HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
*
BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài khoa học cấp bộ năm 2009
Mã số: B.09-04 CÁI PHỔ BIẾN VÀ CÁI ĐẶC THÙ VỀ CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Cơ quan chủ trì: Viện Chính trị học
Chủ nghiệm đề tài: PGS TS Nguyễn Hữu Đổng
Thư ký khoa học: Ths Phạm Thế Lực
7944
HÀ NỘI 2010
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
*
và cái đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
12
1.2. Các nguyên lý, quan điểm có giá trị bền v
ững của các nhà kinh điển
Mác-Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
35
1.3.Những luận điểm có tính sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
49
1.4.Lý luận và thực tiễn vận dụng cái phổ biến và cái đặc thù trong định
hướng và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một số nước trên th
ế giới
60
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG CÁI PHỔ BIẾN VÀ CÁI ĐẶC THÙ
TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM – THỰC
TRẠNG VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
82
2.1.Một số nội dung chủ yếu của sự vận dụng và phát triển các nguyên lý,
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
82
2.2.Một số thành tựu và hạn ch
ế chủ yếu của việc vận dụng cái phổ biến
và cái đặc thù trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
96
2.3. Một số bài học kinh nghiệm từ sự vận dụng cái phổ biến và cái đặc
thù trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
145
chung và cái riêng, cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lỗi thời trong quá trình
xây dựng CNXH ở mỗi nước. Về mặt lý luận, đó là mối quan hệ giữa xu hướng
thời đại và con đường phát triển của dân tộc. Giải quyết mối quan hệ ấy là vấn
đề khoa học và nghệ thuật chính trị của đảng cộng sản cầm quyền ở mỗi nước.
Ở Vi
ệt Nam, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, con đường đi
lên CNXH ngày càng được xác định rõ hơn. Quan niệm về CNXH đã được bổ
sung, phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn đất nước, của CNXH trên
thế giới và của thời đại. Ðiều đó cũng là đương nhiên, phản ánh quá trình phát
triển của thực tiễn và nhận thức. Cho đến nay, kế thừa Cươ
ng lĩnh của Đảng
năm 1991, qua tổng kết 20 năm đổi mới, có thể khẳng định rằng: "Xã hội xã hội
chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công
bằng, dân chủ, văn minh. Ðó là xã hội: 1. Do nhân dân làm chủ; 2. Có nền kinh
tế phát triển cao, bền vững với một hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp; 3. Có
nền văn hóa tiên tiến, đậ
m đà bản sắc dân tộc; 4. Con người có cuộc sống ấm
no, tự do hạnh phúc, được phát triển toàn diện; 5. Các dân tộc trong cộng đồng
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; 6. Có Nhà nước
2
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Ðảng
Cộng sản lãnh đạo; 7. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước
trên thế giới".
Những nội dung nêu trên có thể coi là những đặc điểm của CNXH mà
chúng ta đang xây dựng. Trong quá trình thực hiện những nội dung đó, chúng ta
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt: kinh tế tăng trưởng liên tục vớ
i
mức khá cao, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và phát
huy, vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố, nhà nước pháp
Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về lý luận CNXH nói chung và
thự
c tiễn xây dựng chủ xã hội nói riêng, đặc biệt là quá trình xây dựng CNXH ở
Việt Nam hiện nay, có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nếu không làm rõ được tính
phổ biến của con đường đi lên CNXH thì quá trình xây dựng CNXH dễ bị dao
động, lung lay về niềm tin, dẫn đến xây dựng CNXH sẽ bị mất phương hướng,
chệch hướng; còn nếu không xác định rõ được tính đặc thù của con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam thì quá trình xây dựng CNXH d
ễ mắc phải căn bệnh chủ
quan duy ý chí, thiếu sự sáng tạo, sẽ bị rơi vào giáo điều, dập khuôn, máy móc.
