1
ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO THỂ HIỆN BẢN
LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, LÀ NHÂN TỐ
CƠ BẢN QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở
NƯỚC TA
Đảng ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt
Nam. Quá trình xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc hoạch định
đường lối cũng như trong tổ chức tổ chức thực hiện đường lối đó. Nét tiêu
biểu trong đường lối chính trị của Đảng là tính độc lập, tự chủ, sáng tạo. Độc
lập tự chủ, sáng tạo không chỉ là truyền thống, mà còn là nét nổi bật thuộc về
bản lĩnh chính trị của Đảng, là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi cho mọi
bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Đường lối chính trị độc lập, tự chủ,
sáng tạo biểu hiện rõ nhất ở những lúc cách mạng gặp khó khăn, trước những
bước ngoặt của lịch sử. Đó là cơ sở bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhờ có tư duy độc lập tự chủ, sáng
tạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có đường lối cách mạng đúng đắn, luôn luôn
quán triệt sâu sắc nền tảng tảng tư tưởng của Đảng, xuất phát từ thực tiễn
khách quan của đất nước để đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp, đưa
sự nghiệp đổi mới vượt qua những khó khăn thử thách, đi đến thắng lợi.
Đường lối độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng được xuất phát từ lý luận chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ yêu cầu khách quan của tình
hình thế giới cũng như thực tiễn cách mạng nước ta. Nhưng một điều không
thể phủ nhận, đó chính là bản lĩnh chính trị, năng lực thiên tài của Đảng ta khi
đứng trước những khó khăn thử thách, trước những bước quanh của lịch sử.
2
. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 6, Tr.522.
3
hoạch định đường lối lãnh đạo, trong phát động phong trào cách mạng, để từ
đó tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc, bất chấp những khó khăn thử thách, bất
chấp sự can thiệp, chi phối từ bên ngoài, đem lại thắng lợi cho cách mạng.
Thực tiễn cách mạng cho thấy, hoàn cảnh luôn thay đổi, nếu Đảng ta không
biết sáng tạo, không đổi mới kịp thời, khi đó sẽ không theo kịp với thời cuộc,
cách mạng sẽ dậm chân tại chỗ, nhưng sáng tạo mà không có cơ sở khoa học
sẽ dẫn đến đi chệch quĩ đạo. Do vậy, tính sáng tạo ở đây đòi hỏi phải đúng
đắn, khoa học, có vậy mới đưa cách mạng phát triển đúng hướng. Đồng thời
phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; chúng ta độc lập trong tư duy, độc lập
trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, không bị lệ thuộc vào bất cứ thế lực nào,
sự can thiệp nào từ bên ngoài, có vậy những quyết sách đưa ra mới đúng đắn,
kịp thời.
Thực tiễn trong suốt 78 năm qua, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc
lập tự chủ, sáng tạo, để có đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng đi
đến thắng lợi. Sự sáng tạo của Đảng được thể hiện ngay trong qui luật ra đời
của Đảng, đó là sự kết hợp không chỉ có chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào
công nhân và mà còn thêm một yếu tố là phong trào yêu nước. Trong cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhờ có đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo,
mà Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã có Cương lĩnh, đường lối cách mạng
đúng đắn, đưa cách mạng phát triển vào trào lưu tiến bộ nhất của nhân loại, để
cách mạng phát triển đúng hướng từ đó về sau. Khi đó, nếu không có tính độc
lập tự chủ, sáng tạo, thì Đảng ta sẽ chấp nhận sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng
sản một cách thụ động. Nhưng nhờ có tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đã
đưa ra Cương lĩnh, đường lối phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó
chính là việc Đảng xác định con đường tiến lên của cách mạng, phải trải qua
có ý kiến lo lắng cho cuộc chiến không cân sức giữa ta và Mỹ; lại có ý kiến
khuyên ta không nên đánh Mỹ “sợ một đám lửa làm cháy cả một cánh rừng”,
nhưng Đảng ta vẫn quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, bởi “Mỹ giàu nhưng
5
không mạnh”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Đáng cho Mỹ cút,
Nguỵ nhào”. Khi đó Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ ta rất lớn về vật chất, tinh
thần, nhưng chúng ta không vì thế mà phụ thuộc vào họ, điều đó chứng tỏ bản
lĩnh kiên định và thể hiện tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta.
