MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là
một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế
độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và
trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội mà tiểu luận
đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong
thời đại ngày nay.
Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế
giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mặc nhiên coi như đã được
khẳng định. Nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở
nhiều nước, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã
hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh
luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ dấn tới để xuyên
tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động,
nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan
rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ
nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chủ nghĩa xã hội là con
đường sai lầm, cần phải đi con đường khác. Có người phụ họa với các luận điệu
thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư
bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa MácLênin và con đường xã hội chủ nghĩa. Vậy vì sao Việt Nam lựa chọn con đường
xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Tiểu luận “Lý luận chủ nghĩa xã hội từ thực tiễn
cách mạng Tháng Mười Nga và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay” xin được luận
giải cơ sở lý luận, thực tiễn và mô hình xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây
dựng nhìn từ góc độ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
1
NỘI DUNG
vô sản là lực lượng lãnh đạo của chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo đó để đảm
2
bảo cho nền chuyên chính vô sản vững mạnh, hoàn thành được chức năng nhiệm
vụ của mình. VI.Lênin chỉ rằng: trong cuộc đấu tranh cho chuyên chính vô sản
và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần cho Đảng có đủ sức làm thầy, làm người dẫn
đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột.
Nếu không có Đảng lãnh đạo, thì giai cấp vô sản và nhân dân lao động không
thể lật đổ giai cấp tư sản, không thể giành được thắng lợi của cách mạng xã hội
chủ nghĩa, không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội
Mặt khác VI.Lênin cũng chỉ rõ nội dung của chuyên chính vô sản, nó bao
gồm hai mặt: chuyên chính và dân chủ. Đây là hai mặt đối lập gắn bó với nhau
cùng tồn tại chuyên chính để thực hiện, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ
xã hội xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử, nhưng không
phải dân chủ hoàn toàn mà phải thực hiện chuyên chính với thiểu số bọn bóc lột,
chống đối. Và sự chuyên chính này không thể nương nhẹ mà phải tiến hành cương
quyết, chừng nào còn những kẻ bóc lột, còn sự khác biệt giai cấp thì còn phải thực
hành chuyên chính.Theo VI.Lênin: “Thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô
sản một nền chuyên chính sẽ bẻ gẫy được sự phản kháng quyết liệt của các giai
cấp bóc lột bị gạt ra khỏi chính quyền”.
Tuy nhiên, trong chuyên chính vô sản cái bản chất nhất của nó chính là ở
mặt dân chủ, tất nhiên là dân chủ với nhân dân và sẽ tước bỏ dân chủ với bọn
bóc lột. Người khẳng định: “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp
bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, nghĩa là tước bỏ dân chủ đối với
bọn chúng”. Thêm nữa VI.Lênin còn vạch rõ chuyên chính vô sản là một nhà
nước kiểu mới, “nhà nước dân chủ kiểu mới (dân chủ với những người vô sản
và nói chung với những người không có của) và chuyên chính kiểu mới chống
lại giai cấp tư sản”.
Nói về hình thức chuyên chính vô sản: Qua đúc kết kinh nghiệm lịch sử,
chức xây dựng thành công xã hội mới. Đây mới là thực chất của chuyên chính
vô sản.
Với sự phát triển của VI.Lênin về chuyên chính vô sản gắn liền với học
thuyết về đấu tranh giai cấp. Nếu như từ những năm 1852, C.Mác đã khẳng định
rằng đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, thì đến khi giai cấp
công nhân và nhân dân lao động đã giành được chính quyền, thiết lập nền chuyên
chính vô sản của mình, VI.Lênin tiếp tục khẳng định: cuộc đấu tranh giai cấp
chưa chấm dứt mà diễn ra dưới hình thức mới, nội dung mới và điều kiện mới.
Trong đó tất yếu phải tăng cường sức mạnh của nhà nước chuyên chính vô sản để
trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột tuy bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu
4
diệt hẳn; để tiến hành cải tạo xã hội cũ, làm sạch môi trường xã hội và để tổ chức
được một kiểu sản xuất xã hội mới, tăng nhanh năng xuất lao động tạo cơ sở
chiến thắng hoàn toàn xã hội tư bản chủ nghĩa.
Đến đây, chúng ta thấy sự trung thành và kế thừa sáng tạo, tư tưởng về
chuyên chính vô sản của C.Mác - Ph.Ăngghen, tư tưởng đó tiếp tục được
VI.Lênin bảo vệ và phát triển một cách toàn diện, từ tính chất, chức năng, nhiệm
vụ, hình thức và cả những yêu cầu cần thiết để duy trì và tăng cường nền chuyên
chính vô sản của giai cấp công nhân trong giai đoạn giai cấp công nhân trở
thành giai cấp cầm quyền, tiến hành xây dựng một xã hội mới. VI.Lênin còn chỉ
rõ là, sự lãnh đạo của Đảng là điều cốt yếu trong nền chuyên chính vô sản.