Hơn nữa, việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp chúng ta làm rõ hơn những
định hướng mang tính chiến lược trong quá trình xây dựng và phát triển đất
nước trong giai đoạn mới mà còn giúp xác định được rõ trọng tâm, trọng điểm
những bước đi cụ thể cho mỗi giai đ
oạn, mỗi lĩnh vực trong quá trình xây dựng
CNXH, kế thừa được những giá trị tiến bộ của nhân loại và phát huy những giá
trị dân tộc, sức mạnh nội lực cho quá trình phát triển.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới: Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về CNXH trên
thế giới đang được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau, với sự đa dạng, phong phú
trong cách tiếp cận vấn đề, nhưng cơ bản tập trung vào hai mảng lớn. Mảng thứ
nhất, chủ yếu được tiếp cận từ góc độ kinh tế và chính trị, đề cập đến sự xụp đổ
của CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, phân tích những nguyên nhân
khủng hoảng, nguyên nhân cải tổ, cải cách thất bại và những bài học kinh
nghiệm được rút ra từ sự xụp
đổ này. Các nghiên cứu này đã chỉ ra những
khuyết tật của mô hình CNXH được xây dựng trên cơ sở lý luận sai lầm đã kéo
dài không được khắc phục là nguyên nhân sâu xa của sự khủng hoảng và dẫn
4
như: triết học, kinh tế chính trị học, CNXH khoa học, chính trị học, luật học, thậm
chí những công trình nghiên cứu mang tính liên ngành đang trở nên phổ biến.
5
Nghiên cứu về CNXH nói chung, các công trình đã phân tích cơ sở lý
luận cho sự ra đời, bản chất, đặc trưng của CNXH, quá trình hình thành, phát
triển cũng như những khủng hoảng, đổ vỡ của CNXH hiện thực, từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm cho quá trình xây dựng CNXH và dự báo về sự phát
triển của CNXH trong tương lai. Các công trình này có thể kể đến: Chẳng hạn,
cuốn Góp phần vào việc đổi m
ới nhận thức về CNXH của Phạm Như Cương, Lê
Cao Đoàn, Nxb KHXH, 1992; Chương trình khoa học - công nghệ KX - 01, đề
tài KX.01.03 “Đánh giá CNXH hiện thực hơn 7 thập kỷ qua - Nguồn gốc,
nguyên nhân khủng hoảng và sụp đổ Liên Xô và các nước Đông Âu” do GS Trần
Nhâm chủ nhiệm 1996; Đề tài KX.08.09 “Triển vọng của CNXH trong hai thập
niên đầu thế kỷ XXI” do GS.TS Nguyễn Ngọc Long làm chủ nhiệm; cuốn Chủ
nghĩa xã h
ội: Từ lý luận đến thực tiễn - Những bài học kinh nghiệm chủ yếu do
Lê Hữu Tầng (Chủ biên), Nxb CTQG, H, 2003; CNCS ngày nay, những nét mới
từ thực tiễn Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản của Đỗ Lộc Diệp, Nxb KHXH, 2002; Cải
cách thể chế chính trị ở Trung Quốc (1978 – 2003) của Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), Nxb
KHXH, 2003; Trung Quốc cải cách mở cửa – Những bài học kinh nghiệm của
Nguyễ
n Văn Hồng, Nxb Thế giới, 2003; Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI,
Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Nxb CTQG, H, 2002…
Nghiên cứu về mô hình CNXH và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam
luôn là vấn đề giành được nhiều ưu tiên cả về tiền bạc, thời gian và lực lượng các
nhà khoa học tham gia nghiên cứu. Trong đó, có những công trình đi sâu phân
tích những vấn đề lý luận chung về CNXH, quy luật vận động của lịch sử
nhân
chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; giải quyết như thế nào cho hợp lý
giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; vấn đề cải cách h
ệ thống
chính trị, mở rộng dân chủ; xây dựng Đảng và xây dựng nhà nước pháp quyền
trong điều kiện mới; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; vấn đề xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,… Ngoài ra, các công trình tiêu biểu về
những vấn đề này còn có thể kể đến: cuốn Đổi mới: Bước phát triển tất yếu đi
lên CNXH ở Việt Nam củ
a Nguyễn Khánh, Nxb CTQG, 1999; Đề tài KX 04.01
Cơ sở thực tiễn về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân do
GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm; Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới của
GS Trần Nhâm, Nxb CTQG, 2004; Việt Nam 20 năm đổi mới của Nxb Chính trị
Quốc gia, 2007; Đổi mới và phát triển ở Việt Nam-Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn do GS,TS Nguyễn Phú Trọng chủ biên, NXB CTQG, 2008; Tính ph
ổ biến
7
và tính đặc thù trong phát triển KTTT do Phạm Văn Dũng làm chủ biên, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 2009;…,