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, một lần nữa, tính độc lập, tự chủ,
sáng tạo của Đảng được phát huy. Mặc dù đất nước mới cơ bản hoàn thành
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Bắc, miền Nam tiếp tục
cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhưng Đảng đã độc lập, sáng tạo trong
việc đề ra đường lối đúng đắn, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền
Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Chính sự đúng đắn,
sáng tạo đó đã giúp cho cách mạng Việt Nam phát triển đúng quĩ đạo, đi đến
thắng lợi. Miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhanh chóng đạt được
những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời là hậu
phương lớn chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam, để hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, cả nước thống nhất
đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta do còn
những bỡ ngỡ, lúng túng, nên không tránh khỏi những vấp váp. Đặc biệt cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp không phù hợp, thêm vào đó tư tưởng
chủ quan duy ý chí, thoả mãn với thắng lợi đạt được từ đó làm cho đất nước
rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Trong thời kỳ này nền kinh tế của ta chủ
yếu là sản xuất nhỏ, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Đội ngũ cán
bộ của Đảng trong chiến tranh cơ bản có tinh thần yêu nước, dám hy sinh vì
đúng thực tế hơn nhấn mạnh chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, mệnh lệnh,
làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống. Cho đến đầu những năm 80,
không còn xem kế hoạch hoá là công cụ duy nhất để định hướng phát triển
kinh tế, đã khẳng định sự cần thiết phải kết hợp kế hoạch với thị trường, kết
hợp thị trường có kế hoạch và thị trường không có kế hoạch; có sự nhìn nhận
7
tích cực hơn đối với kinh tế tư nhân; xem tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá
đúng, sai của chính sách kinh tế là năng suất lao động có được nâng cao hay
không, có làm cho sản xuất phát triển và đời sống của nhân dân được cải thiện
hay không.
Tuy đó chỉ là những khám phá ban đầu, nhưng nó có ý nghĩa hết sức
quan trọng, mở ra hướng đi cụ thể, đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Trên
cơ sở thành công của quá trình đổi mới từng phần, tình hình kinh tế- xã hội đã
có bước chuyển biến quan trọng, kinh tế có sự tăng trưởng đáng kể. Tuy
nhiên, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, đất nước chưa ra khỏi
khủng hoảng kinh tế- xã hội, thực tế nảy sinh nhiều khó khăn mới tưởng
chừng khó có thể vượt qua. Hội nghị Trung ương 8 khoá V (năm 1985) đánh
dấu bước đột phá thứ hai bằng chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung
quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật
theo giá thấp; chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh sang cơ chế hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh
doanh. Điểm quan trọng là Hội nghị này đã thừa nhận sản xuất hàng hoá và
những quy luật của sản xuất hàng hoá. Sau Nghị quyết Trung ương 8 chúng ta
tổ chức thực hiện, mắc phải những khuyết điểm, làm cho giá cả tăng nhanh,
lạm phát ở mức độ khó kiểm soát. Hàng loạt nhà máy không có việc làm,
công nhân không có lương, quần chúng một số nơi tỏ ra hoang mang, dao
động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, niềm tin của nhân dân đối với
đổi mới do Đại hội VI khởi xướng, được Nghị quyết Đại hội Đảng VII, các
nghị quyết Trung ương, nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII của
Đảng bổ xung, phát triển.
Thực tiễn cho thấy, từ cuối năm 1988, công cuộc cải tổ, cải cách ở
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ngày càng chao đảo. Việc
thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận sạch trơn quá khứ
cách mạng; chĩa mũi nhọn phê phán vào Đảng Cộng sản, vào có nghĩa Mác -
9
Lênin và tung ra các tư tưởng, quan điểm xa lạ làm cho tình trạng khủng
hoảng ở các nước này ngày càng trầm trọng, xã hội ngày càng hỗn loạn.
Trong bối cảnh đó, tại Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (năm 1989), cùng với
việc tiếp tục bổ sung, phát triển đưa lối đổi mới, Đảng ta đã nêu ra 6 nguyên
tắc đổi mới trong đó nhấn mạnh: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã
hội chủ nghĩa mà là nhận thức đúng hơn và có phương pháp phù hợp hơn để
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; phải giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên
định nguyên tắc tập trung dân chủ, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa
đảng đối lập... Việc khẳng định các nguyên tắc đó đã góp phần ngăn chặn có
hiệu quả những tư tưởng hoang mang dao động; giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Đường lối độc lập, sáng tạo của Đảng trong đổi mới chính là việc
Đảng ta xuất phát từ thực tiễn, nắm vững qui luật khách quan. Đường lối của
Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, được thực tiễn cuộc sống kiểm nghiệm,
khẳng định là đúng đắn. Đường lối đó là kết quả của quá trình Đảng tìm tòi,
khảo nghiệm, tổng kết từ thực tiễn cách mạng, đồng thời tiếp thu có chọn lọc
