + b ( 2a + ab + bc + 2c + cb 2 ) + c ( 2 − b 2 )
2 ( 2 − b2 )

.

Ý nghĩa: Mô hình phù hợp ứng dụng trong chiến lược giá cả. Cụ thể, đối với mỗi loại sản
phẩm đồng nhất và khác biệt, người chơi lại có các lựa chọn mức giá khác nhau để đảm
bảo lợi ích của mình trước những hành động lựa chọn mức giá của đối thủ.
1.2.2. Cách thức ra quyết định
1.2.2.1.

Các đối thủ quyết định đồng thời

Quyết định đồng thời xảy ra trong thị trường độc quyền nhóm khi các nhà quản lý
phải đưa ra những quyết định cá nhân mà không biết gì về quyết định của các đối thủ
cạnh tranh. Điều này không nhất thiết phải xảy ra cùng một thời điểm.
Ví dụ: Chúng ta sẽ xét đến quyết định đồng thời của hai người tù trong bài toán
quen thuộc và nổi tiếng "tình thế lưỡng nan của những người tù":
Có 2 phạm nhân là đồng bọn với nhau khi được bắt bị giam riêng biệt. Và có án
phạt tù như sau: nếu cả 2 thú tội thì cả 2 chỉ bị giam trong 8 tháng. Nhưng nếu chỉ 1 trong
2 người không thú tội thì người thú tội sẽ bị giam 15 tháng, người thú tội sẽ được thả ra.
Và trường hợp còn lại nếu cả 2 đều không thú tội thì sau 1 tháng cả 2 sẽ được thả ra.
Các phương án lựa chọn: sẽ được khái quát qua bảng sau:
Người tù 2
Thú tội

• Chiến lược ưu thế
Chiến lược ưu thế là một chiến lược hoặc hành động mang lại kết cục tốt nhất dù cho các
đối thủ có quyết định làm gì đi chăng nữa. Khi tồn tại chiến lược ưu thế, một người quyết
định có lý trí luôn áp dụng chiến lược ưu thế. Dự đoán rằng nếu các đối thủ của mình
cũng có các chiến lược ưu thế thì họ cũng áp dụng các chiến lược ưu thế đó. Trạng thái
cân bằng chiến lược ưu thế tồn tại khi tất cả người ra quyết định đều có chiến lược ưu
thế.
Các quyết định với một chiến lược ưu thế: Khi một hãng không có chiến lược ưu thế
nhưng ít nhất một trong các đối thủ có chiến lược ưu thế:
 Dự đoán rằng đối thủ sẽ thực hiện chiến lược ưu thế của mình.
 Khi biết hành động của đối thủ, hãng có thể chọn chiến lược tốt nhất cho mình.
• Chiến lược bị lấn át
Chiến lược bị lấn át: là chiến lược sẽ không bao giờ được lựa chọn vì luôn có một chiến
lược tốt hơn chúng.
Sự loại trừ liên tiếp các chiến lược bị lấn áp: một tiến trình ra quyết định lặp đi lặp lại
trong đó các chiến lược bị lấn át giảm thiểu để tạo ra một bảng lợi ích rút gọn với ít quyết
định hơn cho các nhà quản lý xem xét.
14


1.2.2.2.
Các đối thủ quyết định tuần tự
Quyết định tuần tự: Một hãng ra quyết định rồi đến đối thủ của nó ra quyết định khi đã
biết được hành động mà hãng thứ nhất thực hiện.
Quyết định tốt nhất mà một nhà quản lý có thể đưa ra ngày hôm nay phụ thuộc vào đối
thủ của anh ta sẽ phản ứng như thế nào vào ngày mai.
Ví dụ: Phân tích trò chơi tuần tự của Hãng A và hãng B. Trong đó, Hãng A là hãng
chiếm ưu thế, hãng B quan sát hãng A và ra quyết định.
Hãng A
Đầu tư


(-50; -50)

(0; 100)

(0; 100)

Hãng B
Đe dọa
Bảng 1.3: Ma trận khi quyết định tuần từ việc gia nhập thị trường
15