Bên cạnh đó, một số công trình khác lại tập trung vào việc phân tích thời cơ
và thách thức đối với sự phát triển của CNXH ở Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa, từ đó chỉ ra những mâu thuẫn trong quá trình phát triển cũng như đưa ra
những khuyến nghị cũng như những dự báo về
xu hướng vận động của CNXH ở
Việt Nam. Chẳng hạn như cuốn: Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và
cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng XHCN của
Phạm Ngọc Quang, Nxb CTQG, H, 2001; Tác động nhiều mặt của toàn cầu hóa
đến công cuộc phát triển của nước ta, Hội đồng lý luận Trung ương, H, 2002;
Động lực phát triển kinh tế - xã hộ
i – văn hóa của Việt Nam (Việt Nam có thể trở
CNXH khoa học, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2007
6. Hoàng Chí Bảo, Một số luận đề về định hướng XHCN và đổi mới hệ thống
chính trị ở Việt Nam, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2006
7. Nguyễn Văn Sáu, Nhận thứ
c về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2006
8. Phạm Ngọc Quang, Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay: Nhìn từ giác độ
của mâu thuẫn trong quá trình phát triển, Tạp chí Triết học
9. Năm bài học lớn từ thực tiễn đổi mới, Tô Huy Rứa, báo Nhân dân ngày
22/6/2006
10. Lê Hữu Nghĩa, Đại hội X của Đảng với nhận thức về con đường
đi lên CNXH
ở nước ta, báo Nhân dân ngày 29/6/2006
11. Nguyễn Trọng Phúc, Một số kinh nghiệm xây dựng CNXH trong những năm
đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12/2006
12. Hoàng Chí Bảo, CNXH đổi mới để phát triển trong bối cảnh thế giới đương đại
ở hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 6/2005
13. Về con đường và bước đi của công cuộc xây dựng CNXH, T
ạp chí Lý luận
chính trị, số 8/2008, tr 16
Có thể thấy, các công trình trên đã trình bày hệ thống quan điểm lý luận về
CNXH và ít nhiều đã nêu được những nét cơ bản về con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam, chỉ ra được những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 20 năm đổi mới và
9
những vấn đề đặt ra, đồng thời cũng đã làm rõ được những hạn chế, thách thức mà
Việt Nam đang gặp phải trong giai đoạn tiếp theo của quá trình xây dựng CNXH.
Tuy nhiên, còn quá ít các công trình trình bày được rõ ràng và có hệ thống
về tính phổ biến và tính đặc thù của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Nhiều
10
- Phân tích, làm rõ một số nội dung, thực trạng vận dụng cái phổ biến và đặc
thù trong xây dựng CNXH ở Việt Nam.
- Đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục vận dụng cái phổ
biến và đặc thù trong xây dựng CNXH ở Việt Nam những thập niên đầu của Thế
kỷ XXI.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận củ
a chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa và dự
báo. Các phương pháp này cho phép đi sâu phân tích quá trình hình thành, phát
triển của CNXH trong sự chi phối bởi những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể,
từ đó rút ra những vấn đề mang tính bản chất nhất về CNXH và dự báo xu
hướng vận động của CNXH Vi
ệt Nam .
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: cho phép so sánh với tính chất, quy
mô, cơ cấu, mô hình CNXH khác nhau…Từ đó rút ra những đặc điểm chung,
phổ biến và đặc thù, tìm kiếm những giá trị tham khảo cho nghiên cứu vấn đề
xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Phương pháp phân tích cấu trúc hệ thống và mô hình hóa. Phương pháp
này cho phép phân tích những kết cấu, cấu trúc của mỗi mô hình CNXH trong
mối quan hệ với tổng thể, từ đó tìm ra nhữ
ng bộ phận, những yếu tố mang tính
cơ bản chi phối sự phát triển của toàn bộ hệ thống.
- Một số phương pháp liên ngành và chuyên ngành khác như khoa học
chính trị, khoa học kinh tế, khoa học pháp lý,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp một cách hệ thống và khái quát
những vấn đề cơ bản nhất về CNXH, làm sáng tỏ h
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÁI PHỔ BIẾN
VÀ CÁI ĐẶC THÙ CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ CÁI PHỔ
BIẾN VÀ ĐẶC THÙ CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm cái phổ biến, cái đặc thù và mối quan hệ giữa chúng
Cái phổ biến, cái đặc thù là những phạm trù tương đồng v
ới các phạm trù
cái chung, cái riêng và đã được bàn đến rất nhiều trong các công trình triết học.