Không có sự lãnh đạo của Đảng thì không giữ vững được bản chất của nền
chuyên chính vô sản, không thực hiện được thắng lợi của sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân.
Công lao của VI.Lênin không chỉ ở việc phát triển tư tưởng về chuyên chính vô
sản của C.Mác - Ph.Ăngghen lên đến hoàn thiện, mà người đã lãnh đạo giai cấp công
nhân và nhân dân lao động Nga thực hiện thành công cách mạng Tháng Mười, thiết
lập nên một nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên, vạch ra cho Đảng cộng sản và
nghiệp và nông nghiệp, điều trước tiên phải làm là điện khí hóa; Lênin nhấn
mạnh: “chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn
quốc”. Từ cuối những năm 1920, tư tưởng điện khí hóa của Lênin bắt đầu được
thực hiện và từng bước thu được thắng lợi quan trọng.
Trong kế hoạch xây dựng kinh tế, Lênin chú trọng đến việc cần phải áp dụng
triệt để những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh
đó vấn đề tổ chức, quản lý lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra
năng suất lao động cao của chủ nghĩa xã hội. Lênin chỉ rõ: chủ nghĩa xã hội chỉ có
thể chiến thắng chủ nghĩa tư bản khi đưa ra một kiểu tổ chức sản xuất xã hội có
năng xuất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản.
Như vậy, cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội của Lênin, cả trong thời kỳ
“chính sách kinh tế mới” là sự thống nhất và phát triển những tư tưởng về xây dựng
kinh tế của chủ nghĩa xã hội được Người vạch ra từ mùa xuân năm 1918. những tư
tưởng ấy góp phần làm phong phú và sâu sắc hơn những tư tưởng lý luận của chủ
nghĩa xã hội khoa học trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.
1.3. Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
6
Phát triển lý luận thời kỳ quá độ của C.Mác - Ph.Ănghen, trong tác phẩm
“Nhà nước và cách mạng”, Lênin cho rằng: trong hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa bao gồm thời kỳ quá độ, giai đoạn thấp - chủ nghĩa xã hội và giai
đoạn phát triển cao là chủ nghĩa cộng sản.
Đặc biệt, Lênin còn chỉ rõ trong tiến trình phát triển của lịch sử, nhân loại
có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế xã hội để xây dựng một hình thái kinh tế
- xã hội mới phù hợp với những điều kiện lịch sử cho phép. Trong thời đại ngày
nay, theo Lênin, vấn đề bỏ qua sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội ở các nước chậm phát triển là vấn đề hợp quy luật phát triển
của lịch sử.
Mặt khác, Lênin nhấn mạnh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cuộc
đường cách mạng, thúc đẩy sự phát triển cách mạng trong giai đoạn mới.
Sau cách mạng tháng mười Nga năm 1917, phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa xã hội hiện thực từ một nước đã
phát triển trở thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã có những đóng góp to
lớn trong thủ tiêu chủ nghĩa phát xít, giữ gìn hòa bình thế giới. Cho đến những
năm 70 - 80 của thế kỷ XX, sự phát triển của chủ nghĩa xã hội có dấu hiệu
chững lại, các nước xã hội chủ nghĩa bắt tay vào công cuộc cải tổ, cải cách, đổi
mới nhằm đưa chủ nghĩa xã hội hiện thực thoát khỏi khủng hoảng. nhưng do sai
lầm chủ quan của các Đảng cộng sản, sự phản bội của những người đứng đầu,
cùng với sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc bằng chiến lược “diễn biến hòa
bình” mô hình chủ nghĩa xã hội “cứng nhắc”, thiếu sức sống sụp đổ, hệ thống
các nước xã hội chủ nghĩa tan rã vào những năm 90 của thế kỷ XX. Các nước xã
hội chủ nghĩa còn lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản kiên trì lý luận chủ
nghĩa xã hội khoa học, tiến hành cải cách, đổi mới trên nền tảng, nguyên tắc của
chủ nghĩa Mác - Lênin vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước mình đã
thu được thành công bước đầu. Thành công đó vừa cổ vũ, vừa đáp ứng được kỳ
vọng của phong trào cộng sản - công nhân quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa
bình, tiến bộ trên thế giới trên con đường vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thông qua công cuộc cải cách, đổi mới Đảng cộng sản trung Quốc và Đảng
cộng sản Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng phát triển lý luận chủ
nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn lịch sử mới.
3. Phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng cộng sản việt Nam.
8
Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn,
đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế
quốc, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền của đất nước, vì tự do, hạnh
phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.
được trả lời rõ ràng vì lý do là sự nghiệp đổi mới của chúng ta cần có thời gian
để thử nghiệm, tổng kết thực tiễn, tìm tòi phát triển lý luận. Đảng ta phải tự trả
lời cho vấn đề thế nào là một chế độ xã hội đã được đổi mới. Đó cũng là một
vấn đề chung cho cả phong trào cách mạng thế giới và chúng ta phải trả lời vấn
đề về con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
3.1. Mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sự phát triển đúng quy luật
chung và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và
nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng
đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như:
đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn
trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân,
không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ;
đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp
quyền với nhà nước tư sản…
Cho đến nay, Đảng đã nhận thức rằng: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân
dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao,
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng
cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Mô hình chủ nghĩa xã hội nêu trên thể hiện quan điểm Mác - Lê-nin về chủ
nghĩa xã hội. Một mặt, lấy phục vụ con người làm mục đích, tức là "tất cả vì con
10
12
cần hiểu để có thể bình tĩnh hơn, tránh ngộ nhận ta đã có chủ nghĩa xã hội rồi,
hoang mang không tự giải thích được nghịch lý đang tồn tại, dẫn đến bi quan.
3.3. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Đảng chủ tương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo, là thành quả lý luận quan trọng qua
hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp
thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu kinh tế thị trường mới
trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa
tuân theo những quy luật của cơ chế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên
cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây không phải là nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa (vì mục đích của ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội), và
cũng chưa phải là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (vì ta còn đang trong thời
kỳ quá độ).
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo
pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước
pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó,
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố
và phát triển; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh
tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển;
kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính
và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm
mỹ ngày càng cao. Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển;
phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là
14
quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là
tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào
lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến
bộ, văn minh.
3.5. Về xã hội:
Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn,
dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã
hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó
cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng
xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi
ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật và hoạt động của Nhà nước
đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của
chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền
lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng
Việt Nam.
3.6. Về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta. Xây dựng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một
nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam
điểm “đảng toàn dân” mà chính là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của
Đảng một cách sâu sắc hơn, nhuần nhuyễn hơn. Nó đòi hỏi Đảng ta chẳng
những phải trung thành với giai cấp công nhân, nâng cao lập trường, tư tưởng
của giai cấp công nhân, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân phấn đấu vì lợi ích của
cả giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng
của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, Đảng ta luôn luôn kiên
định, kiên trì, đồng thời yêu cầu phải vận dụng sáng tạo, có bổ sung, phát triển
cho phù hợp với thực tiễn, góp phần làm phong phú và ngày càng hoàn thiện
16
hơn. Đảng cũng đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc giá trị to lớn và nội dung toàn
diện của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tại Đại hội IX, Đảng ta đã tổng kết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho
cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của
Đảng và dân tộc ta”.
Để phát triển và nâng cao năng lực lãnh đạo đáp ứng nhiệm vụ trong tình
hình mới, Đảng đã bổ sung, phát triển và từng bước làm sáng tỏ lý luận về vai
trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà
nước pháp quyền, mở cửa hội nhập quốc tế; làm rõ hơn trách nhiệm của đảng
cầm quyền trong việc nghiên cứu, tìm tòi mô hình và con đường, bước đi xây
dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với quy luật khách quan. Đã nhận thức sâu sắc
hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới, coi xây
liêu, xa rời quần chúng.
Song song với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chúng ta phải luôn
luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng chống âm mưu chống phá của chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ngày đêm rắp tâm phá hoại những thành
quả của chúng ta đã dành được với nhiều âm mưu thủ đoạn. Trong đó, chúng sử
dụng chiến lược “Diễn biến hoà bình” như một liều thuốc độc ngấm dần vào cơ
thể xã hội chủ nghĩa hòng bóp chết nó khi còn đang từng bước trưởng thành.
“Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược
tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Chủ nghĩa đế quốc
đứng đầu là Mỹ đã và đang sử dụng mọi lực lượng, phương tiện để thực hiện
âm mưu “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội nói chung và chống Việt
Nam nói riêng. Trong đó chúng hết sức chú ý phát hiện, khai thác các nhân tố,
điều kiện thuận lợi để thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với Việt
Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác.
Chiến lược "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch mang nặng bản
chất phản cách mạng, chống cộng sâu sắc. "diễn biến hoà bình" là con đường
mới, con đường “êm ấm” giúp cho chủ nghĩa tư bản thực hiện âm mưu tiêu diệt
chủ nghĩa cộng sản, mà lực lượng tiên phong của nó là Đảng cộng sản đang nắm
chính quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng không muốn khoanh tay nhìn
18
một lực lượng tiến bộ, đại diện cho đại đa số nhân dân lao động xây dựng một xã
hội tiến bộ hơn, đe doạ sự tồn vong của chính chúng. Tiêu diệt cộng sản là mục
tiêu không thay đổi của chúng kể từ khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc.