kinh nghiệm của cách mạng thế giới. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng xác định
hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là: xây dựng thành công chủ nghĩa xã
máy móc, không giáo điều bảo thủ. Điều đó được thể hiện trong những năm
cuối của thế kỷ XX, tình hình thế giới có những chuyển biến mau lẹ. Xu
hướng đối đầu đã được thay thế bằng đối thoại, hoà bình hợp tác đã trở thành
xu thế khá phổ biến trong quan hệ quốc tế. Những thành tựu trong lĩnh vực
khoa học công nghệ đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển, đồng thời đặt
ra cho các nước, các dân tộc muốn phát triển phải biết tranh thủ thời cơ, vận
dụng thành tựu khoa học. Trong bối cảnh đó, tình hình cải cách, cải tổ của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng, thế
giới mất đi lực lượng đối trọng với Mỹ. Chủ nghĩa đế quốc điên cuồng chống
phá cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam, bằng chiến lược “diễn biến
hoà bình”, nhằm làm chuyển hoá dần dần đi đến xoá bỏ hoàn toàn chế độ xã
11
hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trước tình hình đó, Đảng ta đã có sự điều chỉnh
kịp thời, bằng những chủ trương đúng đắn, phù hợp, từ đó đưa sự nghiệp đổi
mới đạt được những thành tựu to lớn, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta còn được thể hiện
trong quá trình đổi mới Đảng đã thực sự tự xây dựng, chỉnh đốn để đổi mới,
kể cả trong tư duy cũng như trong hành động. Tuy nhiên, Đảng luôn quán
triệt quan điểm biện chứng, đó chính là phát triển nhưng có kế thừa, Đảng
không phủ nhận sạch trơn, mà biết kế thừa những thành tựu, những yếu tố
tích cực mà nhân dân ta đã đạt được trong thời gian trước đó. Đồng thời Đảng
cũng không phủ nhận lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, không phủ nhận những
qui luật phổ biến; trái lại, Đảng luôn quán triệt và vận dụng sâu sắc các
nguyên lý, qui luật của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn quá trình đổi mới; nhận
thức ngày càng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, lựa chọn hình thức,
bước đi phù hợp từ đó đem lại thành tựu to lớn cho công cuộc đổi mới ở nước
cho đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước, thận trọng đổi mới chính trị. Bởi
chỉ có như thế chúng ta mới giải quyết được mắt khâu quan trọng nhất của
công cuộc đổi mới, xét đến cùng cơ sở kinh tế là nhân tố quyết định sự ra đời
và tồn tại của một chế độ xã hội. Kinh tế phát triển sẽ bảo đảm chính trị ổn
định, văn hoá, giáo dục phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững, đời
sống nhân dân được cải thiện. Trong đổi mới kinh tế, trước hết tập trung vào
lĩnh vực tư duy kinh tế, sau đến thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, làm thay đổi
toàn bộ những suy nghĩ, những nhận thức trước kia chưa đúng, chưa đầy đủ.
Thay đổi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, bằng cơ chế kế hoạch
hoá, từ đó khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Chính quá trình đổi mới kinh tế thành công, đã có tác động tích cực đối
với việc đổi mới chính trị, đó là sự giữ vững định hướng chính trị trong quá
13
trình đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế là mặt trận đấu tranh giai cấp gay go
quyết liệt, phức tạp nhất, nếu đổi mới kinh tế đạt kết quả sẽ tạo điều kiện cho
đổi mới chính trị thắng lợi. Đồng thời kết hợp với đổi mới kinh tế, đổi mới
chính trị sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho nền kinh tế phát triển đúng hướng, có
hiệu quả. Trong đổi mới chính trị, thể chế chính trị, vai trò của nhà nước có
tác động đến năng lực hiện thực hoá đường lối phát triển kinh tế đất nước.
Trong đổi mới chính trị, Đảng chủ trương tập trung vào việc xây dựng và phát
huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của hệ
thống chính trị. Chính việc giải quyết hài hoà mối quan hệ đổi mới kinh tế với
đổi mới chính trị đã giúp cho nền kinh tế đất nước ta tăng trưởng khá, đời
sống nhân dân không ngừng được cải thiện, chính trị ổn định, quốc phòng và
an ninh được giữ vững.
Đường lối đổi mới độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, là sản phẩm của
phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới.
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba
lĩnh vực...sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy...”. 4 Đồng
thời qua quá trình đổi mới, Đảng đã tổng kết, rút ra được những bài học quý
giá. Điều đó càng thấy rõ trong quá trình đổi mới, Đảng luôn tìm tòi, sáng tạo
tìm ra hướng đi thích hợp nhất cho dân tộc, không lúc nào Đảng bằng lòng
với thành quả đã đạt được trong thời gian qua, mà mong muốn đạt kết quả cao
hơn nữa trong các giai đoạn tiếp theo. Nhìn lại quá trình hình thành và phát
triển đường lối đổi mới của Đảng ta có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, đường lối đổi mới không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả
của cả một quá trình tìm tòi, thể nghiệm; thông qua những trăn trở, đấu trành
gianh gian khổ về tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn kết hợp với vận dụng lý
luận, tạo ra những đột phá quan trọng; đó là quá trình đổi mới từng bước từ
thấp đến cao, từ đổi mới bộ phận, từng mặt đến đổi mới toàn diện.