Trong đó, cái phổ biến được trình bày với hàm nghĩa là cái chung, nhưng là cái
chung có tính chất phổ quát, và cái đặc thù được trình bày với hàm nghĩa là cái
riêng, nhưng là cái riêng có tính đơn nhất. Ngày nay, nhận thức về nội dung
cũng như mối quan hệ giữa các phạm trù này là tương đối thống nhất. Chính vì
vậy, để có cơ sở hiểu rõ thêm về những nội dung củ
a đề tài, phần này xin nêu lại
một số nội dung cơ bản của phạm trù cái chung (cái phổ biến) và cái riêng (cái
đặc thù) cũng như mối quan hệ giữa chúng đã được bàn đến trong nhiều công
trình triết học.
Trong tư duy triết học mác-xít, mỗi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất
giữa cái đơn nhất, cái đặc thù và cái phổ biến. Các phạm trù này luôn gắn liền
với cặp phạ
m trù cái chung và cái riêng. Biện chứng giữa chúng biểu thị biện
chứng của quá trình vận động, phát triển của hiện thực.
Phạm trù cái riêng được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá
trình riêng biệt. Cái riêng là một chỉnh thể có tính toàn vẹn, tính độc lập tương
đối. Mỗi cái riêng đều là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm nhiều mặt, nhiều
yếu tố, nhiều thu
ộc tính cấu thành nên. Những yếu tố tạo nên cái riêng có mức
độ phổ biến khác nhau: Có những yếu tố riêng có của nó, không có sự lặp lại ở
những đối tượng khác; có những yếu tố có sự lặp lại nhiều lần ở một số đối
chung, quy luật phổ biến. Tuy nhiên, cái riêng không gia nhập hết vào cái
chung. Mỗi cái riêng còn chứa đựng cái đặc thù, đơn nhất. Quá trình phát triển
của mỗi cái riêng còn chịu sự tác động bởi những quy luật đặc thù, riêng có của
nó do nó còn chịu ảnh h
ưởng bởi những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mình. Vì
vậy, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, con người cần biết vận dụng cái
chung, cái phổ biến vào từng trường hợp cụ thể nhưng đồng thời phải biết cá
biệt hóa chúng, tránh thái độ trừu tượng, chung chung hay dập khuôn, máy móc,
giáo điều. Cái là đúng đắn, phù hợp với giai đoạn cụ thể này, ở
thời điểm cụ thể
này có thể không còn đúng đắn, phù hợp với một giai đoạn khác, ở một thời
14
điểm khác và ngược lại. Cho nên không được phép áp đặt một cách tùy tiện, chủ
quan cái của sự vật hiện tượng này cho một sự vật, hiện tượng khác.
Vạch rõ mối liên hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và
cái đặc thù, Lênin viết: “Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái
chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bất cứ cái riêng
nào cũng là cái chung. Bất cứ cái chung nào cũng là (một bộ
phận, một khía
cạnh, hay một bản chất) của cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát
một cách khái quát tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia
nhập đầy đủ vào cái chung”
1
.
Trong quá trình vận động, phát triển của hiện thực, cái phổ biến và cái đặc
thù luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau. Thông qua cái đặc thù để cái đơn nhất
chuyển hóa dần dần thành cái phổ biến và ngược lại, cũng thông qua cái đặc thù
mà cái phổ biến có thể chuyển hóa thành cái đơn nhất. Sự chuyển hóa này gắn
với quá trình hình thành cái mới và quá trình cái cũ mất đi. Cái mới khi mới xuất
lịch sử cụ thể khác nhau. Ở đây chúng ta hiểu rằng, quy luật phổ biến có thể phát
sinh tác dụng thông qua những quy luật đặc thù nhưng không phải quy luật đặc
thù nào cũng là hình thức biểu hiện của quy lu
ật phổ biến tương ứng.
Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”, “cái phổ biến”
và “cái đặc thù”, các bài học đã được tổng kết dưới đây có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Nó được coi là “kim chỉ nam” trong hành động thực tiễn khi giải quyết
bất cứ mối quan hệ nào giữa “cái chung” và “cái riêng”, “cái phổ biến” và “cái
đặc thù”
1
:
Bài học thứ nhất, vì “cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua
“cái riêng” nên chỉ có thể tìm “cái chung” trong “cái riêng” chứ không thể ở
ngoài “cái riêng”. Để phát hiện “cái chung” cần xuất phát từ những “cái riêng”,
từ những sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ
ý muốn chủ quan của con người.