Nếu hãng B quyết định trước có gia nhập hay không. Để quyết định hãng B phải xem
phản ứng của hãng A như thế nào. Nếu hãng B gia nhập, hành động tốt nhất của hãng A
là không phản ứng. Như vậy quyết định tốt nhất là hãng B gia nhập và hãng A không
phản ứng.
1.3. MỘT SỐ ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG KINH DOANH
1.3.1. Chiến lược giá
Để bảo vệ thị phần của mình, các hãng sẽ hạ giá bán nhiều hơn nữa. Khi cuộc chiến tranh
giá thực sự xảy ra sẽ gây ra những hậu quả là:
Thứ nhất: Các doanh nghiệp yếu thế có chi phí sản xuất cao sẽ bị phá sản, bị loại
ra khỏi ngành.
Thứ hai: Các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực tài chính cũng bị thua lỗ và nếu kéo
dài có thể cũng bị phá sản. Do đó, để tồn tại các doanh nghiệp còn lại cuối cùng phải thỏa
hiệp, cấu kết với nhau công khai hay ngấm ngầm.
Đối với chiến lược này, áp dụng mô hình Bertrand là phù hợp.
1.3.2. Chiến lược lựa chọn sản lượng
Sự cạnh tranh về sản lượng xảy ra khi các hãng sản xuất những sản phẩm đồng
nhất và đều biết về đường cầu thị trường. Qua đó các hãng sẽ phải ra quyết định về sản

mục tiêu sẽ xẩy ra đồng thời với các quá trình cạnh tranh về giá cả hay sản lượng. Nó là
các cách tiếp cận thị trường, tiếp cận khách hàng của mỗi người chơi ứng với một loạt
các hành động để quảng bá sản phẩm của mình trước những hành động tương tự của đối
thủ.
Đây được coi là chuỗi hành động không căn cứ sản phẩm có đồng nhất hay không
đồng nhất hoặc sản lượng đối thủ tung ra thị trường mà nó mang tính hỗ trợ, thúc đẩy cho
doanh nghiệp đạt vị thế cạnh tranh hơn trên thị trường, xác định được phân đoạn thị
trường mục tiêu cho từng loại sản phẩm của mình trước sự cạnh tranh với đối thủ.
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG PHÂN TÍCH NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY MAY GIA NGUYỄN
2.1. TỔNG QUAN CÔNG TY VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
2.1.1. Tổng quan về công ty TNHH may Gia Nguyễn
2.1.1.1. Giới thiệu chung về công ty TNHH may Gia Nguyễn
Tên công ty: Công ty TNHH may Gia Nguyễn
Tên viết tắt: Gia Nguyen Co.Ltd
Địa chỉ: Thôn Bái Thượng - xã Thụy Phúc – huyện Thái Thụy – tỉnh Thái Bình
17


Điện thoại: 036.375.2353
Email:
Tiền thân của công ty TNHH may Gia Nguyễn là một xưởng may được thành lập
vào năm 2000 tại xã Thụy Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình với nhiệm vụ chính là
thực hiện các hợp đồng may mặc trong phạm vi các tỉnh phía Bắc. Hơn 4 năm hoạt động,
xưởng may ngày càng mở rộng và phát triển tới năm 2004 thì chính thức đổi tên thành
công ty TNHH may Gia Nguyễn. Cho tới nay, công ty là một trong những đơn vị kinh
doanh tiêu biểu của tỉnh trong lĩnh vực hàng may mặc, hằng năm góp phần không nhỏ
vào ngân sách của tỉnh cũng như tạo nguồn thu nhập đáng kể cho lượng cán bộ và công
nhân trong công ty.

Tuy nhiên, hiện nay, doanh nghiệp đang tập trung chú trọng vào nhiệm vụ may gia công
và sản xuất, kinh doanh quần áo may mặc xuất khẩu và phục vụ nhu cầu nội địa.
b, Nhiệm vụ
 Công ty thực hiện các nghĩa vụ về thuế, bảo hiểm, an toàn, vệ sinh lao động, bảo
vệ môi trường, các nghĩa vụ công đoàn, nghĩa vụ khác. Đồng thời công ty phải nỗ
lực hết mình, đóng góp vào sự phát triển và hội nhập của đất nước.
 Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên và toàn xã hội,
góp phần ổn định an ninh – chính trị - xã hội.