"Diễn biến hoà bình" là phương thức mới giúp chúng thực hiện mục tiêu đó.
Đối với Việt Nam, trong những năm qua, chiến lược "Diễn biến hoà bình"
đã có những thay đổi quan trọng, nó không còn theo nguyên nghĩa - chỉ là những
tác động về tư tưởng, lý luận như phê phán mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ,
phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin… (thời kỳ từ giữa những năm 80 đến đầu những
trong từng chính sách phát triển…
Các thế lực thù địch luôn xác định, bằng mọi giá phải thay đổi thể chế
chính trị của Việt Nam. Vì vậy, một số thế lực của phương Tây chủ trương dùng
tài trợ, cố vấn, chuyên gia tác động gián tiếp, trực tiếp đến các chương trình
chiến lược của Việt Nam, thông qua các định chế quốc tế, thông qua lực lượng
“dân chủ”, “cải cách” ở nước ta để tác động “chuyển hóa”, làm chệch đường lối,
chính sách, pháp luật Việt Nam. Theo đó, họ cho rằng, vấn đề quan trọng hàng
đầu để “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam là “làm triệt tiêu các giá trị
làm nên chế độ cộng sản”. Với mục tiêu này, một số chiến lược gia của phương
Tây tăng cường đẩy mạnh hợp tác toàn diện với Việt Nam, thực hiện “ba bước
tiến” trên lộ trình phát triển toàn diện với Việt Nam:
Thứ nhất, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của nước ta vào nền kinh
tế khu vực và thế giới, từ đó đẩy mạnh nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở
Việt Nam, làm cho nền kinh tế nước ta chệch hướng xã hội chủ nghĩa, làm suy
yếu vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thứ hai, hình thành “xã hội dân sự” ở Việt Nam, tạo môi trường và cơ hội
để cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện công khai, gây rối loạn xã hội Việt
Nam, làm cho Đảng, Nhà nước ta không kiểm soát được tình hình, buộc Đảng,
Nhà nước ta phải chấp nhận “dân chủ” hoặc tan vỡ do đột biến chính trị - xã hội.
Thứ ba, thực hiện “dân chủ hóa” chính quyền, từng bước cô lập, tách các
tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, nhằm gây áp lực đối với Đảng ta.
Nhìn chung, “lộ trình” trên đã được một số thế lực ở phương Tây thực hiện ở
“bước hai”, và họ khẳng định rằng, chỉ có đi vào Việt Nam, làm ăn với Việt
20
Nam thì mới có điều kiện, môi trường, cơ hội để thực hiện “diễn biến hòa bình”.
Đây là một trong những âm mưu, thủ đoạn mới rất tinh vi, thâm độc, chúng ta
không thể xem thường.
Trước sự chống phá điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta bằng mọi
chiến lược có ý nghĩa lịch sử trọng đại đó, quân đội ta phải được nâng cao hơn
nữa bản chất giai cấp công nhân của mình. Ngày nay muốn nâng cao bản chất
giai cấp công nhân thì phải nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của cán
bộ, chiến sỹ quân đội ta một cách toàn diện và sâu sắc, nâng cao trình độ giác
ngộ về chủ nghĩa Mác - Leenin, thế giới quan khoa học và niềm tin cộng sản chủ
nghĩa, bồi dưỡng những phẩm chất toàn diện của con người mới xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
KẾT LUẬN
Tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, chịu sự quy định của đời sống vật
chất xã hội, của tồn tại xã hội, trước hết là sự phát triển kinh tế - xã hội, của cơ
cấu xã hội - giai cấp của các quan hệ chính trị và trình độ dân trí của xã hội
trong một thời đại, một giai đoạn lịch sử nhất định. Chủ nghĩa xã hội khoa học
vốn mang trong mình bản chất cách mạng, khoa học và tính nhân văn cao cả là
hệ tư tưởng, vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân trong quá trình thực
hiện sứ mệnh lịch sử cao cả của mình: lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa; xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Trong quá trình đó, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế luôn đòi hỏi phải
tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học đáp ứng với mỗi
giai đoạn lịch sử, đó là nhu cầu tự thân của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cách mạng lâu dài,
gian khổ, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến
tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là
cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự
giác, liên tục, hướng đích lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Những khó khăn gian
22
khổ càng tăng lên sau khi sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, so sánh
lực lượng cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi thế giới thay đổi tạm thời bất
24