Bài học thứ hai, vì “cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng” như một bộ
phận của “cái riêng”, bộ ph
ận đó tác động qua lại với những bộ phận, những yếu
tố còn lại của “cái riêng” – những cái không gia nhập vào “cái chung” – nên bất
cứ “cái chung” nào cũng tồn tại trong “cái riêng” dưới dạng đã bị cải biến. Từ
đó, một kết luận được rút ra là bất cứ “cái chung” nào khi áp dụng vào từng
trường hợp riêng cũng cần được cá biệt hóa. Nếu không chú ý tới sự cá biệt hóa
đó, đem áp dụng nguyên xi “cái chung”, tuy
ệt đối hóa “cái chung”, thì sẽ rơi vào 1
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1999, tr. 244 – 245; Học viện Chính trị Quốc
cái đơn nhất có ý nghĩa quan trọng như vậy nên trong quá trình nhận thức và
hành độ
ng, người ta không những phải nắm vững cái mới, mặc dù nó chỉ là cái
đơn nhất, mà còn phải nắm vững cả những điều kiện đáp ứng cho nhu cầu tồn tại
và phát triển của những cái mới, để chủ động tạo ra những điều kiện đó nhằm
thúc đẩy sự hình thành cái mới nhanh chóng hơn và ngược lại.
17
Bài học thứ năm, như đã đề cập, “cái đơn nhất” là phạm trù phản ánh
những nét đặc trưng riêng có của một sự vật, quy định tính chất cụ thể của sự vật
đó. Không nắm vững những nét đặc trưng đó thì chủ thể nhận thức không thể
hiểu đối tượng một cách đầy đủ như một chỉnh thể hiệ
n thực. Chính vì vậy, để
nhận thức sâu sắc, thấu đáo một đối tượng nào đó, người ta không thể thỏa mãn
và dừng lại ở những mặt hay thuộc tính chung , cho dù những mặt hay thuộc
tính đó quy định bản chất của đối tượng, trái lại còn cần phải nắm vững cả
những nét đặc trưng riêng có như là yếu tố “đơn nhất”. Chẳng hạn, để hi
ểu sâu
sắc về CNTB Nhật Bản thì không thể dừng lại ở những thuộc tính chung của
CNTB hiện đại mà phải hiểu cả những yếu tố riêng có của CNTB Nhật Bản.
Một số khái niệm, nội dung chủ yếu và những bài học đã được tổng kết nêu
trên về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù và
cái đơn nhất là những nền tảng quan trọ
ng trong phương pháp tiếp cận của đề
tài. Nó chính là công cụ, là phương tiện để giúp cho việc thực hiện đề tài này.
1.1.2 Mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù về con đường đi lên CNXH
Từ những khái niệm và mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù đã nêu
ở trên, có thể hiểu cái phổ biến về con đường đi lên CNXH đó là những nguyên
lý, những quan điểm có tính bền vững của ch
ủ nghĩa Mác-Lênin trong định
CNXH hiện thực, cụ thể đều là đặc sắc,
đều là sự kết hợp giữa tính phổ biến, bản
chất và hiện thực. Chính vì thế, tính đặc thù và thực tiễn cụ thể của CNXH càng
làm phong phú thêm tính hiện thực trực tiếp, tạo ra mô hình phát triển với hình
thái cụ thể và đa dạng. Có thể khẳng định rằng, các quốc gia, dân tộc khác nhau,
với những truyền thống lịch sử văn hóa và trình độ phát triển văn minh khác
nhau tất yếu phải ti
ến hành cách mạng XHCN với những cách làm khác nhau,
đặc điểm và đặc thù xây dựng đường lối cũng khác nhau. Hơn thế, trong các giai
đoạn của tiến trình phát triển sẽ biểu hiện rõ những đặc trưng và sự khác biệt về
tính giai đoạn.