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh của công ty
2.1.2.1. Tác động của những biến động kinh tế chung
a, Sự kiện gia nhập WTO
Tham gia sân chơi toàn cầu này, ngành may sẽ bị cắt giảm, dần tiến tới bỏ các
khoản trợ cấp như ưu đãi tín dụng, ưu đãi đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư tức là chịu sự
cạnh tranh gay gắt. Nhưng ngược lại, nó giúp doanh nghiệp giảm chi phí xuất khẩu sang
thị trường Mỹ và EU còn khoảng 7,1% tổng chi phí. Những thuận lợi đó cùng với việc
Trung Quốc đang giảm thị phần ngành may đối với thị trường Hoa Kỳ làm cho các doanh
nghiệp may Việt Nam nói chung và may Gia Nguyễn nói riêng tăng sức cạnh tranh trên
thị trường quốc tế.
b, Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2009
Năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã làm cho một bộ phận các
nước trên thế giới lâm vào cảnh khó khăn trong đó có thị trường đến của doanh nghiệp
may Gia Nguyễn. Lượng đơn đặt hàng có tăng, song lượng tăng không đáng kể. Chủ yếu
các đơn đặt hàng là của bạn hàng lâu năm mà chưa có sự đột biến trong việc tìm kiếm
thị trường mới cho hàng may gia công xuất khẩu. Đó là lý do mức tăng sản lượng của
năm 2011 đối với hàng may gia công xuất khẩu là 1,61% và hàng quần áo may sẵn tiêu
thụ trong nước là 3,03%, thấp hơn rất nhiều đối với năm 2010.
c, Lạm phát
Sau cơn khủng hoảng, lạm phát bùng lên. Đây là vấn đề nổi cộm trong năm qua
với mức lạm phát có lúc đạt 18,6% khi giá tất cả các mặt hàng tăng vọt khiến chi phí sản

doanh nghiệp là sản xuất gia công xuất khẩu và quần áo may sẵn nên 2 mặt hàng này
chiếm chủ yếu trong doanh thu lợi nhuận mang lại cho công ty.
Từ các số liệu sơ cấp mà công ty cung cấp ( xem phụ lục 1), xét trên 2 loại mặt
hàng: hàng gia công trên thị trường EU và quần áo may sẵn ta có:
Bảng 2.1: Sự thay đổi số lượng hàng hóa của công ty may Gia Nguyễn
Đơn vị: nghìn chiếc
Chỉ tiêu

2009

Hàng gia công

2010

2011

2010 so với 2009

275.000 310.000

315.000

+35.000

2011 so với
2010
11,29% +5.000 1,58%

Quần áo may 125.000 165.000
sẵn

( Nguồn: theo số liệu phòng kinh doanh và theo tính toán của tác giả)
Nhìn vào biểu đố ta dễ dàng nhận thấy, cả 3 yếu tố đang xét là doanh thu, chi phí,
lợi nhuận đều có chiều hướng tăng nhưng tốc độ tăng qua các năm là không đồng đều. Cụ
thể hóa mức tăng và tốc độ tăng, ta xét:
Bảng 2.2: Sự thay đổi tỷ trọng của doanh thu, chi phí và lợi nhuận sau thuế:
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Doanh thu

10103

13974

14120

Chi phí

8138

12443

12490
21

triệu tăng 22,89% so với năm 2009.
 Năm 2011, lợi nhuận trước thuế là 1,12 tỷ, lợi nhuận sau thuế là 840 triệu, tăng
85,23% so với năm 2010.
Trong khi mức tăng doanh thu năm 2011 tăng ít hơn so với mức tăng doanh thu năm
2010 thì mức tăng lợi nhuận của năm 2011 lại tăng cao hơn so với mức tăng của năm
2010 rất nhiều. Nhận thấy sự thay đổi của chi phí:
 Năm 2010, chi phí sản xuất là 12,443 tỷ tăng 4305 triệu (52,9%) so với năm 2009.
 Năm 2011, chi phí sản xuất là 12,490 tỷ tăng 47 triệu (0,4%) so với năm 2010.
Như vậy so với năm 2010 thì mức tăng về doanh thu của năm 2011 có giảm nhưng
mức tăng lợi nhuận của năm 2011 lại tăng do có sự sụt giảm trong mức tăng của tổng chi
phí sản xuất. Sự thay đổi này chủ yếu là do năm 2010 có sự tăng quy mô do hai dây
chuyền sản xuất mới của công ty đặt mua năm 2009 chính thức đưa vào hoạt động và cho
đến 2012, công ty mới có thực hiện kế hoạch mở rộng quy mô lần nữa. Như vậy, với các
biến động của thị trường, tình hình kinh doanh của công ty vẫn giữ mức tăng nhưng
lượng tăng chưa đột phá và đạt yêu cầu trong năm qua.
2.2.2. Thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty
2.2.2.1. Giá cả
Xét thấy trước tình hình miếng bánh thị trường may đang ngày càng bị chia nhỏ khi
càng ngày có càng nhiều các công ty mới tham gia sản xuất. Tuy nhiên, cùng với Bình
Minh ATC, công ty TNHH may Gia Nguyễn đang là 2 công ty dẫn đầu trong lĩnh vực
may gia công xuất khẩu tại Thái Bình. Cho tới nay, hai công ty luôn có những cuộc chiến
về giá cả cũng như chất lượng sản phẩm để có thể giành cho mình càng nhiều hợp đồng
gia công hơn cũng như thâu tóm được nhiều thị trường đến của sản phẩm hơn so với đối
thủ.
Do đặc thù chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của đối tác nên khâu định giá luôn
được công ty Gia Nguyễn xem xét chi tiết để tạo thế mạnh cho chính mình. Gia Nhập thị
trường sau Bình Minh ATC, công ty phải xác định cho mình chiến lược giá đúng đắn để
22