4
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.14.
15
Hai là, trong quá trình đổi mới, ý kiến, sáng kiến cách làm sáng tạo
của nhân dân các địa phương là cực kỳ quan trọng. Nếu biết lắng nghe, chắt
lọc, tổng kết khái quát thì sẽ có những quyết sách đúng những chủ trương phù
hợp, nhất là vào những thời điểm khó khái hoặc có tính bước ngoặt.
Ba là, đổi mới là một cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, nhiều khi
nó diễn ra ngay trong mỗi con người, trong từng tổ chức. Thành công của
Đảng ta là ở chỗ kiên quyết đổi mới, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám thừa
nhận sai lầm; từ bỏ những cách nghĩ, cách làm không còn phù hợp; kiên quyết
khắc phục tư tưởng bảo thủ, giáo điều; đồng thời không rơi vào cực đoan, nôn
đại. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền
vững, gắn với phát triển con người. Đến năm 2010, tổng sản phẩm trong nước
( GĐP) gấp hơn hai lần so với năm 2000. Trong 5 năm 2006- 2010, mức tăng
trưởng GĐP bình quân đạt 7,5- 8%/ năm, phấn đấu đạt trên 8%/ năm”.6
Tuy nhiên công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo cũng
đang bộc lộ một số vấn đề mới nảy sinh: Việc thành được một khung lý luận
vững chắc về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa rõ
ràng; các bước đi của cả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chưa được
làm rõ; Tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng tăng
trưởng còn thấp; cân đối vĩ mô của nền kinh tế còn thiếu vững chắc; đời sống
nhân dân ở nhiều vùng còn khó khăn; thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa chậm được hình thành đồng bộ, hệ thống thị trường còn bất
cập. Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp và nông thôn sang các ngành nghề
khác còn rất khó khăn; tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp. Chưa có một
quan niệm thống nhất về vấn đề xã hội hoá các hoạt động dịch vụ, về công
bằng và bình đẳng, về sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta; khoảng cách chênh
lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền
xuôi và miền núi đang có xu hướng ngày càng doãng ra. Hiện tượng làm giàu
phi pháp do buôn lậu và tham nhũng vẫn chưa được ngăn chặn và đẩy lùi có
hiệu quả. Công tác xây dựng Đảng chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực
6
. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.76.
17
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phương thức lãnh đạo của Đảng còn
lúng túng, hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò của chính quyền và các đoàn
thể nhân dân. Điều đó đòi hỏi đảng phải kiên định vững vàng, thường xuyên
sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn
định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong
khu vực và trên trường quốc tế ”.7
Hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ
nghĩa đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang hực hiện với nội
dung và yêu cầu mới. Sự nghiệp đó đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế có
nhiều diễn biến phức tạp cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc tính chất chất ngày
càng gay gắt. Trước mắt chiến tranh thế giới ít có khả năng xảy ra. Nhưng
chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, can thiệp quân sự lật đổ diễn ra nhiều
nơi. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh “ diễn
biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ hòng xoá bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO) vừa tạo thời cơ lớn, vừa đặt ra nhiều thách thức gay gắt.
Trước tình hình đó, lại càng đòi hỏi Đảng ta càng phải nêu cao hơn nữa tính
độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối chiến lược. Đòi hỏi:
“Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của
dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, tri thức mới của thời đại,
nâng cao năng lực trí tuệ; phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước; tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ tư duy lý luận, kiên định về nguyên tắc, chiến lược, linh hoạt,
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.185186.
7
19
sáng tạo về sách lược, phương pháp; chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc đổi
kết quả to lớn hơn nữa Đảng phải thường xuyên nêu cao hơn nữa tính độc lập,
tự chủ, sáng tạo của mình. Muốn vậy, Đảng phải thường xuyên phát huy trí
tuệ của toàn Đảng, toàn dân, không độc đoán chuyên quyền, không bao biện
làm thay, thường xuyên đổi mới tư duy, cách làm, sao cho theo kịp với tình
hình phát triển của đất nước, khu vực và trên thế giới.
Trong những năm tới càng đòi hỏi tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường, sáng tạo càng được Đảng phát huy cao hơn nữa, nhằm dự báo chính
xác tình hình, đề ra đường lối đổi mới, chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù
hợp với tình hình thực tiễn cách mạng, xu thế phát triển của quốc tế. Đồng
thời biết kế thừa, phát huy kinh nghiệm, kết quả đã đạt được trong công cuộc
đổi mới vừa qua, đưa sự nghiệp đổi mới đi đến thắng lợi, phấn đấu vì mục
tiêu mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra:“ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
băng, văn minh”, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, sánh vai cùng các
nước tiên tiến trên thế giới”9.
9
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.10.