Mặt thống nhất giữa cụ thể và lịch sử của tính phổ biến và tính đặc thù của
CNXH là nhằm thỏa mãn yêu cầu cơ bản của ch
ế độ XHCN. Kiên định trước
sau như một vấn đề này mới làm cho quy luật phổ biến phát triển xã hội và đặc
điểm tình hình trong nước, tính tất yếu lịch sử và tính chủ động lịch sử của quần
chúng kết hợp tốt được với nhau. Đi ngược yêu cầu cơ bản đó, CNXH sẽ chệch
19
hướng và đi đến thất bại. Vì vậy, để nhận thức đúng đắn và nắm chắc mối quan
hệ thống nhất, biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của CNXH, tất yếu
phải loại bỏ hai khuynh hướng sai lầm dưới đây:
Một là, cường điệu tính phổ biến và coi nhẹ tính đặc thù. Có không ít người
chỉ nhấn mạnh tính phổ biế
n, đến những quy luật chung và xem đó là “phương
thuốc” có thể chữa được “bách bệnh”, coi việc giải quyết được vấn đề này là có
thể giải quyết được tất cả các vấn đề khác, không thấy được tính đặc thù của
CNXH, phiến diện, cường điệu tính phổ biến. Bản thân điều đó đã làm mất đi
tính lý luận khoa học, làm cho nó tự mất đi vai trò chỉ
đạo thực tiễn. Sai lầm này
những chính đảng hoặc nhà nước nào kiên trì kết hợp nguyên lý cơ bản của
CNXH khoa học với tình hình thực tế cụ thể của nước mình, không ngừng phát
triển CNXH khoa học một cách tự giác theo sự biến đổi của thực tiễn, thì công
cuộc xây dựng CNXH sẽ liên tục giành được thắng lợi. Trái lại, một khi coi
CNXH khoa học là giáo điều bất biến, bê nguyên xi những kết luận mà những
người sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã đúc rút được qua phân tích các quốc gia
TBCN vào những nước có nền kinh tế, văn hóa lạc hậu, xa rời thực chất tinh
thần của CNXH khoa học sẽ làm cho CNXH bị trắc trở, tổn thất; hoặc mượn cớ
thời đại và tình hình có biến đổi, nhận định chủ nghĩa Mác đã l
ỗi thời, vứt bỏ
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác cũng sẽ không xây dựng thành công
CNXH.
Tất cả các nước đi lên CNXH, dù có mang những đặc điểm riêng cũng vẫn
phải tuân theo những quy luật chung. Nhưng không thể từ đó mà suy diễn ra cái
riêng, cái đặc thù trong tính đa dạng, chỉ là biểu hiện đơn thuần, một chiều của
cái chung, cái phổ biến. Bởi bản chất củ
a CNXH không phải là một cái gì khác
của tồn tại, mà ngay từ đầu đã là một tồn tại được quy định và sự phát triển của
nó là sự phát triển của tính quy định này…, bởi vì mọi tính quy định đều là sự
thống nhất của cái phổ biến và cái đặc thù. Tình trạng tuyệt đối hóa mô hình
chung, từ đó không chịu tìm tòi những đặc điểm, đặc thù riêng của nước mình đi
lên CNXH cũng có nguyên nhân từ sự
suy diễn sai lệch này. Do đó, hiển nhiên
là hai mặt tác động lẫn nhau, quy định và chế ước lẫn nhau trong mối liên hệ nội
tại hữu cơ. Tính phổ biến (hay như một số tài liệu khác gọi là tính thống nhất)
làm cho CNXH dù biểu hiện phong phú dưới những hình thức khác nhau muôn
màu muôn vẻ, song vẫn liên kết chặt chẽ với nhau; và ngược lại, tính đặc thù
trong sự thể hiện khiến cho CNXH vận động một cách linh hoạ
t, phong phú
những vẫn trên cơ sở tuân theo những quy luật, nguyên lý chung có tính phổ
phụ thuộc nhau hơn, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức và yêu cầu mới đối
với tính phổ biến và tính đặc thù của CNXH. Do vậy, phải không ng
ừng chuẩn
hóa các quy luật chung, những bản chất chung phù hợp với sự biến đổi của thế
giới hiện đại. Nhưng dưới sự tác động sâu rộng và mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức, sự phân công và hợp tác quốc tế ngày
càng tăng lại là môi trường, là mảnh đất thuận lợi cho những biến thể trong sự
phát triển của CNXH n
ảy sinh đến mức xa lạ với những bản chất chung, xa rời
những quy luật chung của sự nghiệp xây dựng CNXH. Do vậy, trong quá trình