Dựa trên các số liệu sơ cấp thu được, xét trên hai loại mặt hàng chính: hàng gia công
và quần áo may sẵn ( xem phụ lục 2 và 3), ta có sự so sánh về lượng giữa công ty TNHH
may Gia Nguyễn và công ty cổ phần may Bình Minh ATC ( đối thủ lớn nhất của Gia
Nguyễn trên địa bàn tỉnh Thái Bình).
Dễ dàng nhận thấy, về tổng thể, sản lượng của Bình Minh ATC cao hơn sản lượng
của may Gia Nguyễn trên cả hai mặt hàng chính là may gia công và hàng may sẵn. Điều
này có thể được lý giải bởi công ty Bình Minh ATC ra đời sớm hơn, có uy tín trước và có
cơ sở hạ tầng và quy mô lớn hơn. Song, bên cạnh đó, rõ ràng đây là bất lợi trong khả
23


năng cạnh tranh về sản lượng của công ty may Gia Nguyễn so với đối thủ. Nhận thấy
điều đó, công ty TNHH may Gia Nguyễn đã có kế hoạch đầu tư nhà xưởng, máy móc để
mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, việc tích cực tìm kiếm các đơn đặt hàng cũng được
coi là biện pháp để gia tăng sản lượng của công ty.
2.2.2.3. Khả năng tìm kiếm thị trường và quảng cáo
Đây được coi là mặt yếu của công ty do đặc thù sản xuất chủ yếu theo các đơn đặt
hàng của đối tác. Từ thực trạng sản xuất hiện nay, dễ dàng nhận thấy đa số các hợp đồng
mà công ty đang thực hiện là của các bạn hàng lâu năm như tập đoàn Ongood, Cheong
san trading, Woobo, Leizi, Viet Pancific… ở Trung Quốc, Đài Loan, EU. Hoa Kì và Nhật
Bản. Hằng năm, lượng hàng của đối tác mới có tăng nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
sản lượng hàng hóa.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, công ty chưa chú trọng tới khâu
quảng cáo, tìm kiếm thị trường mới nên khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực này còn rất
hạn chế. Ngay trong tỉnh Thái Bình, công ty TNHH may Gia Nguyễn cũng gặp phải 1 số
đối thủ lớn như công ty cổ phần may Bình Minh ATC, công ty TNHH may Thiên Phúc…
Đây là những doanh nghiệp có uy tín lâu năm và có khâu xúc tiến thị trường khá tốt. Đối
mặt với các đối thủ cạnh tranh này, xét thấy khả năng tìm kiếm thị trường mới và quảng
cáo của Gia Nguyễn còn yếu. Công ty chưa tiếp cận được các thị trường mới như châu
Phi, một số nước dễ tính khác mà mới chỉ dừng lại ở các thị trường quen thuộc.

tính theo đơn vị: vạn sản phẩm
 P1: Giá 1 đơn vị hàng may gia công của công ty TNHH may Gia Nguyễn được
tính theo đơn vị: nghìn đồng
 P2: Giá 1 đơn vị hàng may gia công của công ty cổ phần may Bình Minh ATC
được tính theo đơn vị: nghìn đồng
Sau khi chạy Eviews ta thu được kết quả sau:
Bảng 2.3: Kết quả Eviews của công ty may Gia Nguyễn

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả)
Thông qua bảng kết quả trên, ta có hàm cầu của công ty là:
Công ty TNHH may Gia Nguyễn:

Q1 = 5,196133 – 0,127535 P1 + 0,103277 P2
Ta thấy:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status